TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN QUỐC SƠN
HÌNH THÁI ĐÁ TAI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA GIỐNG CÁ LÓC (Channa)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN QUỐC SƠN
HÌNH THÁI ĐÁ TAI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA GIỐNG CÁ LÓC (Channa)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. HÀ PHƯỚC HÙNG
TS. TRẦN ĐẮC ĐỊNH
2011
Luận văn kèm theo đây với tựa đề là “Hình thái đá tai và một số đặc điểm sinh
học của giống cá lóc (Channa)”, do học viên Nguyễn Quốc Sơn thực hiện và báo
cáo đã được Hội đồng chấm luận văn thông qua.
LỜI CẢM TẠ
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Hà Phước Hùng và thầy Trần Đắc
Định đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn. Xin cám
ơn quý thầy cô và cán bộ đang công tác tại Bộ môn Kinh tế và Quản lý nguồn lợi
thủy sản thuộc Khoa thủy sản, trường Đại học Cần Thơ đã giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình làm luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn đến toàn thể quý thầy cô của khoa Thuỷ Sản trường
Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những bài học quý báu trong những ngày học tập tại
trường.
này cho thấy số mẫu cá thu được có sự phát triển về khối lượng hơn chiều dài.
Sự phát triển tuyến sinh dục của cá dầy đã được nghiên cứu. Hệ số CF của cá Dầy
trong thời gian nghiên cứu dao động từ 0,00288 – 0,0463. CF cao nhất vào tháng 6
(0,0463) và thấp nhất vào tháng. Kết quả khảo sát sự phát triển tuyến sinh dục của
cá dầy (Channa lucius)(Cuvier, 1931) cho thấy: Hệ số thành thục GSI cao nhất vào
tháng 6 (2,1%), Các kết quả cho thấy mùa vụ sinh sản tập trung của cá dầy vào
tháng 4 đến tháng 7 trong năm. Sức sinh sản tuyệt đối của cá dao động từ 3.451 đến
7.886 trứng/cá cái và sức sinh sản tương đối từ 9.251 đến 34.971 trứng/kg cá cái.
Từ khóa: Channidae, Channa lucius, đá tai, mùa vụ sinh sản và sức sinh sản.
ii
ABSTRACT
The study on “Otolith morphology and some biological characteristics of
snakehead fishes of the genus Channa” was conducted from November 2010 to
September 2011. Three species of snakehead fish distributed in the Mekong Delta
were sampled, including Channa striata (Bloch, 1795), Channa micropeltes
(Cuvier, 1831) and Channa lucius (Cuvier, 1831). The morphological
characteristics of otolith was described for each species. Corelations between otolith
development and growth of fish were determined by the regression equation
correlations. These relationships were very closely related.
This study also investigated the relationship between fish body
length and body weight of fish. For Channa striata (Bloch, 1795), correlation
regression equation was W = 0,0498L
2,4811
, value b < 3, most of fish samples
collected were mature fish and developed more in weight than in length. For
Channa micropeltes ( Curvier, 1831), correlation regression equation was W=
0,00813L
3,0964
, value b > 3, fish samples collected grew more in length than in
weight. For Channa lucius (Cuvier, 1931), correlation regression equation was W =
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 1
1.4 Giới hạn của đề tài 2
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm hình thái của một số loài cá thuộc họ cá lóc phân bố ở đồng
bằng Sông Cửu Long 3
Hình 2.1: Hình ảnh cá lóc đen (Channa striata, Bloch, 1795) 5
Hình 2.2: Hình ảnh cá chành dục (Channa gachua, Hamilton, 1822) 6
Hình 2.3: Hình ảnh cá lóc bông (Channa micropeltes, Cuvier, 1831) 7
Hình 2.4: Hình ảnh cá dầy (Channa lucius, Cuvier, 1831) 8
2.2 Đặc điểm đá tai 9
Hình 2.5: Tai trong của cá (Popper and Coombs (1982)) 9
Hình 2.6: Cấu trúc đá tai chính (Sagitta) của cá Epigonus denticulastu 10
Hình 2.7: Hình dạng của một số đá tai (Tuset et al. 2008) 12
Hình 2.8: Hình dạng các dạng rãnh trung tâm (Tuset et al, 2008) 12
Hình 2.9: Các loại đuôi, tùy thuộc vào hình dạng và độ cong (Tuset et al. 2008) 13
2.3 Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng 14
2.4 Đặc điểm sinh học sinh sản của một số loài cá thuộc giống cá lóc đã được
nghiên cứu 14
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17
v
Hình 3.1: Địa điểm thu mẫu 17
3.2 Vật liệu nghiên cứu 18
3.3 Phương pháp thu mẫu và phân tích số liệu 18
Hình 3.2: Phương pháp lấy đá tai của các loài cá lóc 19
Bảng 3.1: Bậc thang thành thục sinh dục cho cá đẻ trứng theo Qasim (1957)
Crossland (1977) 20
CHƯƠNG IV : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
Hình 4.20: Tương quan chiều dài thân cá và khối lượng đá tai cá lóc bông 38
Hình 4.21: Tương quan chiều dài thân cá và khối lượng đá tai cá dầy 39
4.5 Đặc điểm phát triển tuyến sinh dục của cá dầy (channa lucius) 39
Hình 4.23: Mô tế bào trứng cá dầy giai đoạn III và giai đoạn IV 40
Bảng 4.2: Tần suất xuất hiện (%) các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của
cá cái 40
Bảng 4.3: Tần suất xuất hiện (%) các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của
cá đực 41
Hình 4.24: Biến động các giai đoạn thành thục của cá dầy cái theo thời gian 41
Hình 4.25: Biến động các giai đoạn thành thục của cá dầy đực theo thời gian 42
Bảng 4.4: Hệ số thành thục của cá dầy trong thời gian nghiên cứu 43
Bảng 4.5 Hệ số CF của cá dầy trong thời gian nghiên cứu 43
Hình 4.26: Đường biểu diễn sự biến động hệ số CF qua thời gian của cá dầy 44
Bảng 4.6: Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối 44
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Đề xuất 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC 49
vii
DANH SÁCH HÌNH
Tên Hình Trang
Hình 2.1: Hình ảnh cá lóc đen (Channa striata, Bloch, 1795) 5
Hình 2.2: Hình ảnh cá chành dục (Channa gachua, Hamilton, 1822) 6
Hình 2.3: Hình ảnh cá lóc bông (Channa micropeltes, Cuvier, 1831) 7
Hình 2.4: Hình ảnh cá dầy (Channa lucius, Cuvier, 1831) 8
Hình 2.5: Tai trong của cá (Popper and Coombs (1982)) 9
Hình 2.6: Cấu trúc đá tai chính (Sagitta) của cá Epigonus denticulastu 10
Hình 2.7: Hình dạng của một số đá tai (Tuset et al. 2008) 12
Hình 2.8: Hình dạng các dạng rãnh trung tâm (Tuset et al, 2008) 12
Hình 4.25: Biến động các giai đoạn thành thục của cá dầy đực theo thời gian 42
Hình 4.26: Đường biểu diễn sự biến động hệ số CF qua thời gian của cá dầy 44
ix
DANH SÁCH BẢNG
Tên Bảng Trang
Bảng 3.1: Bậc thang thành thục sinh dục cho cá đẻ trứng theo Qasim (1957)
Crossland (1977) 20
Bảng 4.1: So sánh một số chỉ tiêu hình thái của 3 loài cá lóc 27
Bảng 4.2: Tần suất xuất hiện (%) các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của
cá cái 40
Bảng 4.3: Tần suất xuất hiện (%) các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của
cá đực 41
Bảng 4.4: Hệ số thành thục của cá dầy trong thời gian nghiên cứu 43
Bảng 4.5 Hệ số CF của cá dầy trong thời gian nghiên cứu 43
Bảng 4.6: Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối 44
x
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long
A: Vi hậu môn (Anal)
P: Vi ngực (Pecvil)
V: Vi bụng (Ventral)
D: Vi lưng (Dorsal)
CF: Hệ số điều kiện (Condition factor)
GSI: Hệ số thành thục sinh dục (Gonado Somatic Index)
F: Sức sinh sản tuyệt đối
F
A
: Sức sinh sản tương đối
FL: Chiều dài thân cá
FW: Khối lượng thân cá
ĐBSCL. Qua đó, dựa vào hình thái đá tai để phân loại cá theo loài. Đồng thời, kết
quả nghiên cứu góp phần bổ sung những thông tin trong những việc nghiên cứu đặc
điểm hình thái, đặc điểm sinh học, đánh giá thành phần loài, bảo vệ và phát triển
nguồn lợi thủy sản tương lai.
1.3 Nội dung nghiên cứu
Gồm các nội dung nghiên cứu sau:
- Mô tả và so sánh đá tai của các loài cá thuộc giống cá lóc (Channa)
- Phân tích mối tương quan chiều dài và khối lượng của các loài thuộc giống
cá lóc.
- Theo dõi sự phát triển tuyến sinh dục của cá dầy (Channa lucius, Cuvier,
1831).
1.4 Giới hạn của đề tài
Do điều kiện nghiên cứu của đề tài có hạn chế nên đề tài chỉ nghiên cứu hình thái đá
tai của 3 loài cá lóc là cá lóc đen (Channa striata), cá lóc bông (Channa
micropeltes) và cá dầy (Channa lucius). Đặc điểm sinh học chỉ nghiên cứu đặc điểm
sinh sản của cá dầy ((Channa lucius) và đặc điểm hình thái của 3 loài cá lóc là cá
lóc đen (Channa striata), cá lóc bông (Channa micropeltes) và cá dầy (Channa
lucius).
2
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm hình thái của một số loài cá thuộc họ cá lóc phân bố ở đồng bằng
Sông Cửu Long
2.1.1 Đặc điểm chung và thành phần loài của họ cá lóc
● Đặc điểm chung của cá lóc
• Đầu giống đầu rắn, cơ thể hình trụ, thon dài, phần sau dẹp bên
• Gốc vi lung và vi hậu môn dài
• Cá có thể hô hấp khí trời bằng màng nhày ở xoang miệng hầu
● Thành phần loài của họ cá lóc (Channidae)
Hệ thống phân loại chung của họ cá lóc như sau:
Ngành: Chordata
Channa ornatipinnis Britz, 2008
Channa panaw Musikasinthorn, 1998
Channa pleurophthalma (Bleeker, 1851)
Channa pulchra Britz, 2007
Channa punctate (Bloch, 1793)
Channa stewartii (Playfair, 1867)
Channa striata (Bloch, 1793)
● Giống Parachanna phân bố ở Châu Phi gồm các loài:
Parachanna africana (Steindachner, 1879).
Parachanna insignis (Sauvage, 1884).
Parachanna obscura (Günther, 1861).
(Nguồn www.fishbase.org)
Theo sách định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc (1978) của giáo sư Mai Đình
Yên thì họ cá lóc ở vùng này thì có 4 loài là:
• Cá xộp (Channa striata) phân bố rộng trong cá thuỷ vực miền núi, đồng
bằng và nước lợ có nồng độ muối thấp. Kích thước tối đa 90 cm.
• Cá chuối suối (Channa gachua) sống ở miền núi các tỉnh phái Bắc Việt
Nam. Loài này có vây bụng nhỏ. Kích thước tối đa 20 cm.
• Cá chuối (Channa maculata) phân bố tương tự cá xộp. Kích thước tối đa 20
cm.
• Cá chèo đồi (Channa asiatica) phân bố ở các tỉnh phía Bắc. Loài này không
có vây bụng. Kích thước tối đa 20 cm.
Theo sách định loại cá nước ngọt vùng ĐBSCL (1993) của các tác giả Trương Thủ
Khoa và Trần Thị Thu Hương thì ĐBSCL có 4 loài cá Lóc là:
• Cá lóc đen (Channa striata)
• Cá chành dục (Channa gachua)
• Cá lóc bông (Channa micropeltes).
4
• Cá dầy (Channa lucius)
2.1.2 Đặc điểm hình thái
con. Vùng phân bố rộng từ Trung Quốc đến Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan,
Miến Điện, Ấn Độ, Philippin.
Giá trị kinh tế: Ở ĐBSCL có sản lượng rất cao, thịt ngon và là món hàng xuất khẩu
có giá trị. Đây là loài có giá trị kinh tế. (Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu
Hương, 1993)
2.1.2.2 Cá chành dục (Channa gachua, Hamilton, 1822)
Kích thước: 139 – 176 mm
D: 33 – 34 A: 22 – 23 P: 15 V: 6
Đầu to, rộng, dẹp bằng. Mõm ngắn. Miệng rộng hướng lên, rạch miệng xiên, kéo
dài quá đường thẳng đứng kẻ từ bờ sau của mắt. Có răng chó ở hàm dưới, xương
khẩu cái, xương lá mía, răng hàm trên mịn hơn. Không có râu, lỗ mũi trước mở ra
bằng một ống ngắn. Mắt tròn nằm lệch về nửa trên của đầu và chót mõm hơn gần
điểm cuối xương nắp mang. Phần trán giữa hai mắt phẳng, rộng và lớn hơn hai lần
đường kính mắt.
Hình 2.2: Hình ảnh cá chành dục (Channa gachua, Hamilton, 1822)
(Nguồn www.snakeheads.org)
Phần trước thân có tiết diện tròn, phần sau thân dẹp bên. Đường lưng gần như thẳng
từ chót mõm đến gốc vi đuôi. Vảy lớn vừa, phủ khắp thân và đầu, có một số vảy
nhỏ phủ lên gốc vi ngực và đuôi. Đường bên hoàn toàn nhưng bị gãy khúc và thụt
xuống một hàng từ vảy thứ 14 – 16, đoạn sau của đường bên nằm trên trục giữa
thân. Cuống đuôi ngắn.
Dài gốc vi lưng tương đương 50,5% dài chuẩn. Dài gốc vi hậu môn ngắn hơn dài
gốc vi lưng. Vi đuôi tròn, không chẻ hai.
6
Cá có màu xám đen ở mặt lưng và lợt gần xuống bụng, bụng có màu trắng. Rìa vi
lưng, vi hậu môn, vi đuôi có màu đỏ cam đến đỏ huyết.
Cá sống nước ngọt, hiện diện ở ao, đìa, kênh rạch, đồng ruộng, có tập tính làm tổ
sinh sản, chăm sóc và bảo vệ con cái, phân bố java, Sumatra, Borneo, Ấn độ, Miến
Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam (Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị
Thu Hương, 1993).
Đầu dài, nhọn, hơi dẹp bằng, đỉnh đầu phẳng. Mõm ngắn hơi hướng lên. Miệng
ngắn, rạch miệng kéo dài chạm đến đường thẳng đứng kẻ từ bờ sau của mắt. Răng
nhọn chắc, răng hàm dưới và răng vòm miệng có dạng răng chó. Cá không có râu.
Lỗ mũi trước mở ra bằng một ống ngắn. Mắt nhỏ, nằm lệch về phía trên của đầu và
gần chót mõm hơn gần điểm cuối xương nắp mang. Phần trán giữa hai mắt rộng,
phẳng và lớn hơn hai lần đường kính mắt.
Thân phần trước có tiết diện tròn, phần sau hơi dẹp bên. Vảy lớn vừa, phủ khắp thân
và đầu, có một số vảy nhỏ phủ lên gốc vi đuôi và ngực. Đường bên hoàn toàn,
nhưng bị gãy khúc ở hai nơi, một ở khoảng vảy thứ 18 và một ở khoảng thứ 25, ở
mỗi nơi gãy đường bên thụt xuống một hàng vảy đoạn sau của đường bên nằm trên
trục giữa thân, cuống đuôi ngắn.
Gốc vi lưng rất dài, dài gốc vi lưng tương đương 65% dài chuẩn. Dài gốc vi hậu
môn ngắn hơn. Vi đuôi tròn, không chẻ hai.
Hình 2.4: Hình ảnh cá dầy (Channa lucius, Cuvier, 1831)
(Nguồn www.fishbase.org)
8
Mặt lưng cá có màu nâu đen đến xanh đen và nhạt dần xuống bụng. Mặt bên thân cá
có những đốm đậm màu xanh đen. Vi ngực, vi bụng, vi đuôi, vi hậu môn có các vệt
đen trắng xen kẽ vắt ngang các tia vi.
Cá sống nước ngọt, thích sống ở các ao đìa có bóng tối. Có tập tính làm tổ sinh sản,
chăm sóc và bảo vệ con cái. Phân bố ở các quần đảo giữa Ấn độ và châu Úc,
Sumatra, Borneo, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Trung Quốc (Theo Trương Thủ Khoa
và Trần Thị Thu Hương, 1993).
2.2 Đặc điểm đá tai
2.2.1 Giới thiệu chung về đá tai
Theo Hortle (2003), Cá có cấu tạo tai trong hoàn chỉnh, trong đó đá tai là bộ phận
then chốt. Chuyển động nhỏ của đá tai kích thích những tế bào lông giác quan ở tai
trong, từ đó truyền tín hiệu thần kinh lên não. Những chuyển động của đá tai thông
báo cho não biết về thăng bằng của cá.
Đá tai là những cấu trúc tinh thể, bao gồm chủ yếu của canxi cacbonat. Đá tai tăng
Thành phần chính của đá tai là canxi cacbonat, là aragonit, và protein được gọi là
otolin (Degens el al. 1969). Trong đó, các thành phần chính của đá tai là canxi
cacbonat (khoảng 99%), các thành phần hữu cơ khác (<1%) đóng vai trò quan trọng
trong sự lắng đọng của CaCO
3
và kết hợp các yếu tố khác từ endoymph vào cấu trúc
đá tai.
2.2.2 Hình dạng về đá tai
Ở mỗi loài cá thì đá tai có hình dạng khác nhau giữa các loài. Ở hình 2.7 hiển thị 24
đá tai khác nhau về hình dạng. Các đá tai điển hình là một cấu trúc theo chiều ngang
nén, thường chiều dài hơn nhiều so với chiều rộng và chiều rộng hơn dày.
11