Một số giải pháp quản lý công tác liên kết đào tạo đại học ở trung tâm giáo dục thường xuyên quảng bình - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
LIÊN KẾT ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC Ở TRUNG TÂM
GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Thái Văn Thành

NGHỆ AN, NĂM 2015


LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả của Luận văn thạc sỹ này, trước hết bằng những
tình cảm chân thành của mình, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến đến
PGS.TS Thái Văn Thành, Thầy đã tận giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn cho
tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Khoa Giáo dục, Phòng đào tạo sau đại học, Hội
đồng khoa học, Ban giám hiệu, các giảng viên của Trường Đại học Vinh đã
tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo, cán bộ
văn phòng UBND tỉnh và Sở Giáo dục & Đào tạo Quảng Bình; giảng viên
của các trường Đại học về giảng dạy tại Trung tâm GDTX Quảng Bình, cùng
toàn thể cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên của Trung tâm GDTX Quảng

Một số vấn đề về quản lý công tác LKĐT Đại học ở Trung tâm
1.4 GDTX cấp tỉnh

23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC LIÊN KẾT ĐÀO
TẠO ĐẠI HỌC Ở TRUNG TÂM GDTX QUẢNG BÌNH

2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội, giáo dục tỉnh Quảng Bình
2.2 Khái quát về điều tra thực trạng
Thực trạng quản lý công tác LKĐT Đại học ở Trung tâm GDTX
2.3 Quảng Bình
Thực trạng các giải pháp quản lý công tác LKĐT Đại học ở
2.4 Trung tâm GDTX Quảng Bình
2.5 Đánh giá chung về thực trạng
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC LIÊN KẾT ĐÀO
TẠO ĐẠI HỌC Ở TRUNG TÂM GDTX QUẢNG BÌNH

3.1 Những nguyên tắc đề xuất giải pháp
Các giải pháp quản lý công tác LKĐT Đại học ở Trung tâm
3.2 GDTX Quảng Bình
3.3 Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất

17

29
36
36
53
54


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

STT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.

Viết đầy đủ
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH, HĐH

Giáo dục thường xuyên

GDTX

Xã hội học tập

XHHT

Giáo dục & Đào tạo


12. United Nations Educational, scientific

and Cultural Organization.
13.
14.

Viết tắt

UNESCO

Cán bộ quản lý

CBQL

Ủy ban nhân dân

UBND

15. Giáo viên

GV


6

16.
17.
18.
19.

con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta khẳng định con người và việc phát triển
nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định cho sự phát triển
bền vững, bảo đảm thắng lợi của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước và hội nhập quốc tế.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: “Về giáo dục
và đào tạo, chúng ta phấn đấu để lĩnh vực này cùng với khoa học và công
nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, thông qua việc đổi mới toàn diện giáo
dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo
dục Việt Nam....”.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định:
Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực
chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát


7

triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô
hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển
nhanh, hiệu quả và bền vững.
Trong việc đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất
lượng cao đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện nay, giáo dục Đại học có vai trò
rất quan trọng, Chỉ thị số 296/CT-TTg, ngày 27/02/2010 của Thủ tướng
Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục Đại học giai đoạn 2010-2012 đã nêu
rõ: “...Giáo dục đại học nước ta đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa
dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo, nguồn nhân lực xã hội được
huy động nhiều hơn và đạt được nhiều kết quả tích cực, cung cấp nguồn nhân
lực trình độ cao cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, góp phần quan trọng
tạo nên sự tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng
và hội nhập quốc tế thắng lợi” [4, 1].

thống giáo dục quốc dân, trở thành một phương thức đào tạo không thể thiếu
bên cạnh hình thức chính quy trong hệ thông giáo dục Đại học.
Từ thực tiễn cho thấy, việc LKĐT ở các Trung tâm GDTX cấp tỉnh có vị
trí, vai trò khá quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực trình độ đại học cho
các địa phương, bởi thực hiện nhiệm vụ này là tạo cơ hội học tập cho nhiều
đối tượng có nhu cầu học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà
không có điều kiện để tham gia học tập hệ chính quy; giúp người học giảm
bớt gánh nặng về tài chính do được đào tạo tại địa phương; giúp cho địa
phương chủ động trong việc đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo về cơ cấu, số
lượng, chất lượng đào tạo, đồng thời giảm gánh nặng phần ngân sách đầu tư
cho đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, thông qua đó cũng góp phần thực
hiện tốt công bằng và xã hội hóa giáo dục. Điều quan trọng nhất là LKĐT Đại
học tại địa phương sẽ giải quyết được bài toán giữa đào tạo và sử dụng sản
phẩm của đào tạo (địa phương cần cái gì thì đào tạo cái đó)...


9

Thực hiện nhiệm vụ “Liên kết, hỗ trợ các trường Trung cấp chuyên
nghiệp, Cao đẳng, Đại học (TCCN, CĐ, ĐH) tổ chức thực hiện chương trình
đào tạo không chính quy ở địa phương”, đồng thời để đáp ứng yêu cầu đào
tạo nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội (KT-XH) của
tỉnh Quảng Bình, từ ngày thành lập (10/01/1997) đến nay (tháng 03/2015),
Trung tâm GDTX Quảng Bình đã và đang liên kết với hơn 20 trường Đại học,
hịc viện có uy tín, chất lượng cao trên cả nước để mở lớp đào tạo với 37
chuyên ngành thuộc các lĩnh vực kinh tế, xã hội, kỹ thuật, sư phạm, ngoại
ngữ,... đã tạo cơ hội thuận lợi cho gần 12.000 người tham gia học Đại học;
phối hợp với các trường, các cơ sở giáo dục tổ chức bồi dưỡng cho 13.954 lượt
người được cập nhật kiến thức, kỹ năng mới, góp phần đào tạo nguồn nhân lực


Vấn đề quản lý công tác LKĐT Đại học ở Trung tâm GDTX cấp tỉnh
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý công tác LKĐT Đại học ở Trung tâm GDTX Quảng Bình
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các giải pháp đảm bảo tính khoa học, có tính khả thi
thì hiệu quả quản lý công tác LKĐT Đại học ở Trung tâm GDTX Quảng Bình
sẽ được nâng cao
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý công tác LKĐT Đại
học ở Trung tâm GDTX cấp tỉnh
5.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý công tác LKĐT Đại
học ở Trung tâm GDTX Quảng Bình
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác LKĐT Đại học ở Trung
tâm GDTX Quảng Bình
6. Phương pháp nghiên cứu


11

6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp phân tích và
tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết, mô hình hoá để thực hiện nhiệm
vụ nghiên cứu lý luận của đề tài.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
6.3. Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu thu được
7. Đóng góp của luận văn

Tây đã coi trọng và phát triển GDTX để tiến tới xây dựng “xã hội học tập” là
xã hội mà trong đó mọi người được học tập thường xuyên, học liên tục và học
suốt đời. Sau đó GDTX mới bắt đầu được quan tâm ở các nước đang phát


13

triển bởi các nước này ý thức được rằng, đầu tư vào nguồn vốn nhân lực được
coi là đầu tư cho phát triển. Đầu tư vào nguồn nhân lực không chỉ đơn giản là
đầu tư cho giáo dục phổ thông, giáo dục thế hệ trẻ ở các cấp học, mà còn là
đầu tư cho người lớn, đầu tư vào việc tăng lượng kiến thức, năng lực cho đội
ngũ lao động hiện có.
Tháng 7/1997 tại Humburg - Đức, Hội nghị lần thứ V về giáo dục người
lớn gồm các vị lãnh đạo Nhà nước, những người đứng đầu Chính phủ, phi
chính phủ và các tổ chức quần chúng, xã hội khác đã khẳng định: Vai trò giáo
dục của người lớn đó là chìa khóa để bước vào thế kỷ XXI. Thừa nhận sự
đóng góp to lớn của GDTX đối với việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát
triển KT-XH ở mỗi nước cũng như việc xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi
trường sinh thái và đối với sự phát triển cá nhân mỗi người.
Ngày nay, GDTX được đặt trong bối cảnh toàn thế giới có những thay đổi
lớn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,... do quá trình toàn cầu
hóa, sự phát triển vượt trội của khoa học kỹ thuật và công nghệ. Sự xuất hiện
của nền kinh tế tri thức, xã hội thông tin đã và đang tạo ra những cơ hội,
nhưng đồng thời cũng là thách thức mới đối với GDTX ở tất cả các nước phát
triển cũng như đang phát triển. GDTX trở nên cần thiết và quan trọng hơn bao
giờ hết nhằm giải quyết những vấn đề của thời đại như sự gia tăng nạn thất
nghiệp, ô nhiễm môi trường, sự cách biệt giữa các nhóm xã hội khác nhau về
văn hóa, sắc tộc, tôn giáo và thu nhập. GDTX được coi là chìa khóa dẫn đến
thành công trong thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học còn cho rằng thế kỷ XXI là
thế kỷ của GDTX.

được học tập và chính lực lượng đó đã góp phần quan trọng trong việc thúc
đẩy phát triển KT-XH của đất nước.
Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương, chính sách phát triển
giáo dục, đặc biệt là GDTX nhằm giúp nhiều người được học tập, thu hút
nhiều người tham gia xây dựng giáo dục, hướng tới một XHHT như đã nêu tại


15

Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa V tại Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986); Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII
(1993); Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (1996); Luật Giáo dục (2005);
Nghị quyết Đại hội IX (2001); Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng X (2006); Báo
cáo Chính trị Đại hội Đảng XI (2011).
Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng VI (1986) đã khẳng định vai trò của Giáo
dục không chính quy (GDKCQ) trong hệ thống giáo dục “...bố trí hợp lý cơ
cấu hệ thống giáo dục, thể hiện tinh thần thống nhất của quá trình giáo dục,
bao gồm nhiều hình thức đào tạo và bồi dưỡng, chính quy và không chính
quy”; “...Phát triển các hình thức giáo dục từ xa” [7;67].
... Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1993) đã đặt ra yêu cầu “cần phải
thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người” và xác định “học
tập suốt đời là quyền lợi, trách nhiệm của mỗi người dân” [8;56]
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (1996) với chủ trương thực hiện công
bằng trong giáo dục “tạo điều kiện để ai cũng được học hành”; “tạo cơ hội
cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh
của mình” và “phát động phong trào rộng khắp toàn dân học tập, người người
đi học, học ở lớp và tự học suốt đời; người biết dạy người chưa biết, người
biết nhiều dạy người biết ít, mỗi người phải không ngừng nâng cao trình độ
học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ; phát triển các hình thức giáo dục từ xa; tiếp
tục đa dạng hóa các hình thức giáo dục và các loại hình trường học với đòi

“giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”...
Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng XI (2011) định hướng: “... Đẩy mạnh
phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; mở rộng các
phương thức đào tạo từ xa và hệ thống các trung tâm học tập cộng đồng, trung
tâm giáo dục thường xuyên. Thực hiện tốt bình đẳng về cơ hội học tập và các
chính sách xã hội trong giáo dục” [8;132]


17

GDTX ở Việt Nam đã có quá trình đồng hành cùng dân tộc, từ bình dân
học vụ đến BTVH và ngày nay là ngành học GDTX. Xu thế của thời đại là
hội nhập, đa phương hóa, đa dạng hóa, vì vậy giáo dục trong nhà trường chỉ
có ý nghĩa là giáo dục ban đầu. Một con người cụ thể, một quốc gia cụ thể
muốn khẳng định mình không thể không tự vươn lên bằng chính sức lực của
mình. Muốn vậy, là phải học, học suốt đời; mọi người phải học, mọi nhà phải
học, mọi ngành phải học, cả nước phải học. Sự ra đời của các trung tâm
GDTX là tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của mọi đối tượng xã hội.
Thế nhưng, từ trước đến nay có rất ít đề tài, công trình nghiên cứu đề cập
tới quản lý LKĐT Đại học theo phương thức GDTX. Nếu có thì vấn đề này
mới chỉ được đề cập trong khuôn khổ các bài báo hoặc tạp chí của ngành giáo
dục. Người ta kêu nhiều, phê phán nhiều về chất lượng đào tạo của phương
thức GDTX. Mặc dù, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách
phát triển GDTX và cũng đã có rất nhiều hội thảo về phát triển GDTX ở
nhiều gốc độ khác nhau, nhưng lại có quá ít ý kiến đưa ra các giải pháp tích
cực về quản lý công tác LKĐT theo phương thức GDTX đem lại hiệu quả.
Cho đến nay, quản lý công tác LKĐT vẫn còn tùy thuộc vào từng địa
phương, từng nhà trường, từng ngành và chưa mang tính thống nhất, tính
pháp lý bắt buộc. Chất lượng đào tạo theo phương thức GDTX còn có rất
nhiều vấn đề phải bàn. Nhưng trên thực tế, phương thức GDTX đã, đang phát

cứu khoa học để tìm ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn quản lý công tác
LKĐT Đại học ở Trung tâm GDTX Quảng Bình hiện nay, vì vậy, tác giả đi
vào nghiên cứu “Một số giải pháp quản lý công tác LKĐT Đại học ở Trung
tâm GDTX Quảng Bình” nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý công tác
LKĐT Đại học của Trung tâm. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cơ sở khoa
học cho định hướng phát triển GD&ĐT của tỉnh Quảng Bình trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
1.2. Một số khái niệm cơ bản


19

1.2.1. Khái niệm về Giáo dục thường xuyên
GDTX những năm gần đây được coi là một trong những "cửa vào" của
giáo dục, một "lối mở cơ hội" cho nền giáo dục mới. GDTX góp phần tăng
quy mô đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện ý tưởng giáo dục suốt đời, tạo điều
kiện cho mọi người được học để nâng cao trình độ nhận thức cũng như nghiệp
vụ, thực hiện sự bình đẳng về cơ hội học tập và dân chủ hoá giáo dục. Nói
cách khác, GDTX tăng cường nguồn nhân lực có chất lượng cao cho xã hội
cũng có nghĩa là tăng cường hiệu quả cho nền kinh tế.
Theo luật Giáo dục 2005 (sửa đổi bổ sung 2009), “GDTX là phương
thức giáo dục giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời
nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn,
chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo
việc làm và thích nghi với đời sống xã hội” [6;67].
Tại Hội thảo về chiến lược phát triển GDTX đến năm 2020, báo cáo của
Vụ Giáo dục thường xuyên - Bộ GD&ĐT đã nêu: “GDTX được hiểu một
cách khái quát là cung ứng cơ hội cho mọi người để học tập suốt đời nhằm
thúc đẩy tài nguyên con người thông qua các chương trình xóa mù chữ,
chương trình tương đương, chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống,

Quy định về LKĐT trình độ TCCN, CĐ, ĐH ban hành kèm theo
Quyết định số 42/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 28/7/2008 của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT có ghi: “Liên kết đào tạo là sự hợp tác giữa các bên để tổ chức
thực hiện các chương trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên
nghiệp, cao đẳng, đại học”[3;1].
LKĐT là một mô hình trong giáo dục nhằm tạo cơ hội học tập cho toàn
xã hội, đáp ứng được chủ trương lớn của Bộ GD&ĐT là “Đào tạo theo nhu
cầu xã hội”. Với cách làm này, cơ hội học tập ở trình độ cao hơn đến với
nhiều người ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo… LKĐT không phải là
hình thức mới trong ngành Giáo dục và nó đang ngày càng phát triển do nhu
cầu học tập của các cá nhân ngày càng cao.


21

LKĐT là sự kết hợp của hai cơ sở giáo dục nhằm trang bị kiến thức,
kỹ năng, thái độ cho người học. Sự kết hợp này bao gồm các nội dung sau:
Khảo sát nhu cầu học tập của người học; Xây dựng kế hoạch mở lớp; Triển
khai công tác tuyển sinh; Thực hiện kế hoạch và chương trình đào tạo; Hoạt
động giảng dạy của giảng viên; Hoạt động học tập của HV; Công tác kiểm
tra, đánh giá; Giáo trình, tài liệu; CSVC và thiết bị dạy học.
Việc LKĐT được thực hiện trên cơ sở hợp đồng LKĐT, trong đó:
- Một cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm toàn diện về việc LKĐT
- Cơ sở giáo dục kia chịu trách nhiệm về khảo sát nhu cầu học tập của
người học, xây dựng kế hoạch mở lớp để báo cáo cơ quan có thẩm quyền,
chịu trách nhiệm về CSVC, thiết bị phục vụ đáp ứng quá trình đào tạo.
1.2.2.2. Liên kết đào tạo Đại học
LKĐT Đại học là hoạt động LKĐT giữa trường Đại học hoặc học
viện với Trung tâm GDTX cấp tỉnh ở các địa phương, để triển khai thực
hiện các chương trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp Đại học theo hình thức

bảo môi trường sư phạm, có đội ngũ CBQL phù hợp với mục tiêu đào tạo
của khóa học.” [Điều 7, Quy định về LKĐT-QĐ42/2008/ QĐ-BGDĐT].
Nội dung LKĐT Đại học bao gồm tất cả các nội dung của quá trình
đào tạo, từ công tác tuyển sinh đến tổ chức thực hiện quá trình đào tạo,
kiểm tra, đánh giá kết quả và điều tra, đánh giá hiệu quả LKĐT sau khi
hoàn thành việc LKĐT.
1.2.3. Quản lý công tác LKĐT Đại học ở Trung tâm GDTX cấp tỉnh
Quản lý công tác LKĐT Đại học ở Trung tâm GDTX cấp tỉnh bao gồm
các trường chủ trì đào tạo, các đơn vị phối hợp đào tạo, các Sở GD&ĐT, Ủy
ban nhân dân (UBND) tỉnh và Bộ GD&ĐT. Theo quy định của Bộ GD&ĐT
thì quản lý công tác LKĐT theo trình tự như sau [Điều 14, Quy định về
LKĐT, QĐ 42/2008/QĐ-BGDĐT]:


23

1. Khi phát hiện những vướng mắc trong công tác liên kết, thủ trưởng
hai đơn vị liên kết có trách nhiệm cùng hợp tác với nhau để xử lý. Nếu vượt
quá khả năng xử lý của hai bên, thì đơn vị chủ trì đào tạo báo cáo cơ quan có
thẩm quyền cho phép LKĐT để xử lý.
2. Sở GD&ĐT là đầu mối giúp UBND tỉnh tham gia quản lý hoạt động
liên kết về các vấn đề sau:
a) Tổ chức kiểm tra, giám sát theo thẩm quyền việc thực hiện Quy định
về LKĐT đối với các lớp liên kết đặt tại địa phương mình; phát hiện và báo
cáo kịp thời về Bộ GD&ĐT những trường hợp vi phạm Quy định về LKĐT
của các đơn vị tham gia liên kết tại địa bàn quản lý.
b) Thẩm định các điều kiện đảm bảo chất lượng (theo yêu cầu thực hiện
chương trình đào tạo đã đăng ký với Bộ GD&ĐT) và trực tiếp chỉ đạo, giám
sát hoạt động LKĐT diễn ra tại địa phương mình.
3. UBND cấp tỉnh, thành, các Bộ, ngành trung ương có trách nhiệm chỉ

khăn nhất định. Trong một giải pháp có thể có nhiều biện pháp. Giải pháp
càng thích hợp, càng tối ưu càng giúp con người nhanh chóng giải quyết
những vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, để có được những giải pháp như vậy, cần
phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy.
1.2.4.2. Giải pháp quản lý công tác LKĐT Đại học ở Trung tâm
GDTX cấp tỉnh
Quá trình quản lý luôn tồn tại bốn thành tố cấu trúc, đó là chủ thể quản
lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Dưới tác động
của chủ thể quản lý, các thành tố này luôn có sự tác động qua lại với nhau và
nhờ đó chủ thể quản lý thực hiện nội dung, nhiệm vụ quản lý nhằm đạt được
mục tiêu quản lý.
Giải pháp quản lý công tác LKĐT Đại học ở Trung tâm GDTX cấp
tỉnh là cách thức tác động lên mối quan hệ hợp tác giữa Trung tâm và
các trường chủ trì trong đào tạo theo hướng tích cực.


25

Theo chúng tôi, thực tế giải pháp quản lý công tác LKĐT Đại học
ở Trung tâm GDTX cấp tỉnh là việc đưa ra những cách thức, những công
việc cần thực hiện để giải quyết khó khăn hay những tồn động đang gặp phải
trong LKĐT Đại học ở Trung tâm GDTX cấp tỉnh nhằm đạt được kết quả
tốt đẹp hơn.
1.3.Một số vấn đề về LKĐT Đại học ở Trung tâm GDTX cấp tỉnh
1.3.1 Vị trí, vai trò của Trung tâm GDTX
1.3.1.1. Vị trí của Trung tâm GDTX
Trong Hội nghị về trung tâm GDTX được tổ chức tại Srilanca vào
tháng 11/1994 đã định nghĩa: Trung tâm GDTX là tổ chức giáo dục đại
cương, ngoài hệ thống giáo dục chính quy, thuộc các làng hoặc các cộng
đồng thành phố, thường được quản lý bởi nhân dân địa phương có nhiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status