1
TIỂU LUẬN
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ
MỆNH LỆNH - KIỂM SOÁT TRONG QUẢN LÝ TÀI
NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
HÀ GIANG
Giáo viên hướng dẫn: Tiến sĩ Phạm Thị Hồng
Điệp
Thực hiện: Tổ 6 lớp K21 QLTK Hà Giang
1. Nguyễn Trung Tuyến
2. Hà Thanh Tùng
3. Phạm Minh Tuấn
4. Dương Anh Tuấn
5. Nguyễn Anh Tuấn
6. Hoàng Anh Tuấn
7. Bùi Mạnh Tuyên
8. Trần Trung Tuyến
9. Phạm Thị Tuyến
10. Đoàn Vân Trường
11. Phạm Thị Hồng Yên
Hà Giang tháng 7 năm 2013
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I 4
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ MÔI
TRƯỜNG BẰNG CÔNG CỤ MỆNH LỆNH KIỂM SOÁT 4
1.1. Khái niệm và mục tiêu quản lý môi trường 4
1.2. Công cụ quản lý môi trường 5
1.3. Quản lý môi trường bằng công cụ mệnh lệnh - kiểm soát 6
CHƯƠNG II 8
môi trường là cần tiến hành quản lý môi trường như thế nào để đảm bảo kinh tế
vẫn tăng trưởng cao.
Công cụ kinh tế, công cụ mệnh lệnh kiểm soát và các biện pháp giáo dục
môi trường nằm trong hệ thống công cụ của quản lý môi trường. Trên thế giới,
cùng với các công cụ kinh tế thì công cụ mệnh lệnh - kiểm soát có vai trò đặc
biệt quan trọng
Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, do đó phải đối
mặt với những thách thức lớn về bảo vệ môi trường. Quá trình đô thị hóa diễn ra
mạnh mẽ kéo theo đó là những tổn hại về môi trường. Các chất thải ngày càng
tăng lên cả về khối lượng và mức độ nguy hại. Tình trạng này ở các thành phố
lại càng đáng báo động. Nồng độ các chất độc hại có trong đất, nước, không khí
vượt quá tiêu chuấn cho phép gây ảnh hưởng tới sức khỏe người dân.
Là một tỉnh miền núi biên giới trong những năm trở lại đâu môi trường của
Hà Giang cũng bắt đầu bị ảnh hưởng của việc đô thị hoá cũng như việc khai
thác tài nguyên và chất thải của các nhà máy, khu công nghiệp. Để hạn chế tình
trang ô nhiễm môi trường từ năm 2005 đến nay Hà Giang đã bước đầu áp dụng
các công cụ mệnh lệnh - kiểm soát trong quản lý tài nguyên và môi trường và
thu được những kết quả nhất định.
3
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ MÔI
TRƯỜNG BẰNG CÔNG CỤ MỆNH LỆNH KIỂM SOÁT
1.1. Khái niệm và mục tiêu quản lý môi trường
1.1.1. Khái niệm quản lý môi trường:
Quản lý môi trường là sự tác động liên tục có tổ chức và hướng đích của
chủ thế quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt
động phát triến trong hệ thống môi trường và khách thế quản lý môi trường, sử
dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý
môi trường đã đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành.
Như vậy, quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính
1.2. Công cụ quản lý môi trường.
1.2.1. Khái niệm công cụ quản lý môi trường.
Công cụ quản lý tài nguyên môi trường là tổng hợp các biện pháp hoạt
động về pháp luật, chính sách, kinh tế, kỹ thuật và xã hội nhằm bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững kinh tế xã hội.
1.2.2. Phân loại công cụ quản lý môi trường
*. Phân loại theo chức năng:
Theo chức năng của các công cụ có thế phân ra làm 3 loại chức năng chủ
yếu của công cụ quản lý môi trường là: công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành
động, công cụ hỗ trợ.
• Công cụ điều chỉnh vĩ mô: là luật phápvà các chính sách của Nhà nước,
thông qua đó Nhà nước có thế điều chỉnh các hoạt động sản xuất có tác động
mạnh mẽ tới việc phát sinh ra chất ô nhiễm.
• Công cụ hành động: là các công cụ hành chính (xử phạt vi phạm môi
trường trong kinh tế, sinh hoạt ), công cụ kinh tế, có tác động trực tiếp tới lợi
ích kinh tế - xã hội của cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Công cụ hành động là công cụ chủ yếu của các tổ chức môi trường được
xây dựng trên cơ sở luật pháp, chính sách của quốc gia.
- Công cụ hành động nhìn chung rất đa dạng, có ảnh hưởng trong một
phạm vi nhất định.
• Công cụ hỗ trợ: là các công cụ không có tác động điều chỉnh hoặc không
tác động trực tiếp tới hoạt động. Các công cụ này dùng đế quan sát, giám sát các
hoạt động gây ô nhiễm, giáo dục con người trong xã hội.
- Công cụ hỗ trợ có thế là các công cụ kỹ thuật như: GIS, mô hình hóa,
giáo dục môi trường, thông tin môi trường.
- Công cụ hỗ trợ có chức năng hoàn thiện dần các công cụ hành động của
các tổ chức và các cá nhân gây ô nhiễm môi trường.
*. Phân loai theo bản chất công cụ:
Có thế phân loại công cụ quản lý môi trường theo bản chất thành 4 loại cơ
bản là: công cụ luật pháp - chính sách, công cụ kinh tế, công cụ kỹ thuật quản
- Giáo dục môi trường thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và
không chính quy đe nâng cao nhận thức, kỹ năng và sử dụng môi trường theo
cách bền vững.
- Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng, tình cảm, suy nghĩ,
thái độ giữa các cá nhân hoặc nhóm người đe hieu về các yếu tố môi trường,
mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng và các tác động liên quan.
1.3. Quản lý môi trường bằng công cụ mệnh lệnh - kiểm soát
1.3.1. Khái niệm công cụ mệnh lệnh - kiểm soát.
Về bản chất công cụ mệnh lệnh - kiểm soát là là công cụ pháp luật - chính
sách và hệ thống Hệ thống các cơ quan kiểm soát việc thực hiện các quy định và
xử phạt trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường.
1.3.2. Các loại công cụ mệnh lệnh - kiểm soát trong quản lý môi trường
- Ban hành các bộ luật, các văn bản quy phạm pháp luật, các văn quản lý về
tài nguyên MT và các tiêu chuẩn, quy định… trong lĩnh vực quản lý tài nguyên
môi trường:
- Ban hành các bộ luật, các văn bản quy phạm pháp luật, các văn quản lý về
tài nguyên và MT và các tiêu chuẩn, quy định… trong lĩnh vực quản lý tài
nguyên môi trường:
+ Luật và các văn bản dưới luật: Luật bảo vệ môi trường Việt Nam được
được sửa đổi, bổ sung theo nghị quyết số 52/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm
2005; Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 về xử phạt vi phạm hành chính về bảo
6
vệ môi trường; Bộ Luật hình sự, các thông tư, quy định, quyết định của các
ngành chức năng về thực hiện luật môi trường đã được ban hành.
+ Chính sách: Chính sách môi trường là những chủ trương, biện pháp
mang tính chiến lược, thời đoạn, giải quyết một nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ
thể. Nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược của đất nước. Chính sách tài
nguyên, môi trường cụ thể hoá Luật. Mỗi cấp quản lý hành chính đều có những
chính sách tài nguyên môi trường riêng. Nó vừa cụ thể hoá luật pháp và những
chính sách của các cấp cao hơn, vừa tính tới đặc thù địa phương. Sự đúng đắn và
Dân số tỉnh Hà Giang theo điều tra dân số ngày 01 tháng 4 năm 2009 là
724.537 người. Trong đó, dân số thành thị là 84.338 người
2.1.1. Vị trí địa lý
Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới ở cực bắc của Tổ quốc, có vị trí
chiến lược đặc biệt quan trọng. Phía bắc và tây có đường biên giới giáp với nước
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dài 274 km; phía đông giáp tỉnh Cao Bằng; phía
nam giáp tỉnh Tuyên Quang; phía tây và tây nam giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái.
Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.884, 37 km
2
. Tính đến nay Hà Giang có
01 thành phố, 10 huyện, 05 phường, 13 thị trấn và 177 xã: Thành phố Hà Giang 5
phường và 3 xã; Huyện Bắc Mê 01 thị trấn và 12 xã; Huyện Bắc Quang 02 thị
trấn và 21 xã; Huyện Đồng Văn 02 thị trấn và 17 xã; Huyện Hoàng Su Phì 01 thị
trấn và 24 xã; Huyện Mèo Vạc 01 thị trấn và 17 xã; Huyện Quản Bạ 01 thị trấn và
12 xã; Huyện Quang Bình 01 thị trấn và 14 xã; Huyện Vị Xuyên 2 thị trấn và 22
xã; Huyện Xín Mần 01 thị trấn và 18 xã; Huyện Yên Minh 01 thị trấn và 17 xã.
2.1.2. Địa hình
Nằm trong khu vực địa bàn vùng núi cao phía bắc lãnh thổ Việt Nam, Hà
Giang là một quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, có độ cao trung bình
từ 800 m đến 1.200 m so với mực nước biển. Đây là vùng tập trung nhiều ngọn
núi cao. Theo thống kê mới đây, trên dải đất Hà Giang rộng chưa tới 8.000 km2
mà có tới 49 ngọn núi cao từ 500 m - 2.500 m (10 ngọn cao 500 - 1.000 m, 24
ngọn cao 1000 - 1500 m, 10 ngọn cao 1.500 - 2.000 m và 5 ngọn cao từ 2.000 -
2.500 m). Tuy vậy, địa hình Hà Giang về cơ bản, có thể phân thành 3 vùng sau:
- Vùng cao phía bắc còn gọi là cao nguyên Đồng Văn, gồm các huyện
Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với 90% diện tích là núi đá vôi, đặc
trưng cho địa hình karst.
8
- Vùng cao phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần là một phần
của cao nguyên Bắc Hà, thường được gọi là vòm nâng sông Chảy, có độ cao từ
năm có sự dao động trên 100C và trong ngày cũng từ 6 - 70C. Mùa nóng nhiệt
độ cao tuyệt đối lên đến 400C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp
tuyệt đối là 2,20C (tháng l).
Chế độ mưa ở Hà Giang khá phong phú. Toàn tỉnh đạt bình quân lượng
mưa hàng năm khoảng 2.300 - 2.400 mm, riêng Bắc Quang hơn 4.000 mm, là
một trong số trung tâm mưa lớn nhất nước ta. Dao động lượng mưa giữa các
vùng, các năm và các tháng trong năm khá lớn. Năm 2001, lượng mưa đo được
ở trạm Hà Giang là 2.253,6 mm, Bắc Quang là 4.244 mm, Hoàng Su Phì là
1.337,9 mm Tháng mưa cao nhất ở Bắc Quang (tháng 6) có thể đạt trên 1.400
9
mm, trong khi đó lượng mưa tháng 12 ở Hoàng Su Phì là 3,5 mm, ở Bắc Mê là
1,4 mm. . .
Độ ẩm bình quân hàng năm ở Hà Giang đạt 85% và sự dao động cũng
không lớn. Thời điểm cao nhất (tháng 6,7,8) vào khoảng 87 - 88%, thời điểm
thấp nhất (tháng l,2,3) cũng vào khoảng 81%: Đặc biệt ở đây ranh giới giữa mùa
khô và mùa mưa không rõ rệt. Hà Giang là tỉnh có nhiều mây (lượng mây trung
bình khoảng 7,5/10, cuối mùa đông lên tới 8 - 9/10) và tương đối ít nắng (cả
năm có 1.427 giờ nắng, tháng nhiều là 181 giờ, tháng ít chỉ có 74 giờ).
Các hướng gió ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng. Thung lũng
sông Lô quanh năm hầu như chỉ có một hướng gió đông nam với tần suất vượt
quá 50%. Nhìn chung gió yếu, tốc độ trung bình khoảng 1 - l,5m/s. Đây cũng là
nơi có số ngày giông cao, tới 103 ngày/năm, có hiện tượng mưa phùn, sương mù
nhiều nhưng đặc biệt ít sương muối. Nét nổi bật của khí hậu Hà Giang là độ ẩm
trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, đều có ảnh hưởng
đến sản xuất và đời sống.
2.4.3. Tài nguyên thiên nhiên
*, Tài nguyên đất.
Trong 778.473 ha diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp có 134.184 ha,
chiếm 17% diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp có 334.100 ha, chiếm 42,4%, đất
chưa sử dụng có 310.064 ha, chiếm 39,3%, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở.
bước được nâng lên; các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh đã tích cực, chủ động
trong công tác bảo vệ, phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường.
Chất lượng các thành phần môi trường được duy trí góp phần quan trọng vào
việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế,
bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững.
Kết quả quan trắc, đánh giá chất lượng các thành phần môi trường qua các
năm cho thấy chất lượng môi trường trên địa bàn tỉnh cơ bản nằm trong giới hạn
cho phép. Một số khu vực môi trường bị ô nhiễm cục bộ ảnh hưởng do các hoạt
động sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản, giao thông tuy nhiên mức độ
ô nhiễm và phạm vi không lớn.
- Môi trường không khí: Môi trường không khí tại trung tâm các huyện,
thành phố Hà Giang là tốt, các chỉ tiêu đều nằm trong giới hạn cho phép. Một số
khu vực cạnh đường giao thông trong nội thị thành phố Hà Giang và dọc Quốc
lộ 2 có nông độ bụi cao do ảnh hưởng của các phương tiện giao thông. Môi
trường không khí khu vực nông thôn là tốt, các chỉ tiêu quan trắc đều nằm trong
giới hạn cho phép.
- Môi trường nước mặt: Kết quả quan trắc chất lượng nước hàng năm trên
các sông lớn như: sông Lô, sông Gâm, sông Nho Quế, sông Bạc nhìn chung là
tốt, chưa phát hiện các loại chất độc hại tuy nhiên do đặc điểm địa hình của tỉnh
bị chia cắt mạnh nên vào mùa mưa nồng độ chất rắng lơ lứng trong nước mặt
các sông cao. Với đặc thù các sông của Hà Giang đều có thượng nguồn từ Trung
Quốc do đó nguy cơ ô nhiễm nước xuyên biên giới là rất cao, hiện tại chất lượng
nước Sông Chảy trên địa bàn huyện Xín Mần bị ô nhiễm do chất thải từ phía
Trung Quốc. Một số sông, suối trên địa bàn đã bị ô nhiễm cục bộ do ảnh hưởng
của các hoạt động khai thác khoáng sản (Sông Ma trên địa bàn xã Tùng Bá, suối
Sảo trên đại bàn xã Ngọc Minh). Chế độ dòng chảy của các sông trên địa bàn đã
có những thay đổi (mực nước chênh lệch trong ngày) do ảnh hưởng của việc xây
dựng các thủy điện.
- Nguồn nước ngầm: Nhìn chung đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường, tuy
nhiên tại một số khu vực trên địa bàn thành phố Hà Giang chất lượng nước ngầm bị
Chế tài xử phạt các vi phạm về bảo vệ môi trường chưa đủ sức răn đe.
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân chưa được thiết lập nên không thể truy cứu
hình sự pháp nhân vi phạm pháp luật môi trường.
2.3.2. Thực hiện chính sách pháp luật.
- Việc chỉ đạo tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch và
nhiệm vụ về BVMT.Trong những năm qua, tỉnh Hà Giang đã chỉ đạo thực hiện
việc gắn kết quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển với phương án bảo vệ môi
trường theo phương châm phát triển bền vững.
- Về nhiệm vụ, quan trắc môi trường, đánh giá hiện trạng môi trường:
Công tác điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường luôn được quan tâm thực hiện,
hàng năm Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức quan trắc, đánh giá hiện trạng
môi trường trên địa bàn toàn tỉnh theo mạng lưới quan trắc gồm: 35 điểm quan
trắc môi trường không khí, 25 mẫu nước mặt tại các lưu vực sông và 10 mẫu
nước ngầm.
- Việc lập thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường
và cam kết BVMT, áp dụng hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường:Công tác
thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ
môi trường, áp dụng hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường đã được các cấp
12
các ngành quan tâm, thực hiện nghiêm túc, thường xuyên đôn đốc, hướng dẫn
các chủ đầu tư, cơ sở lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường, Cam kết bảo vệ
môi trường. Trên địa bàn tỉnh đã tổ chức thẩm định và phê duyệt 73 Báo cáo
đánh giá tác động môi trường, 23 dự án cải tạo, phục hồi môi trường và 03 đề án
BVMT môi trường chi tiết. UBND các huyện, thành phố đã tiến hành thẩm định,
xác nhận 579 bản cam kết BVMT.
- Về tình hình tội phạm, việc xử lý vi phạm pháp luật về bảo môi trường:
Nhìn chung các tổ chức, cá nhân đã chấp hành và thực hiện nghiêm các quy định
của luật bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên còn một số tổ
chức, cá nhân chấp hành chưa tốt như: một số bệnh viện tuyến huyện chưa được
đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải y tế đạt tiêu chuẩn, chất thải rắn y tế
- Việc thực thi pháp luật, quản lý môi trường ở đô thị, nông thôn và các
khu dân cư
13
+ Đối với đô thị: Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại thành phố Hà Giang
và trung tâm các huyện do Công ty môi trường đô thị (thành phố), đội dịch vụ
môi trường công cộng (các huyện) thu gom với tỷ lệ thu gom đạt trên 80% tuy
nhiên lượng rác thải sau khi thu gom tại trung tâm các huyện chưa được xử lý
đảm bảo tiêu chuẩn.
+ Khu vực nông thôn và các khu dân cư: Với đặc thù là tỉnh miền núi, tỷ lệ
đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn, sống rải rác nên điều kiện vệ sinh môi
trường tại khu vực nông thôn có nhiều điểm bất cập. Tại các xã chưa hình thành
hệ thống thu gom rác thải sinh hoạt. Chất thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi
chưa được xử lý đảm bảo đã có những ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng môi
trường sống hàng ngày của nhân dân.
- Các làng nghề: Đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang có 15 làng nghề. Các
làng nghề trên địa bàn tỉnh hiện nay chủ yếu có quy mô nhỏ với các ngành nghề
như dệt thổ cẩm (07 làng), nấu rượu (01 làng), chế biến chè (06 làng) và làm
giấy bản dân tộc (01 làng). Công nghệ sản xuất lạc hậu, manh mún với quy mô
hộ gia đình nên việc đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế, cón
nhiều bất cập, khó khăn trong quá trình thực hiện các quy định bảo vệ môi
trường, tuy nhiên do có quy mô nhỏ chủ yếu là hộ gia đình nên mức độ phát sinh
chất thải ra môi trường là không lớn.
2.3.3. Về công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm về bảo
vệ môi trường.
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi
trường đã được quan tâm và tăng cường. Bước đầu hạn chế mức độ gia tăng ô
nhiễm; hàng năm tỉnh đã tổ chức các cuộc kiểm tra, thanh tra liên ngành và
chuyên ngành về công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở sản xuất kinh doanh.
Qua kiểm tra đã kịp thời phát hiện, nhắc nhở và xử lý các đơn vị thực hiện
nghiêm túc pháp luật về BVMT, thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường theo
quát chung, thiếu tính đồng nhất, chưa chặt chẽ.
- Về những văn bản quy phạm pháp luật quy định có nội dung mâu thuẫn,
chồng chéo, bất cập, không còn phù hợp, cần sửa đổi, bổ sung và còn thiếu cần
ban hành mới.
- Chính sách về tài chính trong lĩnh vực hoạt động khoáng sản như: thuế,
phí, ký quỹ và lệ phí các khoản thu trong lĩnh vực hoạt động khoáng sản còn
thấp chưa phù hợp với thực tiễn.
- Chế tài chưa đủ mạnh, trách nhiệm hình sự của pháp nhân chưa được thiết
lập nên không thể truy cứu hình sự pháp nhân vi phạm pháp luật môi trường.
Theo quy định tại Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính
phủ về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, mức phạt tuy đã tăng
lên nhưng mức phạt của người có thẩm quyền xử phạt lại chưa được tăng dẫn tới
tình trạng các hành vi vi phạm bị lập biên bản, sau đó phải chuyển lên cấp trên
do đó việc xử phạt không kịp thời.
- Khoản 3 Điều 7 của Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 quy
định khoản tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường là một khoản tiền đảm bảo
tài chính để cải tạo, phục hồi môi trường trong và sau khai thác khoáng sản. Như
vậy, đối với các cơ sở thực hiện cải tạo, phục hồi môi trường sau nhiều năm thì
khoản tiền tính toán tại thời điểm lập dự án cải tạo, phục hồi môi trường không
phù hợp.Việc tính toán chi phí ký quỹ phục hồi môi trường này phải tính đến hệ
số trượt giá theo năm.
2.4.1.2. Những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện chính sách, pháp
luật ở Hà Giang
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác bảo vệ môi trường trên địa
bàn tỉnh Hà Giang trong thời gian quan vẫn còn một số tồn tại, hạn chế đó là:
- Công tác quy hoạch, quản lý và bảo vệ môi trường chưa được quan tâm
thường xuyên và đầu tư chưa tương xứng với thực trạng. Việc ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong công tác bảo vệ và xử lý chất thải
sinh hoạt còn hạn chế.
15
trường đã được thực hiện tuy nhiên nhận thức của một bộ phân cán bộ, nhân dân
về tâm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế. Nhận thức, ý
thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của một số đơn vị sản xuất kinh doanh,
một số người dân còn bị coi nhẹ, chưa quan tâm đến công tác xử lý chất thải,
bảo vệ môi trường.
- Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp còn thiếu
về số lượng, trang thiết bị chuyên môn và kinh nghiệm quản lý môi trường.
Trung tâm quan trắc môi trường chưa được thành lập nên công tác quan trắc,
đánh giá hiện trạng các thành phần môi trường chưa được thực hiện thường
xuyên và kịp thời, cơ sở dữ liệu về hiện trạng môi trường chưa được liên tục,
đầy đủ. Thiếu trang thiết bị quan trắc môi trường dẫn đến hiệu quả của công tác
thanh kiểm tra và giám sát phát thải ô nhiễm tại các cơ sở sản xuất không cao,
16
không kịp thời trong những tình huống xảy ra sự cố môi trường và trong quá
trình giải quyết các khiếu nại, tố cáo có liên quan đến ô nhiễm môi trường.
- Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi
trường chưa được tiến hành thường xuyên, việc xử lý các hành vi gây ô nhiễm
môi trường chưa triệt để, hiệu quả chưa cao, thiếu tính giáo dục, ngăn chặn.
CHƯƠNG III
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG CÔNG CỤ MỆNH LỆNH - KIỂM SOÁT TRONG QUẢN LÝ
MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG
Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường cần sử dụng đồng loạt
các công cụ và giải pháp trong việc quản lý môi trường.
3.1. Một số kiến nghị, đề xuất nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế
chính sách pháp luật liên quan về bảo vệ môi trường
- Đề nghị bổ sung và quy định cụ thể hơn về bảo vệ môi trường đối với khu
kinh tế, làng nghề; các quy định về sử dụng hiệu quả các công cụ kinh tế… Cần
quy định cụ thể tiêu chí để xác định khoảng cách an toàn về môi trường giữa cơ
sở sản xuất, kho tàng, khu công nghiệp, cơ sở xử lý chất thải nguy hại, khu chôn
cấp và phát triển các cơ chế giải quyết vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng.
- Nâng cao năng lực, tính chủ động trong công tác tham mưu, quản lý Nhà
nước về bảo vệ môi trường; Đảm bảo các điều kiện cho các đơn vị quản lý Nhà
nước về bảo vệ môi trường thực hiện nhiệm vụ; chú trọng đào tạo nâng cao
nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ trong ngành, nhất là cán bộ thực hiện công
tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường; tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra, bảo đảm Luật Bảo vệ môi trường được thực hiện nghiêm túc.
- Làm tốt công tác xây dựng, quản lý quy hoạch gắn với bảo vệ môi trường;
Chú trọng xây dựng năng lực ứng phó sự cố môi trường; Thực hiện nghiêm túc
báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường theo đúng
quy định của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 14/4/20011 của Chính phủ,
không cấp phép, đưa vào xây dựng, vận hành, khai thác các cơ sở chưa đáp ứng
đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường.
- Tăng cường năng lực quan trắc, thực hiện giám sát môi trường thường
xuyên, đảm bảo luôn cập nhật, nắm chắc thực trạng và diễn biến chất lượng môi
trường trên địa bàn tỉnh.
3.2.2. Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ
môi trường:
- Tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục tạo sự chuyển
biến về nhận thức và hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể, cán bộ, đảng viên, nhân dân và doanh nghiệp về công tác
bảo vệ môi trường. Xây dựng các chương trình truyền thông, các chuyên mục,
phóng sự thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao nhận thức,
trách nhiệm bảo vệ môi trưòng của người dân, của toàn xã hội;
- Xây dựng xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn môi trường phù hợp với
Chương trình xây dựng nông thôn mới; hàng năm tổ chức kiểm tra, đánh giá, coi
đây là một trong những tiêu chí quan trọng của xã, phường, thị trấn, hộ gia đình
văn hoá.
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sản
xuất kinh doanh; phổ biến, hướng dẫn các kiến thức về môi trường và bảo vệ
vệ môi trường với quan điểm đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát
triển bền vững.
- Phát triển các hình thức cung cấp nước sạch cùng với việc bảo vệ nguồn
nước, kiểm kê các dạng tài nguyên nước và có quy hoạch, biện pháp khai thác
hợp lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên, phù hợp với đặc
điểm sinh thái.
- Chú trọng bảo vệ môi trường các làng nghề bằng biện pháp cải tiến công
nghệ, xây dựng hệ thống xử lý chất thải hoặc quy hoạch các khu làng nghề với
hệ thống kết cấu hạ tầng đạt tiêu chuẩn môi trường.
3.2.5. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ và đào tạo
nguồn nhân lực về môi trường:
- Thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ,
ứng dụng công nghệ mới về bảo vệ môi trường, đặc biệt là ứng dụng công nghệ
sinh học trong sản xuất nông nghiệp và xử lý chất thải. Phối hợp với các trung
tâm, cơ quan của Trung ương đóng trên địa bàn nghiên cứu, đào tạo nhân lực về
bảo vệ môi trường, đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ trong công tác quản lý
nhà nước về môi trường.
19
- Tạo điều kiện về cơ chế, chính sách, khuyến khích các tổ chức, cá nhân
nghiên cứu, ứng dụng các đề tài khoa học, đưa ra các sáng kiến đem lại hiệu quả
kinh tế cao thuộc lĩnh vực xử lý môi trường.
3.2.6. Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường: Mở
rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về môi trường. Tranh thủ tối đa
nguồn hỗ trợ tài chính, kỹ thuật từ các nước, các tổ chức quốc tế và cá nhân cho
công tác bảo vệ môi trường của tỉnh.
KẾT LUẬN
Sử dụng công cụ mệnh lệnh - kiểm soát trong quản lý môi trường đã được
áp dụng một thời gian dài ở trên thế giới. Ơ Việt Nam một số công cụ cũng
được áp dụng và thu được những kết quả quan trọng.
Công cụ mệnh lệnh - kiểm soát trong quản lý môi trường được áp dụng trên