Quản lý các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên Cao Lộc, Lạng Sơn trong bối cảnh hiện nay - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẶNG THỊ KIM TUYẾN QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG Ở
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN CAO LỘC, LẠNG SƠN
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC


HÀ NỘI – 2013

i
LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Giáo dục – Đại
học Quốc gia Hà Nội và các quý Thầy, Cô giảng dạy trong chương trình cao học
đã tận tình dạy bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa học.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Tiến sĩ Nguyễn Quang Tháp đã hướng
dẫn cho em trong thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ.
Xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị em đồng nghiệp đã động viên,
cổ vũ nhiệt tình cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề
tài của mình.
Xin gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè và tất cả những người thân yêu đã
luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng với điều kiện nghiên cứu còn nhiều
hạn chế, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận
được sự đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và đồng nghiệp.

Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Tác giả
Đặng Thị Kim Tuyến


:
Giáo dục thường xuyên
GV
:
Giáo viên
HV
:
Học viên
KCQ
:
Không chính quy
KHCN
:
Khoa học công nghệ
KT-XH
:
Kinh tế - xã hội
NV
:
Nhân viên
THCS
:
Trung học cơ sở
THPT
:
Trung học phổ thông
UBND
:
Ủy ban nhân dân
XHHT


6
1.1. Sơ lược một số nét về vấn đề nghiên cứu
6
1.1.1. Những nghiên cứu về giáo dục thường xuyên
6
1.1.2. Những nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng ở trung tâm GDTX
9
1.2. Một số khái niệm
12
1.2.1. Quản lý và quản lý cơ sở giáo dục
12
1.2.2. Giáo dục thường xuyên
17
1.2.3. Đào tạo và bồi dưỡng
19
1.3. Quản lý giáo dục thường xuyên
21
1.3.1. Trung tâm GDTX
21
1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của trung tâm GDTX
22
1.3.3. Chương trình, nội dung, phương pháp GDTX
23
1.4. Quản lý các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
25
1.4.1. Phân tích bối cảnh và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
25
1.4.2. Xác định hệ mục tiêu đào tạo
25

2.1.2. Tình hình giáo dục - đào tạo
36
2.2. Một vài nét về Trung tâm GDTX Cao Lộc, Lạng Sơn
37
2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển
37
2.2.2. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên
38
2.2.3. Các loại hình đào tạo, bồi dưỡng của Trung tâm GDTX Cao Lộc
39
2.3. Thực trạng quản lý các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng ở Trung
tâm GDTX Cao Lộc, Lạng Sơn

43
2.3.1. Công tác tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của
Trung tâm GDTX Cao Lộc

43
2.3.2. Việc quản lý và phối hợp quản lý công tác tuyển sinh
44
2.3.3. Việc quản lý và phối hợp quản lý các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
46
2.3.4. Công tác quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học
53
2.4. Đánh giá chung (phân tích SWOT)
56
2.4.1. Mặt mạnh
56
2.4.2. Mặt yếu
56


68
3.2.3. Xây dựng chương trình học tập phù hợp cho mọi tầng lớp nhân
dân, nghiên cứu và triển khai các hình thức học tập phù hợp với thời
gian của người học 72
3.2.4. Bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội
ngũ cán bộ, giáo viên của Trung tâm

74
3.2.5. Tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
đáp ứng được nhiều lĩnh vực giáo dục, đào tạo

77
3.2.6. Xây dựng mối liên kết giữa Trung tâm với các đơn vị, doanh
nghiệp trên và ngoài địa bàn huyện nhằm giải quyết đầu ra cho học
viên của Trung tâm 79
3.2.7. Tăng cường xã hội hoá công tác đào tạo, bồi dưỡng
81
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
83
3.4. Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
đã đề xuất

84

GDTX Cao Lộc từ năm học 2008-2009 đến năm học 2012-2013 41
Bảng 2.2. Tỉ lệ HV ngoài Trung tâm ở các lớp đào tạo, bồi dưỡng (%) 42
Bảng 2.3. Kết quả khảo sát về mức độ và hiệu quả công tác quản lý và
phối hợp quản lý quá trình học tập của HV 48
Bảng 2.4. Kết quả khảo sát về hiệu quả của việc quản lý và phối hợp
quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HV 52
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát mức độ đáp ứng về CSVC, thiết bị dạy học 54
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp
đã đề xuất…………………………………………………………………….85
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đã đề
xuất………………………………………………………………………… 87


Cùng với giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy (giáo dục
thường xuyên) có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực đủ về
số lượng, đảm bảo về chất lượng và hợp lý về cơ cấu để đi trước, đón đầu cho
việc thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và chủ động hội nhập
quốc tế. Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã chỉ rõ “Phát triển giáo
dục thường xuyên tạo cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời, phù hợp
với hoàn cảnh và điều kiện của mình; bước đầu hình thành xã hội học tập.
Chất lượng giáo dục thường xuyên được nâng cao, giúp người học có kiến
thức, kỹ năng thiết thực để tự tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp, nâng
cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần.”. Đồng thời phải “Phát triển
các trung tâm giáo dục thường xuyên theo hướng mỗi huyện có một trung tâm
thực hiện các nhiệm vụ: Giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp, dạy nghề.”
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới, là nơi chung sống của đồng
bào nhiều dân tộc, kinh tế còn chậm phát triển, đời sống nhân dân còn gặp

2
nhiều khó khăn, đặc biệt là mặt bằng dân trí thấp, chất lượng nguồn nhân lực
còn nhiều hạn chế. Trong những năm vừa qua cùng với nỗ lực chung của toàn
ngành, giáo dục thường xuyên đã không ngừng lớn mạnh, có những chuyển
biến tích cực về chất, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao dân trí, mở rộng
cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao chất lượng đời sống cho nhân dân. Tuy
nhiên có một thực tế đáng báo động với hầu hết các trung tâm giáo dục
thường xuyên trong đó có trung tâm giáo dục thường xuyên Cao Lộc đó là
việc thực hiện chưa đúng và trúng nhiệm vụ của giáo dục thường xuyên bởi
hoạt động trọng tâm của Trung tâm chỉ là dạy chương trình GDTX cấp THPT
còn các hoạt động khác hết sức nghèo nàn. Điều này càng đáng lo ngại hơn
khi quy mô các trường trung học phổ thông trên và ngoài địa bàn huyện ngày
càng được mở rộng, có đủ điều kiện về đội ngũ và cơ sở vật chất để đáp ứng
nhu cầu học tập của hầu hết học sinh trong độ tuổi. Trong khi đó trình độ dân
trí chưa đủ để đáp ứng những đòi hỏi về nghề nghiệp trong điều kiện hiện

Việc đề xuất và thực thi từng bước các biện pháp quản lý trên cơ sở
khoa học quản lý giáo dục hiện đại, phù hợp với thực tiễn địa phương sẽ góp
phần nâng cao chất lượng quản lý các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng ở trung
tâm GDTX Cao Lộc, Lạng Sơn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của
địa phương trong bối cảnh hiện nay.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Về không gian: trung tâm GDTX Cao Lộc, Lạng Sơn.
6.2. Về thời gian: Từ năm học 2008-2009 đến nay.
6.3. Về nội dung: Công tác quản lý các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng ở trung
tâm GDTX Cao Lộc, Lạng Sơn của Giám đốc Trung tâm.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hoá các tri thức về việc quản lý các hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng ở trung tâm GDTX.

4
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất những biện pháp phù hợp với thực tế và có tính khả thi góp
phần thực hiện có hiệu quả việc quản lý các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng ở
trung tâm GDTX Cao Lộc, Lạng Sơn.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Kết hợp nhóm các phương pháp nghiên cứu sau:
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các tài liệu
lý luận và pháp lý về GDTX để xác định các khái niệm công cụ và hình thành
cơ sở lý thuyết cho đề tài.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động quản lý của đội ngũ
CBQL trung tâm GDTX Cao Lộc, nhằm có những thông tin thực tế để đánh giá
đúng thực trạng quản lý các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của trung tâm.

tâm GDTX Cao Lộc, Lạng Sơn trong bối cảnh hiện nay. 6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO,
BỒI DƢỠNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN

1.1. Sơ lƣợc một số nét về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Những nghiên cứu về giáo dục thường xuyên
Giáo dục thường xuyên (GDTX) là vấn đề được các nhà khoa học của
nhiều quốc gia dành tâm huyết nghiên cứu. Thực tiễn cho thấy khi nghiên cứu
về GDTX các tác giả thường đề cập tới những vấn đề có liên quan mật thiết
đó là xây dựng xã hội học tập (XHHT) và giáo dục cho mọi người. Bởi vì
mục tiêu xây dựng XHHT và thực hiện giáo dục cho mọi người đặt ra nhiệm
vụ tổ chức và thực hiện GDTX trong đó có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng.
Một công trình được thế giới thừa nhận như một triết lý của giáo dục
thể kỉ XXI là Báo cáo của Ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỉ XXI, dưới sự
chủ tọa của Jacques Delors, nguyên Chủ tịch Ủy ban Châu Âu (EC) nhiệm kì
1985-1995 và được UNESCO công bố tháng 4 năm 1996 với tên gọi “Học
tập, một kho báu tiềm ẩn”. Chương V của Báo cáo này đã đề cập tới triết lý
của một nền giáo dục cần thiết cho thế kỉ XXI: Học tập suốt đời và XHHT.
Học tập suốt đời được coi là chìa khóa mở cửa vào thế kỉ XXI, hình thành
quan niệm mới về giáo dục ban đầu và giáo dục tiếp tục. Học tập suốt đời gắn

nền giáo dục Nhật Bản đã cải cách theo xu thế mở ra các điều kiện để mọi
người dân được học suốt đời. Trong những năm 1984-1987, Nhật Bản đã đề
ra chủ trương: Phải xây dựng một thể chế giáo dục suốt đời quá độ sang hệ
thống giáo dục mới ổn định. Năm 1998 Bộ Giáo dục Nhật đã công bố sách
trắng, trong đó khẳng định: Nhật Bản đang đối diện với mục tiêu của việc cải
cách giáo dục cho thế kỉ XXI chính là thực hiện một XHHT suốt đời.
Tại Hàn Quốc, ngày 31-5-1995, Hội đồng về cải cách giáo dục (PCER)
đã nghiên cứu và cho xuất bản cuốn sách “Hệ thống giáo dục mới” mà điểm

8
cơ bản là xây dựng một xã hội sống động và mở cửa. Một trong những hướng
ưu tiên của chương trình cải cách này là đa dạng hóa các loại hình giáo dục,
tạo ra nhiều cơ hội giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân được lựa chọn. Một
trong những việc làm ngay của Hàn Quốc trong cải cách giáo dục này là
thành lập các trung tâm đa phương tiện quốc gia, qua đó người dân có thể tiếp
cận và sử dụng các phương tiện thông tin hiện đại vào việc học tập của mình.
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đề cập tới xu thế học tập
suốt đời và XHHT trong quá trình đổi mới và chấn hưng nền giáo dục nước
nhà với các tên tuổi tiêu biểu như Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Đặng
Quốc Bảo, Vũ Ngọc Hải v.v . Ở đây không thể không kể đến các công trình
tổng kết lĩnh vực GDTX của Viện Khoa học Giáo dục, Vụ GDTX [2], [22].
Các công trình này đã đề cập tới nhiều vấn đề của GDTX như: chương trình
xóa mù, chương trình tương đương, nâng cao chất lượng cuộc sống, đáp ứng
sở thích cá nhân, tạo thu nhập, hướng tới tương lai; định hướng phát triển
GDTX ở Việt Nam trong tương lai.
Trong thực tiễn, vấn đề giáo dục KCQ và GDTX được triển khai ngay
từ những năm 1945 và phát triển khá mạnh mẽ. Có thể tóm lược quá trình
phát triển lĩnh vực GDTX từ trước tới nay thành bốn thời kì với ba loại hình
giáo dục đặc trưng: Thời kì bình dân học vụ (9/1945 - 9/1959) với tư tưởng
lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy,

Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng ở trung tâm GDTX hay nói cách khác là
việc đa dạng hóa các loại hình hoạt động là một trong những hình thức của
các xu thế phát triển GDTX.
Tại Hội thảo “Chương trình giáo dục cho mọi người ở Châu Á-Thái
Bình Dương” tổ chức tại Australia tháng 11/1987 UNESCO đã đưa ra quan
niệm “GDTX bao gồm tất cả các cơ hội học tập mà mọi người đều mong
muốn hoặc cần có sau xóa mù chữ cơ bản và giáo dục tiểu học.” [21].

10
Việc cung ứng các cơ hội học tập tiếp theo chương trình sau xóa mù
chữ có nhiều chương trình khác nhau mà nhiều nước thực hiện như:
- Chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống;
- Chương trình tương đương;
- Chương trình tạo thu nhập;
- Chương trình đáp ứng sở thích cá nhân;
- Chương trình định hướng tương lai.
Do vậy, giáo dục thường xuyên thực hiện 4 chức năng chính [9]:
- Chức năng thay thế: tạo cơ hội học tập thứ hai cho những ai chưa bao
giờ đi học, từ đó góp phần vào việc mang lại công bằng xã hội và bình đẳng
trong giáo dục;
- Chức năng nối tiếp: với những người bỏ học giữa chừng vì lý do nào
đó, giáo dục thường xuyên nối lại sự đứt đoạn trong quá trình học tập của họ,
làm cho việc học tập lại được thực hiện tiếp tục, liền mạch;
- Chức năng bổ sung: những người đã được cung ứng những tri thức và
kỹ năng nhờ quá trình giáo dục chính quy hoặc không chính quy thường luôn
luôn thấy bản thân còn thiếu hụt những kiến thức, những kỹ năng nào đó
trong quá trình lao động, giao lưu xã hội… Sự thiếu hụt này làm cho họ khó
thích nghi, khó phát triển trong điều kiện xã hội thay đổi nhanh chóng về các
phương diện sản xuất, kinh doanh, quan hệ đối ngoại… Thực tiễn đó yêu cầu
con người phải cập nhật những hiểu biết, những phương pháp làm việc… cần

rộng quy mô hợp lý, nâng cao chất lượng, năng lực của các trung tâm giáo dục
thường xuyên cấp tỉnh, cấp huyện đã được thành lập” và “phát triển các trung
tâm giáo dục thường xuyên theo hướng mỗi huyện có một trung tâm thực hiện
các nhiệm vụ: Giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp, dạy nghề.” [4]
Ngày 17/3/2013, tại Thành phố Điện Biên đã diễn ra Hội nghị Câu lạc
bộ Giám đốc trung tâm GDTX các tỉnh, thành phố với chủ đề “GDTX với

12
nhiệm vụ xây dựng XHHT và học tập suốt đời”. Phát biểu và chỉ đạo Hội
nghị, Thứ trưởng bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển đã nhấn mạnh rằng: đội ngũ
cán bộ quản lý, GV các trung tâm GDTX cần năng động tích cực trong công
tác khảo sát, điều tra nhu cầu học tập đa dạng ở từng địa phương để xây dựng
các mô hình hoạt động phù hợp. [18]
Những năm gần đây, nhiều luận văn, luận án chuyên ngành Quản lý
Giáo dục đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến GDTX như phát triển đội
ngũ, xã hội hóa giáo dục, quản lý công tác liên kết đào tạo tại chức Song
nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn về quản lý các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
ở một trung tâm GDTX cấp huyện chưa được nghiên cứu một cách có hệ
thống, trong khi đó sự tồn tại của mô hình này là một đòi hỏi tất yếu, một xu
hướng phát triển của GDTX.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1. Quản lý và quản lý cơ sở giáo dục
1.2.1.1. Quản lý
Quản lý là một hoạt động đặc biệt, gắn liền với quá trình phát triển của
đời sống xã hội. Sự phân công, hợp tác trong lao động giúp đạt năng suất cao
trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra tức là
phải có người đứng đầu. Hoạt động quản lý được nảy sinh từ nhu cầu đó.
Theo C.Marx, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa
lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều
thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý (con người điều khiển

Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người
quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Bản
chất của hoạt động quản lý có thể mô hình hoá qua sơ đồ sau:

14
Sơ đồ: 1.1. Mô hình quản lý
Trong đó:
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức.
Khách thể (đối tượng) quản lý là những con người cụ thể và sự hình
thành tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác
nhau.
Công cụ quản lý và phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách
thể quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ
Phương pháp quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau. Nó có
thể là do nhà quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách
thể quản lý.
Quản lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Các chức năng chính của hoạt động quản lý luôn được thực hiện liên tiếp, đan
xen vào nhau, phối hợp và bổ xung cho nhau tạo thành chu trình quản lý.
Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn,
nó vừa là điều kiện vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện
chức năng quản lý và ra quyết định quản lý “không có thông tin không có
quản lý” – Nguyễn Quốc Chí.
Mối liên hệ các chức năng quản lý được thực hiện qua sơ đồ sau:

học vì các hoạt động quản lý có tổ chức, có định hướng dựa trên những quy
luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể. Đồng thời quản lý
cũng là một nghệ thuật vì nó vận dụng sáng tạo trên những điều kiện cụ thể
trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong xã hội.
Quản lý là một trong những hoạt động vừa khó khăn vừa phức tạp lại có ý
nghĩa trong sự phát triển hay trì trệ của mọi tổ chức. Quản lý đúng đắn sẽ giúp
cho các tổ chức hạn chế được các nhược điểm của mình, liên kết gắn bó mọi
con người trong tổ chức, tạo niềm tin, sức mạnh và truyền thống của tổ chức.
1.2.1.2. Quản lý cơ sở giáo dục
Quản lý cơ sở giáo dục (quản lý nhà trường) là một bộ phận trong quản
lý giáo dục. Cơ sở giáo dục chính là nơi tiến hành các quá trình giáo dục có
nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định, thực hiện tối đa
một quy luật tiến bộ xã hội là: thế hệ đi sau phải lĩnh hội được tất cả những
Chỉ đạo

16
kinh nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích lũy và truyền lại, đồng thời
phải làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó.
Trong tác phẩm “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục”,
M.I.Kônđacốp đã viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu
quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội – sư phạm
chuyên biệt. Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và
hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm
đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội – kinh tế, tổ chức – sư phạm của
quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang trưởng thành” [12, tr. 373].
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc thì: Quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục,
mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh [16].
Nhà quản lý ở mỗi loại hình, mỗi bậc học sẽ phải đảm bảo vận dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status