LỜI CẢM ƠN
Luận văn Đại học Chính trị, Chuyên ngành Tổ chức được hoàn thành
tại Khoa Nhà nước và Pháp luật, của Học viên Chính trị - Hành chính Khu
vực I. Em xin chân thành cảm ơn Khoa Nhà nước và Pháp luật và Khoa Xây
dựng Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I đã tạo điều kiện
giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành nghiên cứu.
Em xin bày tỏ biết ơn sâu sắc đối với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy,
cô giáo của Học viện Chính trị - Hành chính đã giảng dạy và đóng góp ý
kiến rất quý báu trong luận văn của em, đặc biệt là cô giáo hướng dẫn
Th.S Vũ Ngọc Hà đã hết lòng tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự động viên, sự giúp đỡ về tinh
thần cũng như vật chất của gia đình, bạn bè trong suốt quá trình học tập
nghiên cứu và hoàn thiện Luận văn Đại học Chính trị, chuyên ngành tổ chức.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2011
Học viên
Mr. VAN XAY NGIACHANTHASONE
1
MỤC LỤC
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- CHDCND : Công hoà Dân chủ Nhân dân
- HVCT - HC : Học viện Chính trị - Hành chính
- CHXHCN : Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình xây dựng phát triển đất nước giữ vững ổn định chính trị, an
ninh trật tự, an toàn xã hội, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi một đội ngũ cán bộ, công
chức có phẩm chất, năng lực, trí tuệ và tay nghề cao. Vì vậy, Đảng và Nhà
nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào) luôn coi trọng công
tác đào tạo, bồi duỡng cán bộ, công chức, nhằm xây dựng một đội ngũ cán
ứng được theo yêu cầu của công tác đào tạo, bồi dưỡng. Do vậy, một số cán
bộ, công chức nhà nước đã được đào tạo, bồi dưỡng vẫn không đáp ứng
được các yêu cầu về năng lực, trình độ, theo yêu cầu của công việc.
Để đáp ứng kịp thời các yêu cầu mới của nền công vụ thì việc đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là một đòi hỏi bức
3
thiết và là điều kiện tiên quyết cho việc đổi mới phương thức quản lý nhà
nước về lĩnh vực này.
Những yêu cầu cấp bách của thực tiễn quản lý nhà nước về đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức nói trên là lý do lựa chọn đề tài: “Đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức ở tỉnh Bo-Ly-Khăm-Xay nước CHDCND Lào -
Thực trạng và giải pháp” để làm luận văn tốt nghiệp đại học chính trị -
Chuyên ngành Tổ chức.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá các lý thuyết, làm rõ các khái niệm cơ bản sử
dụng trong nghiên cứu, đề tài tập trung làm rõ thực trạng công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức của tỉnh Bo-Ly-Khăm-Xay. Từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức tỉnh Bo-Ly-Khăm-Xay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Đề tài có nhiệm vụ hệ thống hóa các khái niệm, vai
trò và các lý luận cơ bản về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
- Về mặt thực tiễn: Đề tài có nhiệm vụ phân tích, đánh giá làm rõ thực
trạng quản lý nhà nước đối với việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,
tìm các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức tại tỉnh Bo-Ly-Khăm-Xay trong giai đoạn hiện nay.
- Về mặt giải pháp: Đề tài có nhiệm vụ đề xuất một số phương hướng
và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức
ở tỉnh Bo-Ly-Khăm-Xay.
5
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1 Khái niệm cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức là vấn đề cơ bản và quan trọng đối với mọi tổ chức
nhà nước; là yếu tố con người, quyết định năng lực và hiệu quả quản lý đất
nước. Bất cứ nhà nước nào cũng cần xây dựng một đội ngũ cán bộ, công
chức. Cán bộ, công chức bao gồm những người có trình độ, có năng lực quản
lý, có khả năng chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc
vì bổn phận của mình trước công vụ. Thiếu đội ngũ này, kỷ cương đất nước
sẽ bị buông lỏng, trật tự xã hội sẽ bị xâm hại, nhà nước khó thực hiện chức
năng quản lý của mình đối với xã hội.
Mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ lịch sử xã hội, quan niệm về cán bộ, công
chức, mang nội dung khác nhau. Do đó, trong thực tế rất khó có một khái
niệm chung về cán bộ, công chức cho tất cả các quốc gia, ở từng thời kỳ phát
triển khác nhau, vậy khái niệm cán bộ, công chức của mỗi nước phụ thuộc
vào tính đặc thù của mỗi quốc gia.
1.1.1. Quan niệm cán bộ, công chức của Việt Nam
Quan niệm cán bộ, công chức Việt Nam được hình thành qua các thời
kỳ lịch sử khác nhau.
- Trong Luật cán bộ, công chức được Quốc hội Việt Nam khoá XII, kỳ
họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 có hiệu lực từ ngày
01/01/2010 đưa định nghĩa về cán bộ, công chức như sau:
1. Cán bộ, công chức Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm
giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng Sản
Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh), ở huyện, quận,
7
trong đời sống xã hội của Lào để chỉ một lớp người, những chiến sỹ cách
mạng chịu hy sinh, gian khổ, đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp, thuật ngữ này được dùng phổ biến chỉ tất cả những
người thoát ly tham gia hoạt động kháng chiến, để phân biệt với nhân dân.
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thuật ngữ cán bộ được hiểu là:
Thứ nhất, Cán bộ là những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ
huy từ cơ sở đến Trung ương (cán bộ lãnh đạo) phân biệt với đảng viên
thường, đoàn viên, hội viên hoặc “cán bộ” là những người làm công tác
chuyên trách hưởng lương trong các tổ chức đảng, đoàn thể.
Thứ hai, cán bộ là những người giữ cương vị chỉ huy từ tiểu đội
trưởng trở lên (cán bộ tiểu đội, đại đội, cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn
v.v ) hoặc là sĩ quan từ cấp uý trở lên trong quân đội nhân dân Lào.
Trong hệ thống bộ máy nhà nước, quan niệm cán bộ được hiểu với
nghĩa trùng với khái niệm công chức, bao gồm những người làm việc trong
cơ quan hành chính nhà nước. Đồng thời, cán bộ cũng được hiểu là những
người có chức vụ chỉ huy, phụ trách, lãnh đạo. Tuy cách dùng, cách thức
biểu đạt khái niệm cán bộ có khác nhau nhưng về cơ bản thuật ngữ cán bộ
bao hàm nghĩa chính của nó là những nguồn thuộc bộ khung, là nòng cốt, là
lãnh đạo, là chỉ huy.
Hiện nay, thuật ngữ “cán bộ” được dùng rất phổ biến, cụ thể là những
người làm việc ở các cơ quan nhà nước, tổ chức Đảng, đoàn thể quần chúng
từ Trung ương đến địa phương (trừ những người làm việc trong lực lượng vũ
trang nhân dân: công an, bộ đội) thường được gọi là cán bộ.
Ngoài ra, thuật ngữ “cán bộ” còn được dùng cho cả những người làm
việc ở các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, các công ty, tổ chức quốc tế,
v.v nhằm mục đích phân biệt với thuật ngữ “công nhân, nông dân, nhân
dân ” theo người dân thường dùng phổ biến ở Lào. Thuật ngữ này thường
được dùng phổ biến ở các tài liệu của các cơ quan Đảng – công tác Đảng,
9
Nhà nước về công tác cán bộ, đoàn thể và những lời phát biểu, vận động nhân
Tóm lại, cán bộ, công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào ngạch chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở Trung ương, tỉnh và huyện và được hưởng lương từ ngân
sách nhà nước.
1.2. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
1.2.1. Khái niệm đào tạo
Đào tạo là quá trình học tập, rèn luyện để trở thành người có năng
lực theo những tiêu chuẩn nhất định, đáp ứng theo những yêu cầu nhất định.
Theo từ điển tiếng Việt “Đào tạo đề cập đến việc dậy các kỹ năng
thực hành nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để
người học nắm vững những trí thức kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ
thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm
nhận được một công việc nhất định.
Đào tạo là một khâu quan trọng của công tác cán bộ, gắn liền với quy
hoạch cán bộ, bố trí sử dụng cán bộ.
Đào tạo là quá trình tác động đến con người là quá trình truyền thụ
những kiến thức mới nhằm làm cho người đó nắm được những kiến thức, kỹ
năng cần thiết cho người học một cách có hệ thống, để người học nâng cao
trình độ hơn trước khi đào tạo, giúp họ làm được những công việc một cách
có hiệu quả năng suất và góp phần hoàn thiện nhân cách cá nhân.
Đào tạo là một quá trình truyền thụ kiến thức mới để người cán bộ,
công chức có sự biến đổi về trình độ, về kỹ năng và qua đó năng lực làm
việc được nâng lên. Thông thường, đào tạo là quá trình trang bị kiến thức cơ
bản mới hay trang bị kiến thức ở trình độ cao hơn, do đó thời gian đào tạo
thường dài hơn thời gian bồi dưỡng, một khóa học đào tạo được bố trí
chương trình, nội dung cụ thể.
1.2.2. Khái niệm bồi dưỡng
11
Bồi dưỡng là làm thêm năng lực hoặc phẩm chất, đó là quá trình hoạt
động làm tăng thêm những kiến thức mới, đòi hỏi và bổ sung những kỹ năng
nước. Muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước thì nhà nước phải
quan tâm đến công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức. Trong quá
trình cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền, công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có những đặc điểm mang tính
đặc thù về đối tượng người học, cách học và đặc biệt là về mục tiêu đào tạo,
bồi dưỡng.
Một là, học viên là cán bộ, công chức là những người đang làm việc ở
các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức đoàn
thể quần chúng từ Trung ương đến địa phương và ở các cơ quan đại diện ở
nước ngoài được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Các học viên là công
chức có kinh nghiệm thực tiễn đời sống và công tác nên trong học tập đòi hỏi
cao về nội dung kiến thức và thông tin khoa học
Hai là, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là để phục vụ công việc
được giao. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải sát với yêu cầu của
công việc nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Ba là, Các học viên công chức là những người đã có vị thế xã hội, nên
xác định vị trí người đi học chỉ là thứ yếu. Công việc ở cơ quan công tác
nhiều khi cuốn hút thời gian của họ. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cần giảm bớt phần lý thuyết nhằm tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng quản lý
cho đội ngũ cán bộ, công chức trong các chức vụ quản lý ngành nghề khác nhau.
Bốn là, nội dung, chương trình của các cơ sở đào tạo phải đào tạo
chuyên sâu về các ngành nghề, không nên đào tạo chung chung không xác
định rõ các đối tượng cần đào tạo.
Do đó đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải thích ứng với từng
đối tượng.
13
- Đào tạo cán bộ, công chức không hoàn toàn giống với hệ thống giáo
dục quốc dân, bởi vì hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm giáo dục chính
quy và giáo dục thường xuyên với các cấp học: mầm non, phổ thông, giáo
mới.
- Đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức về một nền kinh tế chuyển
đổi, cung cấp kiến thức, kỹ năng cơ bản về kinh tế thị trường và vai trò
nhà nước trong nền kinh tế thị trường cho cán bộ, công chức hành chính
nói riêng để họ làm việc trong môi trường nền kinh tế nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và có sự
quản lý của Nhà nước.
- Đào tạo, bồi dưỡng cho mục tiêu phát triển, đây là lĩnh vực có yêu
cầu cao hơn để xây dựng một đội ngũ chuyên gia giỏi, chuyên gia đầu
ngành có trình độ chuyên môn cao và sâu nhằm tăng cường khả năng thiết kế
các hệ thống, phải thành thạo và linh hoạt nhiều hơn chỉ là chuyên môn hoá
ở một lĩnh vực cụ thể. Đào tạo hoạt động theo nhóm, nội dung đào tạo tập
trung cho học viên làm thế nào để việc theo nhóm có hiệu quả nhất, bao gồm
đào tạo các kỹ năng thông tin, tăng cường sự phụ thuộc giữa các thành viên
trong nhóm, đảm bảo sự hoà hợp giữa các mục tiêu cá nhân.
1.3.2 Hình thức
Để đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức trước hết phải coi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức là nhiệm vụ, biện pháp cơ bản và thường xuyên nhằm tiêu chuẩn hoá và
nâng cao năng lực trình độ của cán bộ, công chức, xây dựng kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng trên cơ sở chiến lược và quy hoạch tổng thể. Từ kế hoạch
này, từng khu vực, từng cấp, từng ngành xây dựng kế hoạch cụ thể phải gắn
với nhu cầu thực tiễn của nhiệm vụ cách mạng với quy hoạch sử dụng cán
bộ, công chức, đồng thời cần đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình,
phương pháp đào tạo bồi dưỡng theo hướng thiết thực đáp ứng yêu cầu. Đào
15
tạo theo sát tiêu chuẩn chức danh, ngạch bậc song cũng cần có trọng tâm,
trọng điểm tuỳ theo yêu cầu và đặc điểm của từng khối, từng ngành, từng bộ
phận, từng cấp để có chương trình, nội dung hình thức hợp lý.
Hình thức đào tạo, bồi dưỡng xuất phát từ đặc điểm của cán bộ, công
thường xuyên nâng cao trình độ của cán bộ, công chức đáp ứng nhu cầu thay
đổi công việc và cập nhật những thay đổi hàng ngày, hàng giờ của hệ thống
thông tin và kiến thức khoa học.
Đào tạo không gắn với thực hành là phương pháp đào tạo theo chương
trình, được đào tạo từ bên trong hoặc bên ngoài tổ chức, từ các tổ chức giáo
dục, đào tạo hay các hiệp hội nghề nghiệp. Hình thức này đảm bảo tính hệ
thống, tính khoa học, có bài bản, có kế hoạch. Tuy nhiên nó không hoặc ít
gắn với thực tế công việc do đó hiệu quả đào tạo không cao.
Để công tác đào tạo, bồi dưỡng đạt hiệu quả cao cần lưu ý
+ Huấn luyện cốt thiết thực, làm hiểu thấu vấn đề, đây là cách đào tạo
phù hợp trong điều kiện hạn chế về thời gian và trình độ người học.
+ Huấn luyện từ dưới lên, không ôm đồn, mà chu đáo.
1.4. Chủ thể quản lý và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở
địa phương
Theo quy định tại Điều 19, Quyết định 132/2004/QĐ-TTg về việc ban
hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức do Thủ tướng Chính ban
hành thì trong công tác quản lý nhà nước theo lĩnh vực được phân công,
phân cấp tại địa phương, Uỷ ban Tổ chức (tỉnh) là cơ quan tham mưu cho
chính quyền cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về chuyên ngành với các
chức năng nhiệm vụ quyền hạn sau:
- Nắm và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp tỉnh phối hợp với Ban
tổ chức tỉnh uỷ nắm số lượng cán bộ thuộc diện tỉnh uỷ, chính quyền tỉnh
quản lý đang công tác ở khu vực nhà nước. Thống kê, phân tích và tổng hợp
17
số liệu về đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh phục vụ công tác quy hoạch, kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng.
- Xây dựng hồ sơ, thẩm tra, đề xuất, các thủ tục cần thiết về nhân sự
(cán bộ Nhà nước thuộc diện tỉnh uỷ – chính quyền tỉnh quản lý) như: bổ
nhiệm, đề bạt, nâng lương, điều động, về hưu, nghỉ việc, kỷ luật.
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng
của tỉnh, huyện hoặc một số cơ sở đào tạo của các bộ, ngành… Mỗi cơ sở
đào tạo có chức năng, thẩm quyền nhất định trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức.
19
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BÔ, CÔNG CHỨC TẠI TỈNH BO-LY-KHĂM-XAY
NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN LÀO
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Tỉnh Bo-Ly-
Khăm-Xay CHDCND Lào
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Tỉnh Bo-Ly-Khăm-Xay là một tỉnh nằm trong 5 tỉnh miền Trung của
nước CHDCND Lào, có biên giới cùng với hai nưới Phía Tây và Phía Đồng.
Phía Bắc giáp Thủ đô Viêng Chăn với chiều dài 49,23 km, phía Nam giáp
tỉnh Khăm Muồn với chiều dài 184,87 km, Phía Đông Bắc giáp với tỉnh
Xiêng Khoảng với chiều dài 141,76 km, phía Đông giáp tỉnh Nghệ An, Thừa
Thiên Hà Tĩnh (nước CHXHCN Việt Nam) chiều dài khoảng 215,82 km,
phía Tây giáp với tỉnh Nong Khai - Nạ Khon Pha Nôm ( Vương Quốc Thái
Lan) với chiều dài 192,82 km và có sông Mê Kông làm biên giới.
Diện tích
Tỉnh Bo-Ly-Khăm-Xay được thành lập vào tháng 11/3/ 1984, theo
quyết định của Trung ương Đảng số 03 ngày 4/3/1984 và Sắc lệnh số 027
Hội đồng bộ trưởng. Tỉnh Bo-Ly-Khăm-Xay có diện tích 15.977,71 km
2
,
Trước năm 2008 chỉ có 6 Huyện đến năm 2010 thêm 1 huyện. Huyện nay cả
tỉnh có 7 huyện như: Pác Xăn, Bo ly khăn, Tha pa bạt, Pác ka Đinh, Viêng
thong, Khăm kợt, Xay chăm phon, toàn tỉnh gồm có 322 bản, hơn 43.690 hộ
gia đình đang sinh sống, cách thủ đô Viêng Chăn khoảng 145 km, có quốc lộ
Xay là 9,8 triệu kíp( tương đương 972 USD/người), tăng 23 % so với năm
trước.
Về giáo dục đào tạo:
Tỉnh Bo-Ly-Khăm-Xay đang có xu hướng phát triển trường học các
cấp ở các vùng sâu, vùng xa nhằm giáo dục kiến thức cho trẻ em ở vùng sâu,
vùng xa để xoá bỏ 100% tình trạng trẻ em mù chữ. Toàn tỉnh đến năm 2010,
21
tổng số giáo viên toàn tỉnh là 2.443 người, với 642 đơn vị trường học (tăng
25 đơn vị so với năm trước). Trường tiểu học 28 trường có 38 lớp học với số
sinh viên đi học toàn tỉnh là 2.463 người, nữ 1.227 người (tăng 279 người so
với năm 2008 - 2009), trường trung học cơ sở là 580 trường, có 1.571 lớp
học với số học sinh là 58.382 người, nữ 26.916 người (tăng 10.63 % so với
năm trước), và trung học phổ thông toàn tỉnh có 45 trường học, có 344 lớp
học với tổng số học sinh là 14.877 người, nữ 6.300 người.
Năm 2009- 2010, chất lượng học sinh có chuyển biến tích cực. Tỷ lệ
học sinh được công nhận hoàn thành công trình tiểu học đạt 95% (tăng
0,20%); tốt nghiệp trung học cơ sở đạt được 81% (theo kế hoạch đầu năm).
Các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và bổ túc trung học được tổ chức
an toàn, nghiêm túc với tỷ lệ đậu tốt nghiệp tương ứng là 93,6% (tăng 2,5%
so với năm trước là 91,5%). Ngoài ra tỉnh Bo-Ly-Khăm-Xay còn có trường
giáo dục dân tộc tiểu số, nhằm giáo dục trẻ em ở vùng sâu, vùng xa có 3 đơn
vị với 9 lớp học, học sinh đi học là 206 người, nữ 58 người, tình trạng học
sinh đi học trong năm giảm 50% so với năm trước.
Tình trạng giáo dục cao đẳng, đại học, chuyên nghiệp ngày càng tăng.
Trên địa bàn tỉnh có một trường đại học, hai trường cao đẳng, 2 trường
trung cấp và một cơ sở dạy nghề để phục vụ cho một phần nhu cầu học tập
và nâng cao trình độ chuyên môn của người dân tại địa phương.
Về y tế
Tỉnh Bo-Ly-Khăm-Xay là một tỉnh đã quan tâm và coi việc chăm sóc
sức khoẻ là một việc quan trọng, hiện nay tỉnh đang có xu hướng phát triển
Phấn đấu tìm thu nhập vào ngân sách của tỉnh trong 5 năm đạt được
8% của GDP, tăng bình quan hàng năm chiếm 1,9% của GDP, Về phần chi
tiêu khoảng 17,84% của GDP, tăng hàng năm khoảng 6,6% GDP. Nhằm
đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế toàn tỉnh từ năm 2011đến năm 2015 đạt
được 8,5% trở lên, thì tỉnh cần tổng số vốn là 712,91 tỷ kịp hoặc khoảng
23
18,32% GDP. Trong đó có sự phân chia nhu cầu vốn từ các tổ chức liên quan
như sau:
- Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước chiếm khoảng 16,02% tổng vốn
đầu tư hoặc khoảng 362,68 tỷ kịp.
- Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vì sự phát triển (ODA) chiếm
khoảng 14,52% tổng vốn đầu tư hoặc khoảng 470,55 tỷ kịp.
- Vốn tư nhân trong và ngoài nước (FDI) chiếm khoảng 38,28% tổng
vốn đầu tư hoặc khoảng 1.529,35 tỷ kịp.
- Vốn từ tín dụng của ngân hàng chiếm khoảng 3,87% tổng vốn đầu tư
hoặc khoảng 155,96 tỷ kịp.
- Vốn của từ cộng đồng chiếm khoảng 1.96% tổng vốn đầu tư hoặc
khoảng 71,12 tỷ kịp.
Theo các số liệu của mục tiêu phấn đấu phát triển kinh tế – xã hội của
tỉnh nhiệm kỳ 2011- 2015 cho thấy tình trạng phát triển trong 3 lĩnh vực thì
mục tiêu phát triển kinh tế ở lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp chiếm tỷ lệ cao
nhất và đang có định hướng kế hoạch hoá thành công nghiệp hoá - hiện đại
hoá.
(Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội nhiệm kỳ 2006 -2010, phương hướng,
nhiệm vụ nhiệp kỳ 2011-2015).
Từ những thuận lợi về điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội đã tạo
điều kiện không ít cho nhân dân yên tâm và hăng hái làm việc mà còn đảm
bảo những nhu cầu cần thiết cho cán bộ, công chức công tác, vui chơi, giải
trí
2.2 Hệ thống các cơ quan quản lý và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
thành các kế hoạch, dự án, chương trình và các luật lệ về phát triển giáo dục
và đề nghị cho Chính phủ xem xét, đồng thời chỉ đạo và kiểm tra việc tổ
chức thực hiện kế hoạch, dự án, chương trình và luật lệ nhằm đáp ứng mục
tiêu đã xác định.
25