Quản lý bồi dưỡng cán bộ quản lý trường mầm non tỉnh Hải Dương theo chuẩn hiệu trưởng trong bối cảnh hiện nay - Pdf 27

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục Mầm non là một cấp học quan trọng trong hệ thống giáo dục
quốc dân thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ bắt đầu từ
3 tháng tuổi đến 6 tuổi nhằm giúp trẻ phát triển về thể chất, nhận thức, ngôn
ngữ, thẩm mĩ và tình cảm, kĩ năng xã hội, hình thành nhân cách đầu tiên,
chuẩn bị cho trẻ 6 tuổi vào lớp 1. Luật giáo dục đã khẳng định: "Giáo dục
Mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (Điều 6); Giáo dục Mầm non
thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6
tuổi" (Điều 18); mục tiêu của giáo dục mầm non là phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho
trẻ vào lớp 1 (Điều 19). Bác Hồ đã khẳng định: "Mẫu giáo tốt là mở đầu cho
một nền giáo dục tốt" [28]. Từ ngàn xưa cha ông ta đã đúc rút kinh nghiệm và
nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề giáo dục trẻ ở tuổi ấu nhi:
"Giáo phụ sơ lai. Giáo tử anh hài"
(Dạy con từ thủa còn thơ, dạy vợ từ thủa bơ vơ mới về)
Nhà giáo dục nổi tiếng Italia, bà Maria Montessori đã từng nói: "Nếu sự
cứu rỗi con người thì điều đó phải bắt đầu từ đứa trẻ, bởi vì đứa trẻ là kẻ sáng
tạo hương hồn nhân loại [84, tr.40]. Các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn
cũng đã khẳng định lứa tuổi mầm non là giai đoạn đầu của cuộc sống, các nhà
nghiên cứu cho rằng: "Phi giáo dục mầm non thì bất thành nhân cách". Những
nghiên cứu gần đây về sinh học, nghiên cứu sự tác động của giáo dục đối với
lứa tuổi này lại càng khẳng định vị trí, vai trò của Giáo dục Mầm non là hết
sức quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
Trong bối cảnh hiện nay, Giáo dục Mầm non có nhiều sự đổi thay, bắt
đầu từ Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg về chế độ chính sách cho Giáo dục
Mầm non. Quyết định này như một luồng gió mới đưa Giáo dục Mầm non
bước sang một thời kì mới. Tiếp theo, chương trình giáo dục mầm non được
ban hành năm 2009 đánh dấu sự thay đổi có chiều sâu về chất lượng chăm sóc,
giáo dục trẻ. Năm 2010 đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

thức bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên "
2
Đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam là một tất yếu khách quan
trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Một trong những giải pháp được coi
là khâu đột phá trong đổi mới giáo dục của nước ta là đổi mới công tác quản lý
giáo dục mà nòng cốt là đối với đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục. Chất lượng
đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nói chung, đội ngũ cán bộ quản lý mầm non
nói riêng phụ thuộc vào công tác đào tạo, bồi dưỡng rất nhiều. Có thể thấy
rằng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục dựa vào 3 khâu liên quan chặt
chẽ, mật thiết với nhau, chúng có tác động biện chứng với nhau: phát hiện, lựa
chọn - đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng. Đào tạo và bồi dưỡng là một trong
những khâu quyết định chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục.
Trong những năm qua, giáo dục của tỉnh Hải Dương đã đạt được những
thành tựu nhất định góp phần vào sự nghiệp giáo dục chung, từng bước đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Số lượng trường chuẩn quốc gia
ngày càng tăng, bên cạnh đó, chương trình giáo dục mầm non mới ra đời thay thế
chương trình cũ với mục đích là để phù hợp với sự phát triển của giáo dục Tiểu
học và bắt nhịp kịp thời với xu thế hội nhập của các cấp học cùng với công tác phổ
cập trẻ mẫu giáo 5 tuổi và đặc biệt là công tác quản lý được đổi mới theo hướng
phân cấp rõ ràng giao quyền tự chủ cho cán bộ quản lý đòi hỏi cán bộ quản lý
trường mầm non phải có năng lực quản lý phù hợp mới có thể đáp ứng được sự
phát triển của Giáo dục Mầm non trong giai đoạn hiện nay. Bác Hồ nói “Cán bộ
nào phong trào đó” do vậy, chất lượng của Giáo dục Mầm non có đáp ứng được
yêu cầu đổi mới hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào vào vai trò lãnh đạo, quản lý của
đội ngũ cán bộ quản lý hay nói cách khác người cán bộ quản lý có vai trò quan
trọng trong việc tạo ra chất lượng của Giáo dục Mầm non. Vì vậy, một trong
những nhiệm vụ then chốt được Sở Giáo dục – Đào tạo Hải Dương quan tâm đó là
công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý của các nhà trường. Trong thực tế, đội
ngũ này đã được bồi dưỡng theo chuẩn hiệu trưởng do Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành, tuy nhiên chất lượng cán bộ quản lý nhà trường theo chuẩn hiệu trưởng

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ quản lý trường mầm non theo
chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định trong bối cảnh hiện nay.
4
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ quản lý trường mầm non
tỉnh Hải Dương theo chuẩn hiệu trưởng.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng hiệu trưởng, phó hiệu
trưởng trường mầm non tỉnh Hải Dương theo chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào
tạo trong bối cảnh hiện nay.
4.2. Giới hạn về khách thể khảo sát
Cán bộ quản lý cấp Sở, Phòng và hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường
mầm non.
4.3. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Mạng lưới Giáo dục Mầm non tỉnh Hải Dương bao gồm: Sở giáo dục và
Đào tạo; Phòng Giáo dục và Đào tạo và 315 trường mầm non.
4.4. Giới hạn chủ thể
Có rất nhiều chủ thể như Sở Giáo dục và Đào tạo, phòng Giáo dục và
Đào tạo, các nhà trường. Nhưng đây là đề tài nghiên cứu của phòng Giáo dục
và Đào tạo. Nội dung quản lý bồi dưỡng bao gồm cả nội dung, lực lượng, thời
gian và điều kiện bồi dưỡng nhưng thông qua chức năng quản lý.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý
trường mầm non theo chuẩn hiệu trưởng ở tỉnh Hải Dương còn nhiều hạn chế
và bất cập trước thực tiễn đổi mới căn bản, toàn diện nói chung và Giáo dục
Mầm non nói riêng. Nếu đề xuất và triển khai được một số giải pháp phù hợp
và khả thi sát với thực tiễn của địa phương thì chắc chắn sẽ nâng cao được

tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục ở các trường mầm non hiện nay.
7.1.2. Tiếp cận phức hợp
Việc nghiên cứu quản lý bồi dưỡng cán bộ quản lý trường mầm non dựa
trên nhiều lý thuyết khác nhau như khoa học quản lý giáo dục, lý thuyết phát
triển nhân sự, giáo dục học, tâm lý học trong sự tác động phức hợp giữa
chúng với nhau để nghiên cứu thực tiễn, đề xuất các giải pháp quản lý bồi
dưỡng đội ngũ này một cách có hiệu quả.
7.1.3. Tiếp cận phát triển và theo chuẩn
6
Việc quản lý bồi dưỡng cán bộ quản lý trường mầm non cần được đặt
trong bối cảnh phát triển chung của nền kinh tế - xã hội và của hệ thống giáo
dục cũng như trong quá trình phấn đấu đạt chuẩn và phát triển trên chuẩn hiệu
trưởng trường mầm non trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Thực hiện hồi cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá
trong quá trình nghiên cứu nhiều nguồn tài liệu lý luận, thực tiễn có liên quan
đến công tác bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng cán bộ quản lý nói chung và cán
bộ quản lý trường mầm non trường mầm non nói riêng, bao gồm:
- Các tài liệu, văn kiện của Đảng (Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp
hành Trung ương) và Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành) về phát
triển giáo dục trong đó bàn về vấn đề bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý cán bộ
quản lý nói chung và cán bộ quản lý cán bộ quản lý trường mầm non nói riêng.
- Các kết quả nghiên cứu tài liệu trong và ngoài nước về phát triển giáo
dục, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường, trong đó có đội
ngũ cán bộ quản lý trường mầm non.
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Xây dựng các bảng điều tra phù
hợp với các nội dung nghiên cứu của đề tài. Tổ chức điều tra, thống kê, phân
tích các dữ liệu để rút ra những nhận xét, đánh giá chính xác về đội ngũ cán bộ

non tỉnh Hải Dương theo chuẩn hiệu trưởng trong bối cảnh hiện nay.
- Xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho quản lý bồi dưỡng cán bộ
quản lý trường mầm non của tinh Hải Dương nói riêng và cho các địa phương
khác có điều kiện tương tự.
9. Các luận điểm cần bảo vệ
9.1. Đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non là một trong những lực lượng trụ
cột và quyết định sự thành công của đổi mới Giáo dục Mầm non. Do vậy, đội
ngũ này phải có phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thực hiện tốt nhiệm
vụ được giao đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
8
9.2. Hoạt động bồi dưỡng cho cán bộ quản lý theo chuẩn hiệu trưởng trong bối
cảnh hiện nay phải được quản lý một cách chặt chẽ, bài bản, được tiến hành
một cách có hệ thống, có tổ chức, có kế hoạch. Quản lý bồi dưỡng cán bộ
quản lý trường mầm non theo chuẩn hiệu trưởng theo các chức năng quản lý là
cách thức, là con đường tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý trường mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh
hiện nay.
10. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng cán bộ quản lý trường
mầm non theo chuẩn hiệu trưởng trong bối cảnh hiện nay.
Chương 2: Thực trạng về quản lý bồi dưỡng cán bộ quản lý trường mầm
non tỉnh Hải Dương theo chuẩn hiệu trưởng.
Chương 3: Giải pháp quản lý bồi dưỡng cán bộ quản lý trường mầm
non tỉnh Hải Dương theo chuẩn hiệu trưởng trong bối cảnh hiện nay.
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ
TRƯỜNG MẦM NON THEO CHUẨN HIỆU TRƯỞNG

trọng của nhà lãnh đạo như: tầm nhìn, tự kỉ luật, phát triển đội ngũ nhân sự
[103, tr.10]. Tác giả David Dean, Mark E Anderson đề xuất nội dung chương
trình thiết kế theo chương trình khung và có công cụ hỗ trợ người dạy. Người
học đánh giá quá trình giảng dạy và học tập của mình [31, tr.87]. Nội dung
chương trình cần bám sát nhu cầu thực tiễn, cần nghiên cứu một cách hệ thống
tính chất và vấn đề hoạt động ở mỗi cấp độ quản lý, mỗi cán bộ lãnh đạo, mỗi
chức vụ [107, tr.65]. Chương trình phải được xây dựng trên kinh nghiệm của
người học và dựa vào kinh nghiệm thực tế của người lãnh đạo [107, tr.67].
Một số tác giả người Anh và Mĩ như Mark E Anderson, Sergiovani,
Bulach, Davi dean, leverme Barret vaf Edgar Yoder, McPherson, Wynne và
một số tác giả J.Mayar cuar Hungari và E, Ribaraca của Bungari tập trung nghiên
cứu vào các lỗi lầm mà các nhà quản lý giáo dục dễ mắc phải như: kĩ năng quan
hệ con người kém, kĩ năng quan hệ nội bộ kém, thiếu khả năng nhìn nhận, thất
bại trong việc lãnh đạo và ngăn chặn các mâu thuẫn, thiếu các khía cạnh đạo đức
trong tính cách, thiếu khả năng tạo động lực cho đội ngũ [101, tr.122], tìm ra
nguyên nhân và xác định chủ yếu là do các chương trình đào tạo, bồi dưỡng có
những khiếm khuyết đã không đào tạo, bồi dưỡng họ những vấn đề cần thiết của
công tác quản lý [101, tr.122].
Phương pháp bồi dưỡng cũng được nhiều tác giả quan tâm như:
Harold Koontz, Mark E Anderson, Barret và Yoder (Mĩ), A.Kisel (Đức),
E.Ribaraca (Bungari), McPherson, Wynne, LT.Ôgôrônhicôp, Iu.
K.Babanxki, John Wlutmorre (Anh) Mỗi tác giả đứng ở góc độ khác nhau
để bàn về phương pháp bồi dưỡng, tựu chung lại các tác giả đặc biệt nhấn
mạnh vấn đề về phát huy tính tích cực của đối tượng học. Do vậy các
phương pháp thảo luận nhóm, dựng cảnh, tình huống, mô phỏng, thực hành,
trò chơi, chia sẻ kinh nghiệm được các tác giả nghiên cứu và bàn luận một
cách sâu sắc hay tổ chức cho học viên tham quan, thực tập tại các cơ sở
giáo dục, thực hiện các bài tập thực hành, các tình huống trong quản lý
trường học. Tác giả Barret vaf Edgar Yoder, McPherson, Wynne với quan
điểm "Hiệu trưởng cần được học giao tiếp trong hoàn cảnh cụ thể thay vì

Phản ứng của người học với chương trình đào tạo, bồi dưỡng như thế nào? Người
12
học tiếp thu được kiến thức, kĩ năng gì? Người học áp dụng kiến thức và kĩ
năng được đào tạo, bồi dưỡng vào công việc như thế nào? Tổ chức nhận được
những kết quả gì từ đào tạo, bồi dưỡng? [36, tr.43]. Bàn về vấn đề đánh giá kết
quả bồi dưỡng giáo viên ở Philippin thường dùng các hình thức để bổ trợ cho
nhau như sau: Trắc nghiệm trước và sau khoá bồi dưỡng; Học viên bồi dưỡng
tự đánh giá xếp hạng; Quan sát hoạt động dạy học để đánh giá năng lực của học
viên bồi dưỡng; Đánh giá của các giảng viên bồi dưỡng; Quan sát đánh giá
năng lực của giảng viên bồi dưỡng; Phỏng vấn.
Những nhà nghiên cứu Bungari, tiêu biểu là ông P.Bohvarop cho rằng:
"Hiệu quả thể hiện ở các biến đổi tích cực của người học". Theo ông hiệu quả
đào tạo thể hiện ở hiệu quả học tập, hiệu quả thực tiễn và kinh tế. Hiệu quả
học tập thể hiện mối tương quan gia tăng về tri thức, kĩ năng với các chi phí
cho học tập [31,tr.86].
Các nhà nghiên cứu Rumani cho rằng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
phải thể hiện ở 3 mức độ: Chất lượng được phản ánh thông qua hoạt động
quản lý và hình thành phong cách lãnh đạo mới, phản ứng nhạy bén trước
những biến động xảy ra; Các nghiên cứu khoa học phải có giá trị ứng dụng
thực tiễn; Các nhà lãnh đạo không chỉ biết hành động như một chuyên gia mà
còn là một nhà chính trị có nhãn quan rộng.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu quản lý bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý
nhà trường trong nước
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng
Các tác giả như: Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Bá Lãm, Nguyễn
Quang Thái, Phạm Tất Dong, Nguyễn Cảnh Toàn, Mạc Văn Trang, Trần bá
Hoành, Lê Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Trí, Nguyễn Văn An, Đặng Quốc,Vũ Lan
Hương, Đặng Thành Hưng, La Hồng Huy, Phạm Đỗ Nhật Tiến, Nguyễn Công
Giáp khẳng định về vai trò quan trọng của bồi dưỡng đối với các nhà quản lý
trường học. Các tác giả đã phân tích điểm mạnh, điểm yếu của giáo dục Việt

dưỡng cụ thể cho cán bộ quản lý trường mầm non rất cụ thể như cần phải bồi
dưỡng về các văn bản pháp quy, các kĩ năng quản lý cụ thể trong từng mảng
nội dung công việc; các vấn đề về dinh dưỡng cho trẻ em, công tác phổ cập
14
cho trẻ em năm tuổi, đánh giá tổ chức hoạt động vui chơi, công tác quản lý,
chỉ đạo chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ em tại các cơ
sở giáo dục mầm non vv [2, tr.31]. Tài liệu bồi dưỡng cho hiệu trưởng trường
mầm non do Bộ Giáo dục và Cục nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục
do tác giả Phan Thị Lan Anh và Trần Ngọc Giao phối hợp đã triển khai và
hướng dẫn nội dung bồi dưỡng của từng nội dung Chuẩn hiệu trưởng trường
mầm non [2, tr.31].
Tháng 5 năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xuất bản cuốn tài liệu
hội thảo-Tập huấn, trong đó có đề cập đến nội dung bồi dưỡng cho cán bộ
quản lý trường mầm non để lưu hành nội bộ. Và một trong những căn cứ định
hướng xây dựng chương trình bồi dưỡng cho cán bộ quản lý mầm non đó là
Quy định Chuẩn hiệu trưởng trường mầm non được ban hành theo Thông tư
số17/2011/TT-BGD ĐT ngày 17/4/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Những
nội dung bồi dưỡng mà chương trình đề cập đến theo 5 môđun nhằm "Phát
triển năng lực cho cán bộ quản lý trường mầm non về lãnh đạo và quản lý
trường học, chủ động trong đổi mới lãnh đạo, quản lý để nhà trường trong
bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, biết gắn tầm nhìn với
hành động, phát huy những giá trị của nhà trường và xã hội cho sự nghiệp
phát triển giáo dục và đào tạo với nhiệm vụ trung tâm là nâng cao chất lượng
giáo dục phục vụ công cuộc đổi mới phát triển đất nước trong bối cảnh hội
nhập quốc tế" [7, tr.14-15].
Bàn về phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, các tác giả Nguyễn Duy Hưng,
Trần Thị Bích Liễu, Nguyễn Thị Bích Hạnh, Hoàng Minh Thao, Ngô Quang
Sơn, Phạm Viết Nhụ, Nguyễn Văn Đệ, La Hồng Huy, Nguyễn Duy Hưng, Trần
Bá Hoành đã đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục để từ đó đề ra những giải pháp như đổi mới nội dung, chương trình đào

mục tiêu của hệ thống giáo dục"[77, tr. 52]. Trong "Giáo trình quản lý giáo
dục" của khoa Quản lý giáo dục, trường Đại học Sư phạm cũng chỉ cho các nhà
quản lý thấy rõ các bước lập kế hoạch. trong lập kế hoạch cần sử dụng các
nhóm phương, kĩ thuật như: nhóm phương pháp thu thập thông tin; nhóm
phương pháp và kĩ thuật xử lí thông tin và nhóm phương pháp và kĩ thuật trình
16
bày thông tin. Một trong phương pháp thường được xử lý thông tin là phương
pháp phân tích Swot.
Các tác giả Lê Thị Bạch Tuyết, Phan Thị Châu, Nguyễn Bích Hạnh vv
cũng đã khẳng định sự cần thiết của việc xây dựng kế hoạch. Tác giả Lê Thị
Bạch Tuyết đã viết: "Bàn về vị trí của kế hoạch về mặt vĩ mô, các nhà kinh
điển đã từng đánh giá "Kế hoạch là cương lĩnh thứ 2 của Đảng" [78, tr.57].
Các tác giả kể trên đều chỉ ra những kĩ năng lập kế hoạch chung như thu thập,
xử lý thông tin; xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, cụ thể sắp xếp thứ tự các
vấn đề ưu tiên; xây dựng các mục tiêu, giải pháp thực hiện; phân công, bố trí
con người, thời gian thực hiện; kế hoạch về tài chính vv.
Tác giả Vương Thanh Hương chỉ ra các thách thức trong phát triển đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục, đó là: "Sự thiếu hụt các chương trình đào tạo
chính quy, các chương trình bồi dưỡng bài bản và thống nhất về quản lý giáo
dục để các nhà quản lý giáo dục biết đương đầu với những nhiệm vụ mà họ
đang phải gánh vác trong giai đoạn hội nhập và phát triển khoa học - công
nghệ hiện nay" [47]. Bên cạnh đó, việc lập kế hoạch giáo dục không thành
công cũng được tác giả chỉ ra nguyên nhân do "Những kì vọng quá lớn về phát
triển giáo dục và đào tạo trong một thời gian nhất định dẫn đến kế hoạch,
chiến lược chỉ tồn tại trên giấy tờ"[34] và tác giả chỉ ra rằng: "Giáo dục không
phải là một khoa học chính xác, trong giáo dục tồn tại nhiều yếu tố quản lý,
chính trị và các trở ngại xã hội, do vậy, lập kế hoạch cần giáo dục phải xem
xét trong bối cảnh hài hoà về kinh tế, chính trị, xã hội" [40].
* Tổ chức bồi dưỡng: Nghiên cứu về cách tổ chức bồi dưỡng, phải kể
đến tác giả Nguyễn Trọng Thuyết đã đề cập đến tổ chức đào tạo, bồi dưỡng

đánh giá: "Nếu kiểm tra mà không đánh giá là kiểm tra không có mục đích.
Nếu đánh giá mà không dựa trên kết quả kiểm tra là đánh giá cảm tính, phiến
diện, không có cơ sở khoa học". Do vậy, "muốn đánh giá chất lượng đào tạo
phải dựa vào kết quả kiểm tra" [93, tr. 29-30].
Nghiên cứu về việc áp dụng quản trị theo khung năng lực và nâng cao
chất lượng lãnh đạo khu vực công, tác giả Phùng Xuân Kha và Lê Quân đã
nghiên cứu các khung năng lực lãnh đạo công của Mĩ, Xingapo, Canada,
18
Anh vv. và tiếp cận khung năng lực lãnh đạo công của nước ngoài, vận dụng
vào để dự thảo khung năng lực cho từng chức danh/vị trí lãnh đạo khu vực
công tại Việt Nam, đồng thời hướng dẫn quy trình sử dụng khung năng lực
trong tuyển dụng, đánh giá và đào tạo đạt chuẩn với lãnh đạo khu vực công tại
Việt Nam. Các tác giả hướng dẫn đánh giá năng lực lãnh đạo theo chuẩn, cụ
thể theo thang bậc về các năng lực cần có với chức năng đảm nhận hoặc được
quy hoạch. Việc đánh giá sẽ nhìn nhận rõ được mỗi cá nhân mạnh chuẩn và
yếu trên năng lực nào. Trên cơ sở đó sẽ xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi
dưỡng phục vụ đạt chuẩn [51, tr. 92].
Bàn về đánh giá tác giả La Hồng Huy nhấn mạnh "Phải đặt công tác bồi
dưỡng cán bộ quản lý đúng với vị trí của nó để đầu tư toàn diện cho công tác
này, phải đảm bảo bằng được chất lượng các lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý" và
để kiểm tra hiệu quả của công tác này các nhà quản lý cần phải có một quy
chế đánh giá, kiểm định rõ ràng nên tác giả cho rằng: "Không có một quy chế
đánh giá, kiểm định kết quả bồi dưỡng một cách cụ thể, rõ ràng rồi đánh giá
kết quả theo kiểu bồi dưỡng "Có đi học là đạt" như hiện nay" thì có thể "Quy
kết những tiêu cực trong ngành giáo dục, chạy theo thành tích, thiếu trung
thực" và tác giả khẳng định thực trạng bồi dưỡng cán bộ quản lý chưa hiệu
quả là do "Trong một thời gian dài chúng ta không quan tâm, không đầu tư
thoả đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục" [6, tr.35]. Bàn
về quản lý chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, bà Nguyễn Thị Bình
nguyên Phó Chủ tịch nước Việt Nam cũng đã nhấn mạnh: "Chức năng trong

tạo, bồi dưỡng và cần phải đổi mới mục tiêu, nội dung, phương thức, tổ chức,
kiểm tra, đánh giá bồi dưỡng phù hợp với thực tế của cơ sở giáo dục đang hoạt
động. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến hoạt động
quản lý và các nội dung, phương thức, tổ chức vv của các trường đào tạo, cơ
sở bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục, mà ít nghiên cứu về phương thức bồi
dưỡng của đơn vị Sở Giáo dục và Đào tạo và Phòng Giáo dục và Đào tạo.
Các công trình tập trung nghiên cứu về bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản
lý giáo dục nói chung và cán bộ quản lý tại các nhà trường nói riêng thì nhiều.
Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các nội dung, phương pháp
20
bồi dưỡng cho cán bộ quản lý nhà trường. Còn các công trình bàn đến quản lý
bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục đã ít nhưng bàn đến quản lý bồi dưỡng cán
bộ quản lý trường mầm non không có.
Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục nói
chung phong phú tuy nhiên để nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ quản lý nhà trường nói chung, đặc biệt quản lý hoạt động bồi
dưỡng cán bộ quản lý trường mầm non theo chuẩn hiệu trưởng trường mầm
non mới được ban hành năm 2011 thì vẫn còn là một mảnh đất trống vắng
chưa có đề tài nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi thật sự tâm huyết chọn đề tài
"Quản lý bồi dưỡng cán bộ quản lý trưởng mầm non theo chuẩn hiệu trưởng
trong bối cảnh hiện nay" nhằm tiếp tục khai thác những mặt tích cực của các
lý thuyết quản lý chất lượng, bổ sung và vận dụng trong quá trình quản bồi
dưỡng cho cán bộ quản lý trường mầm non.
1.2. Cán bộ quản lý trường mầm non.
1.2.1. Trường mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.2.1.1. Vị trí của trường mầm non
Trường mầm non là đơn vị cơ sở của bậc giáo dục mầm non trong hệ
thống giáo dục quốc dân. Trường đảm nhận việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
trẻ em nhằm hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em
vào lớp Một. Trường mầm non có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng [22, tr 41].

Theo Điều lệ trường mầm non ban hành theo Quyết định số
14/2008/QĐ-BGD-ĐT ngày 7/4/2008, tại chương II Điều 6 quy định:
1. Nhà trường, nhà trẻ có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
2. Nhà trường, nhà trẻ hỗ trợ các nhóm, lớp mẫu giáo độc lập trên cùng
một địa bàn theo sự phân công của cấp có thẩm quyền và thực hiện các nhiệm
vụ nêu tại Điều 2 của Điều lệ này.
1.2.2. Cán bộ quản lý trường mầm non
1.2.2.1. Khái niệm về cán bộ quản lý
Theo từ điển Tiếng Việt, cán bộ quản lý là: "Người làm công tác có
chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức
vụ" [79, tr.45].
Cán bộ quản lý gồm 2 loại:
22
Loại thứ nhất: Cán bộ quản lý của các cấp quản lý giáo dục (từ cơ quan
ngang Bộ tới phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thị, thành phố). Đây là
đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục tham gia hoạch định các chính sách vĩ mô về
giáo dục và đào tạo hoặc cụ thể hoá và thực thi chính sách giáo dục và đào tạo.
Loại thứ hai: Cán bộ quản lý trường học là đội ngũ cán bộ quản lý điều
hành thực hiện quá trình giáo dục tại các trường học, các cơ sở giáo dục.
Cán bộ quản lý được đề cập trong luận án là cán bộ quản lý trường mầm
non bao gồm: Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng.
Cán bộ quản lý là chủ thể quản lý gồm những người giữ vai trò tác
động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý. Cán bộ quản lý là người chỉ huy,
lãnh đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức. Người quản lý
vừa là người lãnh đạo, quản lý các cơ quan đó, vừa là người chịu sự lãnh đạo,
quản lý của cấp trên.
Cán bộ quản lý có thể là cấp trưởng hoặc cấp phó của một tổ chức được
cơ quan cấp trên bổ nhiệm bằng quyết định hành chính Nhà nước. Cấp phó
giúp việc cho cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và chịu trách
nhiệm trước pháp luật về công việc được phân công.

ngày 10 tháng 2 năm 2011 về việc sửa đổi một số Điều trong Điều lệ trường
mầm non đã quy định rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu
trưởng trường mầm non như sau:
1. Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ là người chịu trách nhiệm tổ chức,
quản lý các hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em
của nhà trường, nhà trẻ.
2. Hiệu trưởng do Trưởng phòng giáo dục và đào tạo bổ nhiệm đối với
nhà trường, nhà trẻ công lập, công nhận đối với nhà trường, nhà trẻ dân lập, tư
thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền.
Nhiệm kỳ của Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ là 5 năm. Sau 5 năm,
Hiệu trưởng được đánh giá và có thể bổ nhiệm lại hoặc công nhận lại. Đối với
nhà trường, nhà trẻ công lập, mỗi Hiệu trưởng chỉ được giao quản lí một nhà
trường hoặc một nhà trẻ không quá hai nhiệm kì.
Sau mỗi năm học, mỗi nhiệm kì công tác, Hiệu trưởng nhà trường, nhà
24
trẻ được cán bộ, giáo viên trong trường và cấp có thẩm quyền đánh giá về
công tác quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường theo
quy định”.
3. Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Hiệu trưởng nhà trường,
nhà trẻ phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
a) Có trình độ chuẩn được đào tạo là có bằng trung cấp sư phạm mầm
non, có ít nhất 5 năm công tác liên tục trong giáo dục mầm non. Trường hợp
do yêu cầu đặc biệt của công việc, người được bổ nhiệm hoặc công nhận là
Hiệu trưởng có thể có thời gian công tác trong giáo dục mầm non ít hơn theo
quy định;
b) Đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý; có uy tín về
phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực tổ
chức, quản lý nhà trường, nhà trẻ và có sức khoẻ.
4. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng
a) Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status