Thực trạng trồng môn và thử nghiệm mô hình sử dụng cọng, lá môn làm thức ăn nuôi lợn tại xã bình phục, huyện thăng bình, tỉnh quảng nam - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Chăn Nuôi - Thú Y

KHÓA LUẬN

TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:

Thực trạng trồng môn và thử nghiệm mô hình sử dụng
cọng, lá môn làm thức ăn nuôi lợn tại xã Bình Phục, huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam

Sinh viên thực hiện: Hoàng Thị Oanh
Lớp: CNTY 45
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Lê Văn An
Bộ môn: Dinh dưỡng – Hóa sinh động vật

NĂM 2015


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi xin chân thành cảm ơn quý
Thầy Cô giáo khoa Chăn nuôi – Thú y trường Đại học Nông Lâm Huế đã
truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo PGS.TS. Lê Văn An
đã tận tình trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành
khóa luận này. Bên cạnh đó tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo
PGS.TS Dư Thanh Hằng đã giúp đỡ tôi rất nhiều để có thể hoàn thành quá
trình thực tập.

Bảng 4.6. Lượng thức ăn ăn thực tế của lợn nuôi tại nông hộ...................................31
Bảng 4.7. Diễn biến khối lượng và tăng trọng của lợn qua các lần cân....................33
Chú thích P1: Khối lượng lợn ở lần cân thứ 1 .......................................................33
P2: Khối lượng lợn ở lần cân thứ 2....................................................................33
P3: Khối lượng lợn ở lần cân thứ 3...........................................................33
P4: Khối lượng lợn lần cân thứ 4.............................................................33
Qua bảng 4.7 ta thấy, khối lượng lợn qua các lần cân ở 2 lô không có sai khác với
P>0,05. Để thấy rõ hơn sự thay đổi khối lượng của lợn qua các lần cân chúng tôi đã
biểu diễn sự thay đổi đó qua biểu đồ 4.1...................................................................33
.....................................................................................................................................33
Hình 1.3. Khối lượng của 2 lô thí nghiệm qua các lần cân.......................................33
Bảng 4.8. Tăng trọng và khả năng chuyển hóa thức ăn của 2 lô thí nghiệm............34


DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1. Tình hình chăn nuôi...............................................................................................3
(Lê Đức Ngoan và Dư Thanh Hằng, 2012)..............................................................13



BẢNG CHÚ GIẢI CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cụm từ viết tắt

Chú giải

VCK

Vật chất khô



Standard Error of the Mean (Sai số
chuẩn)

ĐBSH

Đồng bằng Sông Hồng

ĐBSCL

Đồng bằng Sông Cửu Long

DHMT

Duyên hải Miền Trung


MỤC LỤC
2.1. Tình hình chăn nuôi...............................................................................................3
2.2.1. Tình hình chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam.........................................3
(Lê Đức Ngoan và Dư Thanh Hằng, 2012)..............................................................13


PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở
nước ta. Trong chiến lược phát triển chăn nuôi Việt Nam đã xác định:
“Đến năm 2020 ngành chăn nuôi Việt Nam cơ bản chuyển sang sản xuất
theo phương thức trang trại, công nghiệp, đáp ứng phần lớn nhu cầu thực

chua (Dư Thanh Hằng, 2010) [16]. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến
hành đề tài: “ Thực trạng trồng môn và thử nghiệm mô hình sử dụng cọng,
lá khoai môn làm thức ăn nuôi lợn tại xã Bình Phục, huyện Thăng Bình,
tỉnh Quảng Nam ”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
Đánh giá được tình hình sản xuất cây khoai môn, tỉ lệ sử dụng phụ
phẩm cọng lá cây khoai môn làm thức ăn cho lợn và khả năng sinh trưởng của
lợn khi nuôi bằng khẩu phần có sử dụng 50% môn ủ (tính theo VCK) tại xã
Bình Phục, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Từ cơ sở đánh giá thực trạng và thử nghiệm khẩu phần sử dụng môn ủ
nuôi lợn, khuyến cáo các địa phương có diện tích sản xuất cây khoai môn lớn,
tiếp cận với quy trình nuôi trên cơ sở tận dụng nguồn phụ phẩm giá rẻ thay
thế trong khẩu phần. Mục đích chính là giảm giá thành thức ăn cũng như chi
phí chăn nuôi, nhưng vẫn đảm bảo giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần, khả
năng sinh trưởng của lợn nuôi thịt và đạt hiệu quả kinh tế.

2


PHẦN 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1. Tình hình chăn nuôi
2.2.1. Tình hình chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam
Nghề chăn nuôi lợn ra đời rất sớm. Bắt đầu xuất hiện ở châu Âu và
châu Á cách đây khoảng một vạn năm. Kỹ thuật chăn nuôi được hoàn thiện
theo thời gian, đặc biệt là từ thế kỷ XX đến nay chăn nuôi lợn đã phát triển
theo hướng sản xuất công nghiệp cho năng suất và chất lượng cao. Hiện nay,
lợn được nuôi trên khắp thế giới nhưng đàn lợn thế giới phân bố không đều ở
các châu lục. Trong đó, châu Âu là 184.05 (ngìn con) chiếm khoảng 18,83%,


969.89

977.02

(Nguồn: FAOSTAT, 2013) [21]
Bộ nông nghiệp Mỹ dự báo tổng sản lượng thịt của các nước sản xuất
chủ yếu trên thế giới năm 2014 sẽ đạt 260,04 triệu tấn, tăng 1,6% so với
256,06 triệu tấn ước tính đạt trong năm 2013 và tiếp tục tăng so với 251,89
triệu tấn của năm 2012. Trong đó, tổng sản lượng thịt lợn thế giới sẽ đạt
108,92 triệu tấn, tăng 1,3% so với 107,51 triệu tấn ước đạt trong năm 2013 và
tăng so với 105,65 triệu tấn của năm 2012.
Tổng mức tiêu dùng thịt trên thế giới năm 2014 dự báo đạt 255,92 triệu
tấn, tăng 1,5% so với 252,19 triệu tấn ước đạt trong năm 2013. Trong đó, tổng
3


mức tiêu dùng thịt lợn dự báo đạt 108,67 triệu tấn, tăng 1,3% so với 107,24
triệu tấn ước đạt trong năm 2013.
Tổng sản lượng xuất khẩu thịt trên thế giới năm 2014 dự báo đạt 27,90
triệu tấn, tăng 3,2% so với 27,03 triệu tấn ước tính đạt trong năm 2013. Trong
đó, tổng xuất khẩu thịt lợn dự báo đạt 7,24 triệu tấn tăng 2,6% so với 7,06
triệu tấn ước tính đạt trong năm 2013. Tiếp tục phát triển với tốc độ khá ổn
định trong 10 năm qua, tổng sản lượng thịt lợn thế giới 2014 dự báo sẽ đạt kỷ
lục 108,92 triệu tấn, tăng 1,3% so với 107,51 triệu tấn của 2013 nhờ giá thức
ăn chăn nuôi được kỳ vọng sẽ giảm và nhu cầu gia tăng [27].
Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây do tình hình dịch bệnh diễn biến
phức tạp, cùng với các khó khăn của chăn nuôi trong thời gian khủng hoảng
kinh tế toàn cầu làm cho số lượng đầu lợn cả nước bị giảm nhẹ, vậy nhưng
nhờ việc nâng cao chất lượng giống và kỹ thuật chăn nuôi đảm bảo năng suất


27,05

26,49

26,26

26,76

SL thịt (triệu tấn)

3,03

3,11

3,13

3,22

3,33

Chỉ tiêu

(Nguồn: Tổng Cục thống kê 2014) [12]
4


Định hướng chăn nuôi lợn Việt Nam trong những năm tới là tăng số
đầu lợn, nâng cao năng suất, chất lượng thịt bằng cách nghiên cứu và đưa vào
nuôi những công thức lai mới phù hợp với điều kiện tự nhiên nước ta. Đẩy

2012

2013

2014

Đàn lợn (con)

574.673

526.120

519.726

488.185

495.937
(Nguồn:[3])

Hiện nay, ở Quảng Nam tồn tại 3 phương thức chăn nuôi chủ yếu, đó
là: Phương thức chăn nuôi quảng canh, tận dụng trong nông hộ với quy mô

5


nhỏ; phương thức chăn nuôi bán công nghiệp quy mô vừa; phương thức chăn
nuôi công nghiệp quy mô lớn, tập trung.
* Phương thức chăn nuôi quảng canh trong nông hộ quy mô nhỏ
Đây là hình thức chăn nuôi có từ lâu đời với mục đích tự cung tự cấp.
Theo báo cáo về tình hình chăn nuôi của tỉnh Quảng Nam năm 2014 thì



2.1.3. Khái quát chung về huyện Thăng Bình
Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên của huyện Thăng Bình.
Là một huyện nằm giữa tỉnh Quảng Nam, có thị trấn Hà Lam làm
huyện lỵ, Thăng Bình ở tọa độ 15 o30’ đến 15o59’ vĩ độ Bắc và từ 108 o7’ đến
108030’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp huyện Quế Sơn và Duy Xuyên, phía
Nam giáp thành phố Tam Kỳ và huyện Phú Ninh, phía Đông giáp biển Thái
Bình Dương, phía Tây giáp hyện Tiên Phước và Hiệp Đức. Huyện Thăng
Bình có 21 xã, thị trấn; có tổng diện tích đất đai là 384,75 km 2, xã có diện
tích lớn nhất là Bình Định: 31 km 2, xã có diện tích nhỏ nhất là Bình Nguyên:
7,72 km2. Đất đai ở Thăng Bình chia làm nhiều vùng khác nhau: vùng ven
biển chủ yếu là đất cát trắng; vùng đồng bằng trung du bán sơn địa và miền
núi rừng rậm rạp, đất đai khô cằn, bạc màu hoặc bị đá ong hóa. Hiện nay,
diện tích gò đồi, núi trọc chiếm 2/5 diện tích đất đai của huyện.
Về thời tiết khí hậu, Thăng Bình có 2 mùa rõ rệt trong năm. Mùa mưa
bắt đầu từ tháng 9 năm trước đến tháng 2 năm sau, mùa khô bắt đầu từ tháng
2 đến tháng 8 nên nắng nóng và mưa lớn kéo dài thường xuyên gây nên hạn
hán, bão, lụt làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, sản xuất của nhân dân.
Thăng Bình có hơn 25 km bờ biển chạy dài dọc qua các xã phía Đông của
huyện với một dãy đất cát trắng mênh mông, sau lưng có núi Cao Ngạn và
một số núi kéo dài cả huyện ở miền cao bao lấy bên trong là vùng đồng bằng
trung du bán sơn địa và diện tích rừng, gò đồi. Trước kia, Thăng Bình có
nhiều sông suối, có nước chảy quanh năm từ các triền núi đổ về như sông Ly
Ly, sông Trường Giang....
nhưng theo năm tháng, dòng
sông đổi dòng ở một số đoạn
nên về mùa nắng, nước ở các
suối và sông Ly Ly trở nên cạn
kiệt; sông Trường Giang bị

hoạch đề ra thì toàn xã đã đạt kế hoạch 96,2%, giảm 20 ha lúa vùng nước
trời của Đồng Tư Chánh, thôn Bình Hiệp chuyển sang trồng cây cạn.
Về vụ Hè Thu sạ cấy của xã với diện tích là 270 ha/270 ha với năng
suất đạt được 50,9 tạ/1ha, sản lượng của vụ hè thu đạt được 1.374 tấn.
Theo báo cáo thì năm 2013, năng suất bình quân cả năm là 54,5% so
với năm 2012 giảm 2 tạ/ha, tổng sản lượng 2.824 tấn so với năm 2012 giảm
111 tấn.
Ngoài diện tích lúa hằng năm của xã thì trên địa bàn còn trồng trọt
một số cây trồng khác bao gồm cây ngô, đậu, khoai lang, rau màu các loại.
Năng suất cụ thể của các loại cây trồng này theo báo cáo như sau:
Về cây ngô, trồng được với diện tích 5 ha/5 ha đạt 100% kế hoạch
đề ra. Năng suất đạt 45 tạ/ha với sản lượng là 22,5 tấn.
Về cây đậu, trồng được với diện tích 180/180 ha đạt 100% kế hoạch
đề ra (so với năm 2012, giảm 20 ha do bị quy hoạch xây dựng trường
8


TCCSGT). Năng suất đạt 16 tạ/ha với sản lượng là 288 tấn (so với năm
2012 giảm 32 tấn).
Về khoai lang, trồng được với diện tích 20 ha/20 ha đạt 100% kế
hoạch đề ra. Năng suất đạt 70 tạ/ha với sản lượng là 140 tấn.
Các loại rau màu trồng được với diện tích là 240 ha. Trong đó, cây
môn với diện tích trồng trên địa bàn xã khoảng 30 ha. Ước tính năng suất
đạt 14 tạ/ha với sản lượng 28 tấn/ha.
Nhìn chung, hoạt động sản xuất nông nghiệp năm 2013 chịu sự tác
động của nhiều yếu tố bất lợi, song vẫn đảm bảo được sản lượng lương thực
chung của toàn xã. Công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng, mùa vụ đảm bảo
theo lịch thời vụ. Việc áp dụng khoa học kỉ thuật đã có chuyển biến tốt cụ
thể như: Áp dụng giống mới, giống kỉ thuật, thâm canh... đã mang lại nhiều
kết quả cao, sản lượng các cây trồng tăng. Ngoài ra, diện tích đất nông

Cây khoai môn có tên Latinh là Colocasia esculenta. Khoai môn đã lan
truyền rất sớm vào hầu hết các vùng nhiệt đới. Trong nhiều nước, đặc biệt ở
Châu Á Thái Bình Dương, khoai môn đã gắn bó chặt chẽ với nền trồng trọt và
các truyền thống của con người.
Ở Việt Nam, nghiên cứu và phát triển cây khoai môn (Colocasia
esculenta) còn ít và mới bắt đầu vào những năm gần đây. Một bộ giống khoai
môn (gồm 4 giống ở đồng bằng, 5 giống miền núi) được Viện Khoa Học – Kỹ
thuật Nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu – khảo nghiệm về năng suất để xác
định giống tốt, thích hợp cho các vùng sản xuất.
Khoai môn khi trồng chịu ảnh hưởng sâu sắc ở điều kiện bên ngoài:
- Điều kiện trồng trọt: chủ yếu chọn đất ẩm ướt cho phù hợp với từng
giống cụ thể. Tùy vào tính chất đất chua, trung bình hay kiềm mà chọn giống
khoai môn trồng thích hợp để đản bảo năng suất cây. Trong cùng một loại
giống ở điều kiện đất có nước khác nhau, nó sẽ sinh trưởng khác nhau, cụ thể
các loại đất ẩm ướt như:
+ Đất đầm lầy
+ Đất thấp không lụt
+ Đất cao ở nội địa
+ Đất có độ cao phải cần giống khoai chịu hạn.
Tùy loại đất mà chọn giống khoai môn cho thích hợp.
- Khoai môn chịu ảnh hưởng sâu sắc của môi trường như ẩm độ, nhiệt
độ không khí và đất, hiện trạng cỏ dại, tình hình sâu và bệnh.
Tất cả các yếu tố trên quyết định mật độ trồng khoai môn cho thích hợp
với vùng được trồng.
Mặc dù cây khoai môn là cây dễ trồng, vừa là cây lương thực, thực phẩm
cho con người và gia súc, dễ chế biến. Nhưng thực tế trong sản xuất, việc canh
tác cây khoai môn gặp khó khăn vì các giống khoai môn đang trồng có thời
10



sinh trưởng và phát triển. Trong củ tươi, tùy thuộc vào giống, hydratcacbon
chiếm từ 13 - 29%, trong đó tinh bột chiếm 77,9% với 4/5 là amilopectin,
1/5 là amilose. Amilopectin và amilose được xem là nguồn năng lượng cung

11


cấp cho người và gia súc. Hạt tinh bột của củ khoai môn có kích thước nhỏ,
tỷ lệ tiêu hóa 98%, hạt có nhiều tác dụng tốt đến vị giác nên dễ tiêu hóa,
chính yếu tố này tạo cho khoai môn như là món ăn phù hợp cho trẻ nhỏ bị dị
ứng và những người bị rối loạn dinh dưỡng [7]. Tuy không giàu protein thô
bằng lá, song củ cũng chứa một lượng chất dinh dưỡng khá đáng kể, protein
thô: 8,7%, xơ thô 1,7%, khoáng 4% (tính theo VCK) [21] và thiamine
(vitamin B1), riboflavin (vitamin B2) và niacin.
Cọng khoai môn không những cung cấp thức ăn cho gia súc mà một số
giống môn còn dùng để làm thực phẩm cho người. Theo Ngô Hữu Toàn và
ctv (2007) [17] thì lá và cọng môn cung cấp khoảng 20% (VCK), khoảng
25% protein trong khẩu phần hằng ngày của lợn ở nông hộ. Trong 100 g cọng
khoai môn tươi chứa khoảng 1 g protein, 2 g cacbonhydate, 0,1 g mỡ và nhiều
chất khoáng khác như kali 332 mg, photpho 28 mg, canxi 12 mg, magiê 8
mg…[22]. Bên cạnh đó, trong cọng cây khoai môn còn chứa nhiều vitamin A,
vitamin C.
Cũng như lá của nhiều loại thức ăn xanh khác, lá khoai môn khá giàu
dinh dưỡng, được sử dụng phổ biến làm thức ăn cho gia súc. Lá khoai môn
không những cung cấp hydratcacbon, năng lượng mà còn chứa nhiều protein,
khoáng, vitamin. Trong lá tươi có hàm lượng nước khá cao 80% (cọng lá 94%).
Lá môn giàu vitamin, đặc biệt là vitamin A, C, B 1, B2. Ngoài ra, chúng còn khá
giàu canxi (Ca), sắt (Fe) rất tốt cho cơ thể [6]. Cụ thể canxi (1,57%), sắt
(0,038%), photpho (0,14 %), vitamin C (0,05%).
Bảng 2.4. Giá trị dinh dưỡng của lá môn


12


Hàm lượng các axit amin trong lá khoai môn cũng rất cao và khá đầy
đủ, nó được đem so sánh với đậu tương, kết quả cho thấy lá khoai môn không
thua gì bột đậu tương nhất là hàm lượng Methionin, Threonin và Cystine
(Wang và Fuller, 1989, Rodriuez và ctv, 2006; Lê Đức Ngoan và Dư Thanh
Hằng, 2012).
Bảng 2.5. Thành phần acid amin trong cọng/lá môn trước và sau ủ chua (%
trong VCK)
Acid
Lá môn
Lá môn ủ
Cọng môn
Cọng môn ủ
amin
trước khi ủ
14 ngày
trước khi ủ
14 ngày
Asp
1,772
1,532
0,876
0,501
Glu

2,278


0,705

0,236

0,188

Thre

0,982

0,854

0,281

0,269

Ala

1,137

0,878

0,346

0,287

Arg

1,114


0,427

0,128

0,123

Phe

1,045

1,049

0,310

0,534

Isol

1,044

0,986

0,309

0,534

Leu

1,671


2.4. Các phương pháp chế biến thức ăn xanh
Đảm bảo trong khẩu phần ăn của lợn có thức ăn xanh một cách thường
xuyên là rất quan trọng trong chăn nuôi ở nông hộ. Thế nhưng, nguồn thức ăn
13


xanh lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời tiết, khí hậu và thời kì thu
hoạch. Mà các yếu tố này thường không ổn định. Do đó, nếu người dân thu
hoạch lá khoai môn làm nguồn thức ăn cho lợn là chính thì sẽ thu hoạch từng
lứa và có thể chế biến lá khoai môn bằng nhiều cách như: thái nhỏ cho ăn
tươi, nấu và phơi khô.
2.4.1. Phương pháp phơi khô
Phương pháp làm khô thức ăn là phương pháp cổ truyền để chế biến dự
trữ thức ăn. Phương pháp này sử dụng nhiệt năng để làm thoát hơi nước, giảm
độ ẩm của thức ăn đến mức thấp (10 – 13% ẩm độ) đủ kìm hãm sự hoạt động
của các enzym trong tế bào thực vật, cũng như kìm hãm sự hoạt động phân
hủy của vi sinh vật. Có hai cách làm khô: sấy khô ở nhiệt độ 45 0C và phơi
trực tiếp giữa ánh mặt trời.
Ưu điểm: Đây là phương pháp đơn giản, dễ làm, thức ăn được phơi khô
có thể dự trữ đáp ứng việc cung cấp thức ăn quanh năm cho gia súc. Khi ở
trạng thái khô, thức ăn thuận lợi cho việc vận chuyển cũng như nghiền nhỏ và
dễ dàng cho việc sử dụng.
Nhược điểm: Mặc dù lợi dụng được năng lượng mặt trời nhưng phụ
thuộc vào thời tiết, không phải lúc nào cũng tiến hành được một cách dễ dàng.
Mặt khác, dưới ánh nắng mắt trời các chất dinh dưỡng bị hao hụt nhiều. Nếu
chế độ nhiệt trong quá trình phơi không tốt, các chất dinh dưỡng bị tổn thất
cao, do quá trình hô hấp nội bào. Quá trình làm khô và quá trình bảo quản tiếp
theo, nếu không hợp lý thì sự mất mát dinh dưỡng và dễ hư hỏng do sự phá
hủy của vi sinh vật (vi khuẩn, nấm mốc,...). Riêng với phương pháp sấy khô
thì chi phí cao [2].

Ủ chua là kết quả của bảo quản thức ăn nói chung và đặc biệt là thức ăn
xanh bởi sự axit hóa. Sự axit hóa được thực hiện bởi quá trình lên men thức
ăn thô trong môi trường không có oxy. Ban đầu, ủ chua chỉ tiến hành trên cỏ
xanh hòa thảo (chủ yếu là cây ngô và cao lương), sản phẩm sau khi ủ chua
vẫn còn màu xanh nên gọi là ủ xanh.
Hai phương pháp ủ chua phổ biến là ủ chua axit và ủ chua vi sinh vật.
Ủ chua axit là quá trình làm giảm pH nhờ thêm vào trong thức ăn một số axit
vô cơ, ví dụ axit photphoric, sulphuruc, clohydric... hay hữu cơ, ví dụ như axit
formic, propionic... hoặc là kết hợp giữa vô cơ và hữu cơ. Trong khi đó, ủ
chua vi sinh vật là quá trình làm giảm độ pH khối ủ nhờ vi sinh vật (chủ yếu
là tồn tại trong tự nhiên), trong đó nhóm có lợi chính là vi khuẩn lên men
lactic. Hiện nay, ủ chua bằng lên men vi sinh vật được sử dụng rộng rãi vì ít
độc hơn sử dụng axit, đặc biệt với các thực phẩm cho con người [9].
2.5. Tình hình sử dụng thức ăn trong chăn nuôi nông hộ
Nguồn thức ăn từ sản xuất trồng trọt.

15


Song song với ngành chăn nuôi thì trồng trọt cũng là một ngành chiếm
nhiều vai trò quan trọng đối với nền nông nghiệp nước ta.
Các sản phẩm của ngành trồng trọt ngày càng trở thành nguồn cung cấp
thức ăn chính cho chăn nuôi. Bên cạnh các sản phẩm phụ như thân, lá thì một
bộ phận sản phẩm chính của ngành trồng trọt có chất lượng thấp không được
sử dụng cho con người cũng được tận dụng làm thức ăn cho gia súc. Tuy
nhiên, việc cung cấp thức ăn từ các sản phẩm phụ này không ổn định, phụ
thuộc nhiều vào mùa vụ, thời tiết. Cho nên, khi ngành chăn nuôi phát triển,
tập trung và quy mô lớn thì nguồn thức ăn từ phụ phẩm của ngành trồng trọt
không thể đáp ứng đủ so với nhu cầu của ngành chăn nuôi. Để đáp ứng nhu
cầu đó đòi hỏi ngành chế biến thức ăn công nghiệp hình thành và phát triển.

phẩm của ngành trồng trọt được tận dụng triệt để. Thứ hai là thông qua chế
biến, thành phần thức ăn được cung cấp đầy đủ và cân đối các yếu tố và thành
phần dinh dưỡng cần thiết cho vật nuôi nhất là các thành phần đạm, khoáng,
và các yếu tố vi lượng khác. Nhờ đó, mà năng suất sản phẩm chăn nuôi sử
dụng thức ăn chế biến thường cao và tăng nhanh hơn nhiều so với chăn nuôi
tự nhiên.
Cuối cùng, việc phát triển hoạt động chế biến thức ăn gia súc sẽ đảm
bảo có nguồn cung cấp thức ăn ổn định đều đặn, không phụ thuộc vào mùa vụ
và thời tiết. Vì vậy, để phát triển chăn nuôi tập trung mang tính công nghiệp
thì không thể thiếu các hoạt động chế biến thức ăn gia súc.
Chế biến thức ăn gia súc thường được phân thành 2 dạng. Chế biến
thức ăn thô và chế biến thức ăn tinh. Việc chế biến thức ăn thô chủ yếu nhằm
mục đích dữ trữ các nguồn thức ăn xanh sẵn có không sử dụng hết tại thời
điểm thu hoạch. Chế biến thức ăn tinh là hoạt động chế biến phát triển đòi hòi
một trình độ kỹ thuật cao hơn. Nó không chỉ nhằm bảo quản duy trì các
nguồn thức ăn tinh sẵn có mà nó còn tạo ra các loại thức ăn tinh có cơ cấu
thành phần dinh dưỡng phù hợp với đặc tính yêu cầu của từng loại vật nuôi,
từng thời kỳ dinh dưỡng và phát triển của đàn vật nuôi [20].
Nhận thấy được vai trò, tầm quan trọng của việc chế biến thức ăn cho
gia súc nói chung và cho lợn nói riêng hầu hết các hộ gia đình tại xã Bình
Phục mà cụ thể là ở thôn Ngọc Sơn Tây đều chế biến các loại thức ăn trước
khi cho lợn ăn. Mỗi gia đình có cách chế biến riêng. Nhiều gia đình lựa chọn
phương pháp nấu chín, lại có những hộ lựa chọn phương pháp phơi khô. Tuy
nhiên, hầu hết các gia đình đều nấu chín trước khi cho ăn. Phơi khô là cách
người dân ở đây dự trữ thức ăn cho mùa mưa, mùa khan hiếm thức ăn. Mặc
dù, đã có các cách chế biến thức ăn nhưng những phương pháp chế biến thức
ăn đó chưa mang lại hiệu quả cao.Việc chế biến như vậy vừa mất nhiều thời
gian, một số các chất dinh dưỡng, vitamin bị mất đi trong quá trình chế biến.
Quá trình chế biến thức ăn gặp nhiều khó khăn vì không phải lúc nào nguồn
nguyên cũng dồi dào. Bên cạnh đó, nó cũng không đáp ứng được nhu cầu sinh

nành) cùng với 45% bột củ khoai ráy trong khẩu phần cho lợn lai không có
ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng va mang lại lợi ích cho người chăn nuôi.
Dư Thanh Hằng và Preston (2010), khi nghiên cứu ảnh hưởng của sự
chế biến lá cây khoai môn đến hàm lượng Oxalate và sử dụng lá môn ủ như
nguồn protein trong khẩu phần chăn nuôi lợn ở Miền Trung Việt Nam, cho
biết: Sử dụng các phương pháp như phơi khô, rửa, nấu hoặc ủ chua đều làm
giảm hàm lượng oxalate, nhưng rõ nhất là phương pháp nấu và ủ chua (giảm
đến 50% lượng oxalate). Có thể sử dụng 30% môn ủ thay thế bột cá trong

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status