Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Đái tháo đường (ĐTĐ) bệnh rối loạn trao đổi chất với biểu hiện chung
nhất là chứng tăng đường huyết. Hiện nay ĐTĐ là 1 trong 4 bệnh mãn tính
đang có tốc độ phát triển nhanh trên toàn thế giới đó là: ĐTĐ, bệnh tim mạch,
bệnh phổi và bệnh ung thư chiếm 50% tỷ lệ tử vong trên toàn cầu. ĐTĐ
không chỉ mang tính chất của một bệnh mãn tính mà còn kèm theo những
biến chứng đa dạng và nguy hiểm như: chủ yếu là ở các mạch máu lớn gây
bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não, bệnh mạch máu ngoại biên, ở các mạch
máu nhỏ là bệnh võng mạc, bệnh thận và bệnh biến chứng về thần kinh [4].
WHO cho thấy hiện nay trên thế giới có khoảng 221 triệu người mắc
bệnh ĐTĐ và số này tiếp tục tăng lên. Năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người
(gần 6% dân số toàn cầu). Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%,
nhưng ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) sẽ là 170%. Hiện nay, y
học hiện đại cũng đã có nhiều loại thuốc chữa bệnh ĐTĐ có hiệu quả: insulin,
sulfonylure, biguanides, thyazolidinediones…Tuy nhiên các loại thuốc này
đều gây ra các tác dụng phụ và chi phí để chữa trị rất tốn kém đặc biệt là ở những
nước đang phát triển. Như vậy đòi hỏi một hướng đi mới trong việc nghiên cứu và
điều trị bệnh với nguồn nguyên liệu phong phú, giá cả lại hợp lý [8].
Trước khi có các loại thuốc hữu hiệu như ngày nay, ông cha đã biết
dùng các loại cây cỏ để điều trị ĐTĐ mà hiện nay dân gian vẫn hay dùng: cây
khổ qua, lá vối, nhưng chỉ trong số ít được đánh giá về mặt khoa học và y
học. Chính vì vậy nghiên cứu các loại loại cây cỏ có tác dụng chữa bệnh càng
phải được quan tâm và chú trọng nhiều hơn.
Từ những thực tế trên, nhằm góp phần tìm kiếm và nghiên cứu thuốc
điều trị ĐTĐ, chúng tôi tiến hành đề tài mang tên: “Nghiên cứu khả năng hạ
đường huyết và xác định cấu trúc hợp chất của cao chiết lá chè đắng-
Ilex kaushe S.Y.Hu”.
1
Hoàng Thị Chang- K52B Công nghệ Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp
a. Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh đái tháo đường điển hình bao gồm: đái
nhiều, uống nhiều, sút cân, mờ mắt, đôi khi ăn nhiều chóng đói thường gặp ở
bệnh nhân mắc đái tháo đường trẻ tuổi ( týp 1).
Triệu chứng lâm sàng xuất hiện khi glucose huyết tăng cao vì vậy vấn
đề chuẩn đoán không khó khăn và thường quá muộn với nhiều biến chứng.
Nhiều trường hợp phát hiện đái tháo đường do tình cờ khám sức khỏe
định kỳ hoặc vào viện vì lý do khác: tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim,
tăng huyết áp, chấn thương, đục thủy tinh thể…
Nhiều trường hợp đến muộn, các triệu chứng lâm sàng không điển hình
trong khi đó nổi bật các triệu chứng của các biến chứng nặng nề: biến chứng
tim mạch, bệnh lý thần kinh ngoại vi, nhiễm trùng, biến chứng chuyển hóa…
Ngày nay nhờ tiêu chuẩn chuẩn đoán đái tháo đường đã hạ thấp mức
glucose huyết xuống còn 126mg/dl vì vậy triệu chứng lâm sàng của bệnh ít
được quan tâm khai thác [10].
b. Xét nghiệm cận lâm sàng
- Glucose huyết: glucose huyết >126mg/dl lúc đói đã nhịn ăn 8-10 giờ
và làm 2 lần liên tiếp được chuẩn đoán là đái tháo đường. Glucose niệu: ít có
giá trị chẩn đoán.
- HbA1c (trong hồng cầu ở máu có chất vận chuyển oxy gọi là
hemoglobin (Hb), chất này có đặc tính kết hợp tự nhiên với đường glucose
một cách bền vững, khi đó gọi là HbA1c): bình thường < 6,4%.
- Mỡ máu: cholesterol, triglycerid, HDL (high density lipoprotein-
cholesterol có tỷ trọng cao), LDL (low density lipoprotein- cholesterol có tỷ
trọng thấp) thường tăng.
- Định lượng insulin: bình thường hoặc tăng trong đái tháo đường typ
2. Giảm trong đái tháo đường týp 1.
3
Hoàng Thị Chang- K52B Công nghệ Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp
- Đái tháo đường týp 1 hay còn gọi là đái tháo đường gầy, thường xảy
ra ở người trẻ. Ở loại này, sự bài tiết insulin bị tiêu hủy do sự phá hủy tự miễn
tế bào β của đảo tụy Langerhans, nơi tiết insulin.
- Đái tháo đường týp 2 hay còn gọi là đái tháo đường béo, thường gặp ở
người nhiều tuổi hơn. Ở loại này, insulin được bài tiết bình thường, lưu thông
trong máu nhưng không có tác dụng do có quan hệ chặt chẽ với tính kháng
insulin ở cơ quan đích.
Ngoài ra còn có những dạng ít gặp hơn:
- Đái tháo đường do thái nghén: đái tháo đường khởi phát trong khi
mang thai.
- Đái tháo đường thứ phát ở một số bệnh (bệnh lý tụy ngoại tiết hoặc
phụ thuộc những hormon khác với insulin), những đái tháo đường gây ra do
điều trị, đái tháo đường liên quan đến dinh dưỡng.
- Cũng có những trường hợp dung nạp không hoàn toàn glucose, tình
trạng trên có thể được coi là tình trạng tiền đái tháo đường [10].
a. Đái tháo đường typ 1.
Ở ĐTĐ týp 1, tuyến tụy của bệnh nhân hầu như hoặc không có khả
năng sản sinh ra insulin- một loại hormon nhằm giúp chuyển hóa đường trong
máu thành năng lượng trong các tế bào. Nguyên nhân là do hệ miễn dịch tự
hủy hoại các tế bào β trong tuyến tụy có nhiệm vụ sản sinh ra insulin. Tác
nhân kích thích để cho hệ miễn dịch tấn công tế bào β vẫn chưa biết rõ. Bởi
vậy, trước đây còn gọi ĐTĐ týp 1 là bệnh tự miễn. Bệnh chiếm khoảng 10-
20% các trường hợp ĐTĐ.
Bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ týp 1 buộc phải tiêm insulin hằng ngày. Để
hạ đường máu, ngoài tiêm insulin người bệnh còn phải điều chỉnh và phối hợp
thuốc theo chế độ ăn và hoạt động thể lực. Hạ glucose huyết là nguy cơ tiềm
ẩn, đe dọa tính mạng của người bệnh ĐTĐ týp 1. Do đó, chiến lược dự phòng
nhằm tác động vào các giai đoạn sớm nhằm ngăn chặn sự diễn tiến của bệnh
được xem như là phương thức tốt nhất giúp hạn chế những tổn thương nặng
nề về tinh thần và vật chất cho mỗi cá nhân và cho toàn xã hội [6].
- Biến chứng thần kinh ngoại vi: Thường xuất hiện sớm cùng với tình
trạng tiến triển của bệnh. Tổn thương chủ yếu ở chi trên và chi dưới, bao gồm
các triệu chứng: đau cơ, cảm giác tê bì, kiến bò, kim châm; nóng bỏng hay tê
lạnh, thậm chí rát bỏng ở đầu ngón tay, ngón chân. Đau hay tê tự phát xảy ra
vào ban đêm, không có chu kỳ, không khu trú ở một chỗ. Điều đặc biệt là đau
cả lúc nghỉ ngơi, nhưng lại giảm đi khi vận động. Đây là dấu hiệu phân biệt
với tổn thương các mạch máu ở chi dưới trong bệnh đái tháo đường.
- Khi tổn thương thần kinh ngoại vi nặng do đái tháo đường, bệnh nhân
có thể bị teo cơ, liệt nhẹ. Do cảm giác ở bàn chân giảm, mức độ sừng hoá ở
6
Hoàng Thị Chang- K52B Công nghệ Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp
da tăng lên, có thể xuất hiện các ổ loét da giữa các vùng sừng hoá mà người
bệnh không biết.
- Biến chứng thần kinh vận động: Thường ít gặp hơn và có khả năng
hồi phục tốt nếu được điều trị tích cực bệnh đái tháo đường. Trong biến
chứng này, các dây thần kinh bị viêm với các biểu hiện: sụp mi mắt (do tổn
thương dây thần kinh số 3), lác ngoài (dây thần kinh số 4), liệt mặt (dây thần
kinh số 7), mất vận động nhìn ngoài (dây số 6), điếc (dây số 8).
Hình 1. Hoại tử ở chân Hình2. Vị trí xuất huyết ở mắt
- Biến chứng thần kinh thực vật (nội tạng): Các biến chứng này thường
kết hợp với các biến chứng thần kinh ngoại vi, nên được coi là rối loạn thần
kinh nội tạng. Có thể gặp: nhịp tim nhanh khi nghỉ, giảm sự tiết mồ hôi, giảm
sự co giãn của đồng tử (ảnh hưởng đến việc điều tiết của mắt), giảm trương
lực cơ hệ tiêu hoá (gây buồn nôn, nôn hay đầy bụng sau khi ăn, có thể bị táo
bón hay tiêu chảy về đêm), giảm co bóp cơ bàng quang (gây ứ đọng nước
tiểu), liệt dương hay xuất tinh sớm ở nam giới.
Các biến chứng thần kinh nói trên cũng có thể gặp ở một số bệnh lý
khác. Nhưng nếu đã bị bệnh đái tháo đường thì bạn nên quan tâm đến việc
phần háng tạo nên vóc người "hình quả lê" hay còn gọi là béo phần thấp hay
8
Hoàng Thị Chang- K52B Công nghệ Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp
kiểu dáng đàn bà. Vì vậy bên cạnh theo dõi chỉ số BMI nên theo dõi thêm tỷ
số vòng bụng/vòng mông, khi tỉ số này vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ
giới thì các nguy cơ tǎng huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh đái đường đều tǎng
lên rõ rệt.
Béo phì không tốt đối với sức khoẻ. Trước hết, người béo phì dễ mắc
các bệnh tǎng huyết áp, bệnh tim mạch do mạch vành, đái đường hay bị các
rối loại dạ dày, ruột, sỏi mật [6,11].
b. Mối quan hệ giữa bệnh béo phì và đái tháo đường typ 2
Trong cơ thể người béo phì tồn tại một trạng thái bệnh lý đặc thù gọi
là chất đề kháng insulin. Sau khi ăn, một lượng đường khá lớn được hấp thụ
vào trong máu thông qua huyết dịch mà tuần hoàn đến mọi nơi trong cơ thể.
Nhờ có insulin đường mới đi vào tế bào được cơ thể sử dụng. Lượng đường
glucose trong máu được duy trì trong một phạm vi an toàn nhất định cũng nhờ
insulin. Sở dĩ insulin có đủ khả năng phát huy tác dụng đó là đầu tiên nó kết
hợp với insulin thụ thể ở trên màng tế bào sau đó dẫn dắt một loạt những chất
truyền tín hiệu khác trong tế bào, đem thông tin ”có đường” được truyền vào
các tầng lớp sâu trong tế bào. Sự trao đổi chất diễn ra trong bản thân tế bào để
chuyển hóa đường thành năng lượng. Cơ chế vận chuyển, chuyển hóa glucose
ở người béo phì có rất nhiều hạn chế do:
- Số lượng insulin thụ thể trên màng tế bào bị giảm sút.
- Chức năng của từng thụ thể đơn lẻ cũng bị suy giảm.
- Những thụ thể sau khi được insulin kích hoạt chức năng truyền tín
hiệu vào sâu bên trong tế bào lại bị tổn thương.
- Số lượng phân tử vận chuyển glucose giảm.
- Chức năng gan chuyển hóa glucose thành đường nguyên chất để tồn
trữ lại không bảo đảm.
Hệ cơ xương
Kháng insulin
Tăng glucose, rối loạn
chuyển hóa mỡ
Phá hủy tế bào β
Tế bào β của
tuyến tụy
Sản xuất insulin giảm
Tăng axit béo trong máu
Mô mỡ nội tạng
Khóa luận tốt nghiệp
Chế độ ăn cho người ĐTĐ bao gồm:
- Các bữa ăn hỗn hợp có đủ chất đạm + béo + chất bột + xơ (xơ: có
nguồn gốc từ rau quả, cám gạo…).
- Nhiều bữa một ngày: 3 bữa chính gồm sáng, trưa và tối và 2 đến 3
bữa phụ xen kẽ nếu cần thiết ( khi bữa chính chưa ăn đủ).
- Ăn đều đặn về khối lượng tùy theo vận động thể lực, cố gắng ăn đúng
giờ từ ngày này qua ngày khác, từ tuần này qua tuần khác. Khi thay đổi khối
lượng và thành phần thức ăn sẽ dẫn đến thay đổi đường máu và dẫn đến thay
đổi chế độ thuốc tương ứng [4].
b. Thuốc điều trị
1. Insulin (dùng cho dạng typ1)
Căn cứ vào tác dụng, giới chuyên môn chia ra 03 nhóm:
- Insulin tác dụng nhanh: gồm Insulin hydrochlorid, nhũ dịch Insulin-kẽm
+ Insulin tác dụng trung bình: Isophan Insulin, Lente Insulin
+ Insulin tác dụng chậm: Insulin Protamin kẽm, Insulin kẽm tác dụng chậm.
Insulin được chỉ định dùng cho bệnh nhân đái tháo đường thuộc typ 1,
nó chỉ dùng cho bệnh nhân đái tháo đường typ 2 khi đã thay đổi chế độ ăn,
luyện tập và dùng các thuốc điều trị ĐTĐ tổng hợp mà không hiệu quả.
Phản ứng phụ của Insulin: Dị ứng (sau khi tiêm lần đầu hoặc nhiều lần
bột nghệ với nước ấm.
5. Quế- Cinnamomum Blume: Quế có tác dụng hỗ trợ trong việc giảm
lượng đường máu, nên cho quế vào thức ăn hàng ngày sẽ rất tốt cho những
người bị bệnh ĐTĐ.
6. Hành tây- Allium cepa L: Hành tây có tác dụng dự phòng sự tăng
đường máu bởi một số chất vẫn thường gây ÐTÐ trên động vật thí nghiệm.
Trên lâm sàng, cho bệnh nhân ÐTÐ uống dịch ép hành tây đã có tác dụng làm giảm
đường máu. Hành tây sống cho vào thức ăn hàng ngày của bệnh nhân ÐTÐ typ 2 đã
có tác dụng hỗ trợ và làm giảm liều thuốc cần thiết để điều trị bệnh.
7. Mướp đắng- Momordica charantia: Quả mướp đắng còn xanh có
tác dụng hạ đường máu trên động vật đã được gây ÐTÐ thực nghiệm. Khi
12
Hoàng Thị Chang- K52B Công nghệ Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp
cho động vật uống hàng ngày trong thời gian dài, nó làm chậm sự phát triển
bệnh võng mạc và đục thủy tinh thể của mắt.
Mướp đắng có tác dụng chống oxy hóa, loại bỏ những gốc tự do - là
một trong những nguyên nhân gây ÐTÐ. Quả mướp đắng có tác dụng làm
tăng khả năng dung nạp glucose của bệnh nhân ÐTÐ. Hoạt chất chính trong
mướp đắng có tác dụng hạ đường máu là charantin, glycosid steroid.
8. Chuối hột- Musra barjoo sieb: Vị thuốc chữa bệnh đái tháo đường.
Theo kinh nghiệm dân gian, chuối hột trị được nhiều bệnh khá hiệu
quả, mà lại không tốn tiền, không độc hại. Quả chuối hột tròn dài, lúc chín sắc
vàng, ăn ngọt, có nhiều hột đen. Lá và vỏ quả chuối hột khô sắc uống làm
thuốc lợi tiểu và chữa được chứng phù thũng sưng chân (cước khí). Rễ sắc
uống chữa cảm mạo, bệnh dạ dày, đau bụng, chữa cả chứng tiêu khát và bệnh
lâm lậu nhưng hay dùng nhất là để điều trị các bệnh đái tháo đường [21].
1.2. CÂY CHÈ ĐẮNG - Ilex kaushue S.Y.Hu
1.2.1. Đặc điểm hình thái, phân bố
Mô tả: Cây thân gỗ cao 6-20m, có thể tới 35m, đường kính thân 20-
phiến khát.
Công dụng: Lá cây được dung nấu nước uống làm thuốc trị đau đầu,
đau răng, mắt đỏ, tai ù, tai giữa chảy mủ, sốt nóng, khát nước, lỵ, đau họng
14
Hoàng Thị Chang- K52B Công nghệ Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp
và bỏng lửa, có thể dùng lá sấy khô hãm như nước trà có tác dụng thanh
nhiệt, giải độc, điều hòa huyết áp, chè uống này còn làm đầu óc minh mẫn, lợi
tiểu, tiêu độc, giúp tiêu hóa, dùng lâu sẽ tăng sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ.
Theo y học hiện đại: những kết quả nghiên cứu mới đây công bố, chè
đắng có tác dụng giảm cholestorol, giảm mỡ máu, giảm chứng cao huyết áp,
tăng cường lưu thông máu, ngăn chặn suy thoái chức năng tim và não, giãn
khí quản, điều hòa mô mỡ, giảm tích tụ mỡ, làm cho cơ thể cân đối (chống
béo phì). Dịch chiết nước chè đắng có tác dụng kháng khuẩn cao.
Hiện nay, ở nước ta cũng đã có vài chế phẩm của chè đắng dạng búp
sấy khô và dạng chè túi lọc. Chè đắng là cây bản địa của vùng núi đá vôi, có
thể trở thành cây kinh tế ở vùng núi đá cao, nên nhân giống để tạo nguồn
nguyên liệu làm chè uống như chè Paraguay ở Nam Mỹ, phục vụ trong nước
và xuất khẩu [1,10].
Hình 6. Các sản phẩm từ chè đắng
1.2.3. Thành phần hóa học
Thành phần hóa học của chè đắng: ngoài một số hoạt chất chính khác
với chè xanh, còn đại bộ phận các thành phần khác cũng tương tự như chè
xanh, chỉ khác nhau về hàm lượng. Ví dụ trong chè đắng Cao Bằng có hàm
lượng flavonoid (chất có tác dụng chống lão hóa, chống ung thư) lại cao gấp 7
lần chè xanh.
Chè đắng có 5 nhóm chất là saponin, tritecpen, flavonoid, axit hữu cơ,
polysaccharid và carotenoid, trong đó các nhóm saponin và flavonoid có hàm
lượng đáng kể. Mặt khác các thử nghiệm đều không tìm thấy alkaloid và
- Nhận biết những hóa chất trong một chất cho sẵn
- Giám sát các phản ứng hữu cơ
Phương pháp sắc kí lớp mỏng bao gồm pha tĩnh là một lớp mỏng các
chất hấp phụ, thường là silica gel, aluminium oxide, hoặc cellulose được phủ
trên một mặt phẳng chất trơ. Pha động bao gồm dung dịch cần phân tích được
hòa tan trong một dung môi thích hợp và được hút lên bản sắc kí bởi mao dẫn,
tách dung dịch thí nghiệm dựa trên tính phân cực của các thành phần trong
dung dịch [7].
Sau khi chạy sắc ký xong phát hiện chất trên bản mỏng bằng đèn tử
ngoại ở hai bước sóng 254 nm và 368 nm hoặc dùng thuốc thử là dung dịch
H
2
SO
4
10% được phun đều lên bản mỏng, sấy khô rồi hơ nóng trên bếp điện
từ từ đến khi hiện màu.
2.2.2 Xử lý mẫu
17
Hoàng Thị Chang- K52B Công nghệ Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp
Lá sau khi hái về được rửa sạch, phơi khô đem sấy ở 60
0
C sau đó đem
nghiền mịn thành bột bằng thuyền tán. Bột được cho vào túi nilon kín để bảo
quản để nơi khô ráo, thoáng mát tránh ẩm mốc.
2.2.3. Phương pháp tách chiết bằng dung môi
a. Chiết thu cao tổng số
Chiết cao nước nóng: Cân 2kg mẫu đã nghiền thành bột hòa với nước
theo tỉ lệ 1: 10 (khối lượng mẫu : thể tích nước) đun trong thời gian là 1h rồi
tiến hành lọc nóng thu được dịch lọc lần 1. Phần bã còn lại tiếp tục hòa với
Hình 7. Sơ đồ tách chiết cao phân đoạn
2.2.4. Sắc ký cột
Sắc ký cột được tiến hành với chất hấp phụ là Silica gel pha thường có
cỡ hạt là 0,040- 0,063mm. Nguyên tắc của sắc ký là dựa trên sự phân bố các
chất giữa 2 pha: một cố định và một di động. Trong đó, pha tĩnh được nhồi
vào một cột thủy tinh, pha lỏng là dung môi dung để chiết cho chảy qua cột.
Mẫu được tách được đưa vào một đầu của cột. Các phần khác nhau của mẫu
19
Hoàng Thị Chang- K52B Công nghệ Sinh học
Cao tổng
Cao n-hexan
Lớp nước còn lại
Cao cloroform
Lớp nước còn lại
Cao ethylaxetat Lớp nước còn lại
Cao nước cuối
Khóa luận tốt nghiệp
sẽ đi qua cột với tốc độ khác nhau, được phát hiện và thu lại ở đầu kia. Trong
quá trình chạy sắc ký cần chú ý đến tốc độ chảy, thường với tốc độ chảy chậm
việc tách chất thường rõ nét hơn [7].
Dưới đây là hình minh họa sắc ký cột:
Hình 8. Sự di chuyển các chất trong sắc ký cột
2.2.5. Phương pháp định lượng glucose huyết
Máu sử dụng để định lượng đường huyết là máu toàn phần lấy từ đuôi
chuột. Định lượng đường huyết bằng máy đo đường huyết tự động và que thử
tương ứng- (One Touch Ultra, Johnson & Johnson, USA). Nguyên tắc của
phương pháp dựa trên phản ứng đặc hiệu của glucose oxidase (GOD) có trong
que thử với glucose có trong máu tạo thành axit gluconic và H
2
O
Cấu trúc hóa học của các hợp chất hữu cơ được xác định dựa vào các
phương pháp phổ kết hợp. Tùy thuộc vào cấu trúc hóa học của từng hợp chất
mà người ta sử dụng những phương pháp phổ cụ thể. Cấu trúc càng phức tạp
thì yêu cầu phối hợp các phương pháp phổ càng cao. Trong một số trường
hợp để xác định chính xác cấu trúc hóa học của các hợp chất người ta còn
phải dựa vào các phương pháp bổ sung khác như chuyển hóa hóa học, kết
hợp với các phương pháp sắc ký so sánh.
a. Điểm nóng chảy (MP)
Điểm nóng chảy được đo trên máy Kofler micro- hotstage của Viện
Hóa học các hợp chất thiên nhiên.
b. Phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân (NMR)
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân là một phương pháp phổ hiện đại và hữu
hiệu nhất hiện nay được dùng để xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất
hữu cơ nói chung và hợp chất thiên nhiên nói riêng. Với việc sử dụng kết hợp
các kỹ thuật phổ NMR một chiều và hai chiều, các nhà nghiên cứu có thể xác
định chính xác cấu trúc của các hợp chất, kể cả cấu trúc lập thể của phân tử.
Nguyên lý chung của các phương pháp NMR (phổ proton và cacbon) là sự
cộng hưởng khác nhau của các hạt nhân từ (
1
H và
13
C) dưới tác dụng của từ
trường ngoài. Sự cộng hưởng khác nhau này được biểu diễn bằng độ dịch
chuyển hóa học (chemical shift). Ngoài ra, đặc trưng của các phân tử còn
được xác định dựa vào tương tác spin các hạt nhân từ với nhau (spin
coupling).
- Phổ
1
H- NMR
Trong phổ
0
thì chỉ xuất hiện tín hiệu phổ của các CH.
- Phổ 2D- NMR
Đây là các kỹ thuật phổ hai chiều, cho phép xác định các tương tác của
các hạt nhân từ của phân tử trong không gian hai chiều. Một số kỹ thuật chủ
yếu thường được sử dụng như sau:
+ Phổ HMQC (Heteronuclear Multiple Quantum Coherence): các
tương tác trực tiếp H-C được xác định nhờ vào các tương tác trên phổ này.
Trên phổ, một trục là phổ
1
H- NMR còn trục kia là
13
C- NMR. Các tương tác
HMQC nằm trên đỉnh các ô vuông trên phổ.
+ Phổ
1
H-
1
H COSY (HOMOCOSY)
1
H-
1
H Chemical Shift Correlation
Spectroscopy: phổ này biểu diễn các tương tác H-H, chủ yếu của các proton
đính với cacbon liền kề nhau. Chính nhờ phổ này mà các phần của phân tử
được nối ghép lại với nhau.
+ Phổ HMBC (Heteronuclear Multiple Bond Connectivity): Đây là phổ
biểu diễn các tương tác xa của H và C trong phân tử. Nhờ vào các tương tác
trên phổ này mà từng phần của phân tử cũng như toàn bộ phân tử được xác
định về cấu trúc.
thấp, dễ bị phá vỡ.
- Kỹ thuật phổ FAB- MS (Fast Atom Bombardment Mas Spectroscopy)
là phổ bắn phá nguyên tử nhanh với sự bắn phá nguyên tử nhanh ở năng
lượng thấp, do đó phổ thu được cũng dễ thu được píc ion phân tử.
- Kỹ thuật phổ khối lượng phân giải cao (High Resolution Mas
Spectroscopy), cho phép xác định píc ion phân tử hoặc ion mản với độ chính
xác cao. Kết quả phổ khối lượng phân giải cao cùng với kết quả phân tích
23
Hoàng Thị Chang- K52B Công nghệ Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp
nguyên tố sẽ cho phép khẳng định chính xác công thức cộng của hợp chất
hữu cơ.
- Ngoài ra hiện nay người ta có thể sử dụng GC-MS (sắc ký khí khối
phổ) cho các hợp chất dễ bay hơi như tinh dầu, hay LC-MS (sắc ký lỏng khối
phổ) cho các hợp chất khác.
Phương pháp sắc ký lỏng khối phổ (LC-MS): là một trong những
phương pháp được sử dụng để xác định khối lượng phân tử của các chất
nghiên cứu dựa vào sự phát hiện ra ion phân tử M
+
từ đó sẽ dẫn tới xây dựng
công thức phân tử. Việc nghiên cứu của các quá trình phân mảnh sẽ giúp nhận
biết một số đơn vị cấu trúc của phân tử.
Trong phương pháp này, một lượng rất nhỏ chất nghiên cứu được hóa
hơi ở áp suất thấp (6- 10mmHg) và được bắn phá bởi một dòng electron có
năng lượng cao (40-80 eV) gây nên sự ion hóa phân tử. Các ion được bắn phá
như vậy sẽ tách khỏi nhau theo tỉ số khối lượng/ điện tích (m/z), được phát
hiện và ghi lại trong máy đo. Các phương pháp kết hợp này còn đặc biệt hữu
hiệu khi phân tích thành phần của hỗn hợp chất (nhất là phân tích thuốc trong
nghành dược) [18].
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
CNN (%)
Khối
lượng
CC (g)
Phần
trăm
tách chiết
CC (%)
Lá chè
đắng
350+350 110 31.4 44 12.6
Dựa vào phần trăm tách chiết cao thu được ở bảng trên ta thấy chiết
mẫu bằng nước nóng thu được khối lượng nhiều hơn là chiết mẫu bằng cồn.
Cụ thể nhiều hơn 18.8%. Nước là dung môi quan trọng bậc nhất được dùng
trong công nghệ chiết xuất.
3.1.2. Chiết xuất thu cao phân đoạn
Bột khô được bổ sung thêm nước nóng, tiến hành chiết 3 lần ta thu
được cao tổng. Từ cao tổng nước ta tiến hành chiết phân đoạn với các dung
môi n-hexan, choloroform, ethylaxetat. Quy trình tách chiết được thể hiện:
Bổ sung nước nóng
25
Hoàng Thị Chang- K52B Công nghệ Sinh học
Mẫu thí nghiệm bột khô ( 3kg)