Nghiên cứu sử dụng bã dong riềng làm thức ăn nuôi lợn thịt - Pdf 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƢỜNG THỊ VỊNH NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BÃ DONG RIỀNG
LÀM THỨC ĂN NUÔI LỢN THỊT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Các thông tin, trích dẫn tài liệu trình bày trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả Lƣờng Thị Vịnh ii
LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, tôi đã
hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Ban
Giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng quản lý đào tạo sau
đại học, khoa Chăn nuôi – Thú y, cùng tập thể các thầy cô giáo đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của tập thể
thầy cô giáo hướng dẫn: TS Bùi Thị Thơm, PGS. TS Hoàng Toàn Thắng
đã đầu tư nhiều công sức và thời gian hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn.
Các cơ sở sản xuất, chế biến dong riềng và một số hộ nông dân tại tỉnh
Bắc Kạn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Sở Công thương Bắc Kạn tạo điều kiện giúp đỡ khi tôi thu thập số liệu.
Viện Khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ
trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình và bạn bè đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ về mọi mặt, khuyến khích, động viên tôi
hoàn thành luận văn khoa học này.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

2.2. Nội dung nghiên cứu 27
2.3. Phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1. Phương pháp khảo sát tiềm năng nguồn bã thải dong riềng 27
2.3.2. Phương pháp chế biến bã dong riềng 28 iv
2.3.3. Phương pháp thí nghiệm xác định hiệu quả thử nghiệm của việc sử
dụng bã dong riềng ủ trong khẩu phần ăn nuôi lợn thịt 29
2.4. Các chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm 32
2.4.1. Các chỉ tiêu sinh trưởng 32
2.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi về thức ăn 32
2. 33
2.4.4. Phương pháp xác định thành phần dinh dưỡng, phân tích mẫu 34
2.4.5. Hạch toán hiệu quả kinh tế 35
2.5. Phương pháp xử lý số liệu 35
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1. Kết quả điều tra tình hình sản xuất và chế biến dong riềng tại tỉnh Bắc
Kạn năm 2013 36
3.2. Kết quả thí nghiệm xác định công thức chế biến bã dong riềng thích hợp 41
3.2.1. Thành phần hóa học của các công thức chế biến bã dong riềng 41
3.2.2. Biến đổi về cảm quan của bã dong riềng ủ 45
3.3. Kết quả về khả năng sinh trưởng của lợn lai F1 (♂ Pietrain x ♀ Móng
cái) có sử dụng bã dong trong khẩu phần. 48
3.3.1. Sinh trưởng tích lũy 48
3.3.2. Sinh trưởng tuyệt đối 50
3.3.3. Khả năng thu nhận thức ăn của lợn thí nghiệm 52
3.3.4. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng 54
3.3.5. Kết quả mổ khảo sát đánh giá năng suất, chất lượng của lợn thí
nghiệm 55

: Dẫn suất vô đạm
NLTĐ
: Năng lượng trao đổi
Pr
: Protein
STT
: Số thứ tự
TCVN
: Tiêu chuẩn Việt Nam
TN
: Thí nghiệm
TTTA
: Tiêu tốn thức ăn
VCK
: Vật chất khô
VSV
: Vi sinh vật
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: Thành phần hóa học của bã dong riềng 12
Bảng 1.2: Thành phần hóa học bã dong riềng thu tại huyện Ngân Sơn -
tỉnh Bắc Kạn 13
Bảng 2.1: Công thức chế biến bã dong riềng 28
Bảng 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm chuồng trại 30
Bảng 2.3. Khẩu phần ăn của lợn trong giai đoạn thí nghiệm (%/kgTA) 31

Chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống có từ lâu đời ở nước ta. Trong
thời gian qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành trồng trọt, đặc biệt là
sự tăng trưởng nhanh về sản xuất lương thực thực phẩm, nghề chăn nuôi lợn ở
nước ta đã phát triển khá tốt, số lượng tổng đàn và chất lượng đàn đều tăng
khá. Chăn nuôi lợn ở nước ta đã tăng trưởng khá về tổng đàn, chất lượng đàn
cũng như quy mô sản xuất, kim ngạch xuất khẩu. Năm 2011 cả nước có 27,8
triệu con, nhưng đến năm 2013 còn có 26,3 triệu con, bằng 94,6% so với năm
2011, nguyên nhân của việc này là do giá thịt lợn hơi giảm, chi phí về con
giống và thức ăn tăng lên do đó người dân không mở rộng quy mô sản xuất.
Sản lượng thịt lợn hơi năm 2011 là 3,2 triệu tấn, năm 2013 mặc dù tổng đàn
so với năm 2011 có giảm, nhưng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 3,3 triệu
tấn tăng 103,12% so với cùng kỳ năm 2011 (Trung tâm Tin học và thống kê,
2011, 2013) [31]. Đối với ngành chăn nuôi lợn, thức ăn thường chiếm 65 –
70% giá thành sản xuất 1 kg thịt hơi. Nhưng nguồn nguyên liệu để chế biến
thức ăn gia súc ở trong nước còn thiếu, hàng năm vẫn phải nhập ngoại với giá
cao. Đặc biệt trong thời gian gần đây giá thức ăn chăn nuôi leo thang trong
khi giá thịt lợn lại giảm, điều này làm tăng mối quan tâm của các nhà khoa
học và các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi vào việc sử dụng hiệu quả nguồn
thay thế khác, trong đó có việc sử dụng phụ phẩm bã thải ra của ngành chế
biến tinh bột từ các loại củ (sắn, dong riềng ) được coi như nguồn thức ăn
năng lượng có triển vọng.
Cây dong riềng là một loại cây lấy củ có giá trị kinh tế cao, có thể trồng
trên nhiều loại đất khác nhau mà vẫn cho năng suất cao, do đó cây dong riềng 2
được đồng bào nhiều vùng quan tâm phát triển, nhất là ở miền núi và được
xem như một loại cây chiến lược cho sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương.
Riêng đối với tỉnh Bắc Kạn, trong vài năm trở lại đây, cây dong riềng được
chọn là cây xóa đói, giảm nghèo và làm giàu hiệu quả. Năm 2012, tỉnh Bắc

thông tin cơ bản về việc sử dụng bã dong riềng trong chăn nuôi lợn.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần đưa bã dong riềng vào chăn nuôi như một nguồn nguyên liệu
tận thu, có ý nghĩa thúc đẩy chăn nuôi lợn tại địa phương phát triển. Kết quả
đề tài cũng góp thêm giải pháp làm giảm mức độ ô nhiễm môi trường ở cơ sở
chế biến dong riềng do tình trạng phân hủy bã thải gây ra hiện nay. 4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1
. Khái quát tình hình sản xuất và chế biến dong riềng ở phía Bắc
Việt Nam

1.1.1.1. Tình hình sản xuất và chế biến dong riềng ở phía Bắc nói chung
Cây dong riềng: là một loại cây lấy củ có giá trị kinh tế cao, có thể trồng
trên nhiều loại đất khác nhau mà vẫn cho năng suất cao, do đó cây dong riềng
được đồng bào nhiều vùng quan tâm phát triển, nhất là ở miền núi và được
xem như một loại cây chiến lược cho sự phát triển kinh tế ở nhiều địa
phương. Bột dong có ít chất đạm hơn so với lúa và các cây có củ khác tuy
nhiên hàm lượng chất béo và chất đường bột lại cao hơn hẳn. Các phần trên
cây dong được tận dụng gần như triệt để: thân, cuống lá cung cấp một phần
lớn nguyên liệu cho công nghiệp sợi, lá để làm thức ăn gia súc và củ dùng để
chế biến thực phẩm
Trung bình mỗi vụ, cây dong riềng cho năng suất đạt 50-70 tấn củ/ha.
Nếu lượng củ này đem chế biến thành tinh bột thì với mỗi ha dong riềng sẽ
cho thu nhập gấp 4-5 lần so với trồng lúa. Dong riềng được trồng chủ yếu

hướng dẫn của cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện
Điện Biên Đông (tỉnh Điện Biên), nông dân ở Mường Phăng đã đầu tư giống,
phân bón trồng loại cây này. Theo một số hộ dân, dong riềng là loại cây dễ
trồng, tốn ít công chăm sóc, ít bị sâu bệnh. không đòi hỏi mức đầu tư lớn, cho
năng suất và thu nhập cao hơn trồng ngô, sắn. Nhờ trồng cây dong riềng nên
nhiều gia đình ở Mường Phăng đã thoát nghèo và có tích lũy. Trung bình mỗi
héc ta dong riềng cho năng suất khoảng 65 tấn/ha. Với mức giá bình quân tại
địa phương từ 1.100đ – 1.500đ/kg thì mỗi héc ta sẽ đem lại khoảng 80 triệu
đồng cho người trồng dong riềng. Xác định cây dong riềng là thế mạnh trên 6
đất Mường Phăng nên ngay từ năm 2007, Phòng Tài nguyên – Môi trường
huyện Điện Biên Đông đã hỗ trợ mỗi hộ chế biến tinh bột dong riềng 4 triệu
đồng để xây dựng hệ thống xử lý nước thải tránh gây ô nhiễm môi trường cho
người dân xung quanh khu vực và cũng là tạo điều kiện để các hộ chế biến
thu mua kịp thời sản phẩm cho nông dân. Không chỉ ở các huyện sản xuất
dong riềng truyền thống như Điện Biên, TP.Điện Biên Phủ, mà giờ đây cây
trồng này còn phát triển mạnh ở những huyện khác như Điện Biên Đông,
Mường Chà, Nậm Pồ… với diện tích hàng ngàn ha. Mặc dù năm 2013, giá
sản phẩm này có xuống thấp nhất so với mấy năm trước thì thu nhập vẫn ở
mức khá hơn cây ngô. Hàng chục cơ sở thu mua, chế biến củ dong cũng đã ra
đời, tạo nhiều việc làm cho bà con dân tộc thiểu số. Từ đó đã khuyến khích
được người dân phát triển loại cây này. Việc sản xuất, chế biến tinh bột dong
và làm miến dong đó cải thiện đáng kể cho cuộc sống của người dân, giải
quyết nhu cầu việc làm cho đại bộ phận lao động nhàn rỗi.
Tuy nhiên sự phát triển này cũng kéo theo các hệ lụy về môi trường.
Tại xã Mường Phăng, mỗi ngày có hàng trăm tấn củ dong được nghiền xát
thành bột thải xuống suối hàng nghìn khối nước không qua xử lý, tạo ra một
dòng nước đen bốc mùi thối gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nguồn

nước thải, hàng
trăm tấn thải rắn, chứa các chất tẩy rửa hóa học, mang tính axít, kiềm, qua quá
trình phân hủy tạo ra những mùi hôi thối nồng nặc. Toàn bộ nguồn nước mặt
tại các kênh mương bị ô nhiễm nặng. Nước thải không qua xử lý, xả trực tiếp
vào hệ thống mương tiêu thoát, đổ thẳng ra sông Nhuệ, sông Đáy
Sự phân hủy bã dong riềng đang và tiếp tục làm nghiêm trọng thêm tình
trạng ô nhiễm môi trường ở các cơ sở chế biến trong đó có các làng nghề trong
khi hoạt động chăn nuôi ở khu vực này lại thiếu thức ăn. Việc nghiên cứu sử
dụng các loại bã trên làm thức ăn vật nuôi là một mũi tên bắn trúng 2 đích: tận
dụng làm thức ăn để phát triển chăn nuôi và giảm thiểu tình trạng ô nhiễm. 8
1.1.1.2. Tình hình sản xuất, chế biến dong riềng tại Bắc Kạn năm 2013
Tỉnh Bắc Kạn, trong vài năm trở lại đây, cây dong riềng được chọn là
cây xóa đói, giảm nghèo và làm giàu hiệu quả. Từ chỗ cây dong riềng chỉ
được canh tác và chế biến tại một số thôn thuộc xã Côn Minh (huyện Na
Rì), thì nay đã có rất nhiều xã và huyện đã đưa cây dong riềng vào canh tác.
Năm 2013, diện tích trồng dong riềng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn là 2.898,66
ha. Trong đó, huyện Na Rì đạt diện tích lớn nhất là 1.113,30 ha, tiếp theo là
huyện Ba Bể với 770,06 ha diện tích đất trồng, huyện Bạch Thông là 260,00
ha, Chợ Đồn 256,90 ha, Pác Nặm 219,50 ha đứng cuối cùng là những
huyện: Ngân Sơn với 95,00 ha diện tích đất trồng, thị xã Bắc Kạn 87,00 ha,
Chợ Mới 76,90 ha.
Với diện tích dong riềng trồng được như vậy thì cả năm 2013 toàn tỉnh
đạt 187.394 tấn dong củ. Nếu như số lượng củ này được đưa vào chế biến
thành tinh bột và miến dong thì lượng bã thải ra môi trường là rất lớn vì bình
quân cứ 1kg miến dong sản xuất được lại thải ra 9 – 10kg bã dong tươi. Và
theo báo cáo của Sở Công thương (2013) [16] cho thấy cứ 100kg củ dong tươi
đưa vào chế biến thì thải ra 72 kg bã tươi. Điều này có nghĩa là sản lượng bã

Nên sử dụng bã sắn với bã đậu tương để bổ sung dinh dưỡng cho cân
đối. Nếu kết hợp 6 kg bã sắn với 7 kg bã đậu tương thì hỗn hợp 13 kg này có
giá trị năng lượng tương đương với 2kg thức ăn tinh. Nếu thêm vào hỗn hợp
trên bột sò, bột xương, bột đầu tôm thì có thể dùng hỗn hợp đó thay thế tới
1/3 hoặc ½ lượng thức ăn tinh trong khẩu phần ăn của lợn. 10
Theo Bùi Quang Tuấn (2005) [32], trong bã sắn chứa khoảng 8% tinh
bột, 15 -20% xơ thô. Theo Nguyễn Hữu Văn và cs (2008) [34] khi phân tích
hàm lượng các chất trong bã sắn tươi tính theo hàm lượng vật chất khô như
sau: Tỷ lệ protein thô 3,6%, lipid thô 0,3%, năng lượng thô 4198 Kcal/kg.
Hàm lượng HCN là 240mg/kg và pH là 4,21. Nguyễn Xuân Trạch, (2003) [30]
cho biết bã sắn khô có hàm lượng protein rất thấp (2-3%), hàm lượng tinh bột
5-8%, hàm lượng xơ thô cao 16 - 20%, chứa độc tố HCN ở mức 0,009 %, dễ
gây ngộ độc cho vật nuôi.
* Phụ phẩm dứa
Quả dứa ngoài việc dùng để chế biến xuất khẩu, thì những phụ phẩm còn lại như:
chồi ngọn, bả dứa…thậm chí những lá dứa đầy gai cũng có thể sử dụng làm thức ăn cho
gia súc nhai lại như trâu bò. Nguồn thức ăn chăn nuôi này hiện ít được chú ý sử dụng, còn
để lãng phí rất lớn.
Phụ phẩm dứa bao gồm chồi, ngọn của quả dứa, vỏ cứng ngoài, những
vụn nát trong quá trình chế biến dứa, bã dứa ép và toàn bộ lá của cây dứa.
Hàng năm loại phụ phẩm này ở các nông trường dứa và các cơ sở chế biến
dứa rất lớn. Ước tính 1ha dứa phá đi để trồng lại sau 2 vụ thu quả sẽ để lại 50
tấn lá dứa; 1 tấn dứa đưa vào chế biến theo quy trình chế biến dứa đông lạnh
cho 0,25 tấn chính phẩm và 0,75 tấn phụ phẩm, tức là cứ 4kg dứa nguyên liệu
cho 1kg thành phẩm; 1 tấn dứa đưa vào chế biến theo quy trình đóng hộp
được 0,35 tấn chính phẩm và 0,65 tấn phụ phẩm.
Phụ phẩm dứa có hàm lượng chất xơ cao, nghèo protein nên có thể sử dụng

thơm ngon, vị ngọt nên gia súc rất thích ăn. Khoảng 7 kg bã đậu tương có giá
trị năng lượng tương đương với 1 kg thức ăn tinh hỗn hợp mà hàm lượng
protein thô lại cao hơn nhiều. Vì vậy, bã đậu tương được coi là nguồn thức ăn
giàu đạm cho mọi loại gia súc. 12
Tuy nhiên, trong bã đậu tương sống có men phân giải ure nên nếu cho
gia súc ăn quá nhiều bã đậu tương sẽ tạo ra số lượng lớn amoniac (NH
3
) có
thể gây ngộ độc cho gia súc. Vì vậy, chia nhỏ bã đậu tương sống ra thành các
bữa nhỏ để đảm bảo an toàn cho gia súc.
* Bã dong riềng
Bã dong riềng là sản phẩm phụ của chế biến tinh bột và miến dong.
Hàng năm lượng bã dong thải ra môi trường rất lớn, nhưng số lượng tận thu
để làm thức ăn chăn nuôi còn rất ít. Đã có một số nghiên cứu về thành phần
hóa học của bã dong riềng và có các kết quả về thành phần hóa học khác
nhau. Tuy nhiên, sự khác nhau này là do nhiều yếu tố như: Do quy trình sản
xuất có lọc kỹ hay không, do phương thức lấy mẫu, thời gian, địa điểm lấy
mẫu ở các vùng khác nhau và sai số khi lấy mẫu phân tích. Theo Viện Chăn
nuôi (2001) [35] thì hàm lượng protein thô của bã dong riềng ướt là 0,9%, bã
dong riềng khô là 3,45%; hàm lượng lipid thô là 0,1% ở bã dong ướt và 1%
ở bã dong tươi; 2,7% là tỷ lệ xơ trong bã ướt, còn bã khô là 8,28%. Theo
nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Dung (2011) [5] về thành phần hóa học
của bã dong thu tại một số địa điểm được thể hiện ở bảng 1.1.
Bảng 1.1: Thành phần hóa học của bã dong riềng
Stt
Địa điểm
VCK

11,69
1,95
82,03
3
Thái Nguyên
21,07
1,02
0,21
2,13
1,02
16,69
100
4,84
1,00
10,11
4,84
79,21 13
Kết quả phân tích này cho thấy rõ rệt sự khác nhau về hàm lượng các
chất giữa các mẫu bã lấy từ các địa phương khác nhau. Hàm lượng xơ ở các
mẫu này cũng cao hơn hẳn so với mẫu phân tích của Viện Chăn nuôi.
Theo phân tích của chúng tôi tại phòng Phân tích hóa học - Viện Khoa
học sự sống Thái Nguyên về mẫu bã dong riềng lấy tại huyện Ngân Sơn - tỉnh
Bắc Kạn thì cho kết quả như sau:
Bảng 1.2: Thành phần hóa học bã dong riềng thu tại huyện Ngân Sơn
- tỉnh Bắc Kạn
Dạng
mẫu

37,39
4,26
100
1,88
37,97
8,72
0,079
46,10
5,25
1.1.3. Các phương pháp xử lý, chế biến, bảo quản thức ăn phế phụ phẩm
cho gia súc và cơ sở khoa học của chúng
1.1.3.1. Các phương pháp xử lý, chế biến, bảo quản thức ăn phế phụ phẩm cho
gia súc
Có nhiều phương pháp chế biến thức ăn và phế phụ phẩm, có thể chia các
phương pháp thành các nhóm chính: Xử lý vật lý, xử lý sinh học và xử lý hóa
học. Trong đó xử lý bằng phương pháp hóa học là phổ biến nhất
Xử lý bằng phương pháp hóa học để cải thiện giá trị dinh dưỡng của thức
ăn phế phụ phẩm được bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ 19 và hiện nay đang được áp
dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. 14
Phương pháp xử lý vật lý
Phương pháp này có nhiều cách xử lý khác nhau như: Xử lý bằng cơ học,
xử lý bằng hơi nước trong điều kiện áp suất cao, xử lý bằng bức xạ… Nhưng
được áp dụng phổ biến nhất là phương pháp xử lý bằng cơ học. Là dùng
phương pháp cơ giới để băm, chặt, nghiền nhỏ làm giảm kích thước của thức
ăn thô. Ưu điểm của phương pháp này là giúp gia súc đỡ tốn năng lượng khi
thu nhận thức ăn và tạo kích thước thức ăn thuận lợi cho quá trình tiêu hóa.
Phương pháp xử lý vật lý chủ yếu được kết hợp chủ yếu với các phương

Trong tất cả các phương pháp xử lý bằng VSV thì phương pháp ủ chua là
phương pháp đơn giản nhất, được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi gia súc.
Ủ chua thức ăn là một quá trình lên men, thông qua đó để bảo quản thức ăn
trong một thời gian dài mà giá trị dinh dưỡng của thức ăn ít bị thay đổi. Trong ủ
chua các VSV sản sinh ra các acid hữu cơ, các acid hữu cơ này có tác dụng bảo
tồn thức ăn (Phạm Quang Hùng và cs, 2006) [11].
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) [30]: Ủ chua thực chất là công việc xếp
chặt thức ăn vào hố ủ kín không có không khí. Trong quá trình ủ đó, các vi
khuẩn biến đổi các đường dễ hòa tan như: Sacaroza, glucoza, fructoza,
pentoza thành acid lactic, acid acetic và các acid hữu cơ khác. Chính các acid
này làm hạ thấp độ pH của môi trường thức ăn ủ chua xuống ở mức 3,8 - 4,5.
Ở độ pH này, hầu hết các loại vi khuẩn và các enzyme của thực vật đều bị ức
chế sự hoạt động. Do vậy ủ chua thức ăn có thể bảo quản thức ăn trong một
thời gian dài.
Ủ chua là phương pháp đã được nhiều tác giả nghiên cứu để chế biến và
bảo quản bã sắn cho gia súc nhai lại. Theo Nguyễn Hữu Văn và cs (2008)
[33], khi nghiên cứu ủ chua bã sắn để làm thức ăn cho gia súc nhai lại thì ủ
với công thức 0,5% muối + 3% rỉ mật đường, hoặc 0,5% muối + 3% cám gạo 16
có thể bảo quản bã sắn và làm giảm đáng kể hàm lượng HCN sau 21 ngày ủ,
nên có thể sử dụng một lượng lớn bã sắn ủ trong khẩu phần mà không gây
độc. Theo Mai Thị Thơm và cs (2006) [21] khi sử dụng khẩu phần có 10kg bã
sắn ủ chua và 0,75kg cám đỗ xanh để vỗ béo bò thịt đã cho tăng trọng tương
đối cao 656,0 - 682,2g/con/ngày so với lô đối chứng là 728,9g/con/ngày với
khẩu phần thí nghiệm có thức ăn tinh. Nguyễn Hải Quân và cs (2008) [22] có
cho biết: Khi nghiên cứu về mức bổ sung bã sắn ủ chua với khẩu phần giàu
xơ, nghèo dinh dưỡng là rơm lúa thì mức bổ sung không nên vượt quá 40% so
với tổng chẩt khô trong khẩu phần và việc bổ sung các loại thức ăn giàu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status