Tiểu luận
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020
TỔ 6 LỚP CAO HỌC QUẢN LÝ KINH TẾ QH-2012-E.CH
HÀ GIANG THÁNG 12 NĂM 2012
MỤC LỤC
Chương I 2
2
LỜI NÓI ĐẦU
Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc cho con người là mục tiêu phấn
đấu cao nhất của chế độ ta. Đảng ta coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy
nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khẳng định con người Việt Nam phát triển toàn diện
cả về thể lực, trí lực, cả về khả năng lao động, năng lực sáng tạo và tính tích cực
chính trị - xã hội, về đạo đức, tâm hồn và tình cảm là mục tiêu, là động lực của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách của Nhà nước đều nhằm quán triệt tư tưởng chăm lo bồi dưỡng và phát huy
nhân tố con người, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đặt ra yêu cầu bức
thiết đối với việc nâng cao chất lượng và số lượng nguồn nhân lực. Trên thực tế,
những giải pháp phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia có thể có những điểm
khác nhau. Song, vấn đề cơ bản nhất mà hầu như tất cả các nước đều dành sự quan
tâm đặc biệt trong chính sách phát triển nguồn nhân lực là phát triển giáo dục, đào
tạo.
Nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu đối với phát
triển kinh tế - xã hội của một đất nước. Nói đến nguồn nhân lực, người ta thường
quan tâm đồng thời đến cả hai yếu tố chất lượng và số lượng, trong đó đặc biệt quan
tâm đến chất lượng nguồn nhân lực. Những yếu tố nào tạo nên chất lượng nguồn
nhân lực đang là vấn đề rất được quan tâm hiện nay ? Trên thực tế có nhiều cách
của đất nước”.
Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao
gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn
2
lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác:
vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Theo tổ chức lao động quốc tế thì: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn
bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động .
Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực
là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người
cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển
bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là
nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi
lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá
nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực
của họ được huy động vào quá trình lao động.
Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ
tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. nguồn nhân lực được biểu hiện trên
hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc
theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về
chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề
của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động
quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao
động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Như vậy theo khái niệm
này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao
động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc
làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi
lao động quy định nhưng đang đi học…
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể
hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng
tiến bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người.
4
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm trên đây thực chất là đề cập
đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của
một quốc gia.
1.1.3. Khái niệm nguồn nhân chất lượng lực cao.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người
lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành
nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định
(Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề.
Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nói đến
chất lượng NNL là muốn nói đến tổng thể NNL của một quốc gia, trong đó NNL
CLC là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng
nhất. Bởi vậy, khi bàn về NNL CLC không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề
chất lượng nguồn nhân lực nói chung của một đất nước.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là NNL phải đáp ứng được yêu cầu của thị
trường ( yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức:
chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc
an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công
việc.
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những con người phát triển
cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị- xã hội,
về đạo đức, tình cảm trong sáng. Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần
đông về số lượng, nhưng phải đi vào thực chất.
Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri
thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, NNL đặc biệt là NNL
CLC ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó. Các lý thuyết tăng trưởng gần
đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa
trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện
của con người thì chúng chỉ là vật chất. Chỉ có tác động của con người mới phát
6
động chúng và đưa chúng vào hoạt động.
Vì vậy, nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực của con người
được huy động vào quá trình sản xuất, thì năng lực đó là nội lực của con người.
Trong phạm vi xã hội, đó là một trong những nguồn nội lực quan trọng cho sự phát
triển. Đặc biệt, đối với nước ta có nền kinh tế đang phát triển, dân số đông, nguồn
nhân lực dồi dào đã trở thành một nguồn nội lực quan trọng nhất. Nếu biết khai thác
nó sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển.
Phát triển kinh tế - xã hội là nhằm mục tiêu phục vụ con người, làm cho cuộc
sống con người ngày càng tốt hơn, xã hội ngày càng văn minh. Con người là lực
lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội, nó thể hiện rõ nét nhất mối
quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng. Mặc dù mức độ phát triển của sản xuất quyết
định mức độ tiêu dùng, song nhu cầu tiêu dùng của con người lại tác động mạnh mẽ
tới sản xuất, định hướng phát triển sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoá
trên thị trường. Trên thị trường nhu cầu tiêu dùng của một loại hàng hoá nào đó tăng
lên, lập tức thu hút lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó và ngược lại.
Nhu cầu con người vô cùng phong phú, đa dạng và thường xuyên tăng lên,
bao gồm nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, về số lượng và chủng loại hàng hoá
càng ngày càng phong phú và đa dạng, điều đó tác động tới quá trình phát triển kinh
tế xã hội.
Con người không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển, thể hiện mức độ
chế ngự tự nhiên, bắt thiên nhiên phụ vụ cho con người, mà còn tạo ra những điều
kiện để hoàn thiện chính bản thân con người.
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh rằng trải qua quá trình lao
động hàng triệu năm mới trở thành con người ngày nay và trong quá trình đó, mỗi
giai đoạn phát triển của con người lại làm tăng thêm sức mạnh chế ngự tự nhiên,
tăng thêm động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển
tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người. Điều đó lý giải tại
8
Phát triển về chất lượng nguồn nhân lực là phát triển các yếu tố tổng hợp của
nhiều bộ phận như trí lực, tâm lực, thể lực, trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm, tác
phong làm việc, thẩm mỹ của người lao động.
+ Thể lực là trạng thái sức khỏe của con người
+ Trí lực gồm trình độ tổng hợp từ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật đến các kỹ
năng lao động. Trong đó trình độ văn hóa là nền tảng, là căn bản cho sự phát triển
các trình độ và kỹ năng sau này.
+ Tâm lực, hay còn gọi là phẩm chất tâm lý - xã hội, là phong cách của từng cá
nhân, tâm lực phản ánh tác phong tinh thần - ý thức trong lao động, có ý chí cầu tiến
1.3.3. Cơ cấu phát triền nguồn nhân lực
Cơ cấu nhân lực. Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh
giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau
như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi.v.v Cơ cấu nguồn nhân lực của một
quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ
có một tỉ lệ nhất định nhân lực. Chẳng hạn như cơ cấu nhân lực lao động trong khu
vực kinh tế tư nhân của các nước trên thế giới phổ biến là 5 - 3 - 1 cụ thể là 5 công
nhân kỹ thuật, 3 trung cấp nghề và 1 kỹ sư; đối với nước ta cơ cấu này có phần
ngược là tức là số người có trình độ đại học, trên đại học nhiều hơn số công nhân kỹ
thuật (3). Hay cơ cấu nhân lực về giới tính trong khu vực công của nước ta cũng đã
có những biểu hiện của sự mất cân đối.
1.4. Các tiêu chí đánh giá – phân loại nguồn nhân lực
1.4.1. Các tiêu chí đánh giá
Nguồn nhân lực ở đây được biểu hiện qua hai khía cạnh là số lượng và chất
lượng nguồn nhân lực, vì vậy để đánh giá nguồn nhân lực thì chúng ta có hai nhóm
chỉ tiêu sau.
a) Nhóm chỉ tiêu đánh giá số lượng nguồn nhân lực.
Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá số lượng nguồn nhân lực nhưng tiêu biểu thì
người ta hay dùng các chỉ tiêu sau:
9
* Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kĩ thuật của nguồn nhân lực.
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào
đó (nó biểu hiện trình độ đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng,
đại học), có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc chuyên môn nhất định. Do đó,
trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực được đo bằng:
- Tỉ lệ cán bộ tổ chức.
- Tỉ lệ cán bộ cao đẳng, đại học
- Tỉ lệ cán bộ trên đại học.
* Chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Index )
HDI là thước đo tổng hợp về sự phát triển con người trên ba phương diện sức
khoẻ, tri thức và thu nhập. Ba chỉ tiêu thành phần phản ánh các khía cạnh sau:
- Một cuộc sống dài lâu và khoẻ mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình.
- Kiến thức được đo bằng tỉ lệ người lớn biết chữ (với quyền số 2/3) và tỉ lệ
nhập học các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học (với quyền số 1/3)
Chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh tế mà còn
nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng xã hội.
1.4.2. Phân loại nguồn nhân lực
Sự phân loại nguồn nhân lực theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động (công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ) đang rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay, nhưng khi
chuyển sang nền kinh tế tri thức phân loại lao động theo tiếp cận công việc nghề
nghiệp của người lao động sẽ phù hợp hơn. Lực lượng lao động được chia ra lao
động thông tin và lao động phi thông tin. Lao động thông tin lại được chia ra hai
loại: lao động tri thức và lao động dữ liệu. Lao động dữ liệu (thư ký, kỹ thuật
viên ) làm việc chủ yếu với thông tin đã được mã hoá, trong khi đó lao động tri
thức phải đương đầu với việc sản sinh ra ý tưởng hay chuẩn bị cho việc mã hoá
11
thông tin. Lao động quản lý nằm giữa hai loại hình này. Lao động phi thông tin
được chia ra lao động sản xuất hàng hoá và lao động cung cấp dịch vụ. Lao động
phi thông tin dễ dàng được mã hoá và thay thế bằng kỹ thuật, công nghệ. Như vậy,
có thể phân loại lực lượng lao động ra năm loại: lao động tri thức, lao động quản lý,
nước này đã đặc biệt chú trọng tới giáo dục - đào tạo, thực sự coi đây là quốc sách
hàng đầu. Theo đó, chương trình giáo dục đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở là
bắt buộc; tất cả học sinh trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi được học miễn phí. Kết quả
là, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ở nước này ngày càng
nhiều. Nhật Bản trở thành một trong những cường quốc giáo dục của thế giới.
Về sử dụng và quản lý nhân lực, Nhật Bản thực hiện chế độ lên lương và tăng
thưởng theo thâm niên. Nếu như ở nhiều nước phương Tây, chế độ này chủ yếu dựa
vào năng lực và thành tích cá nhân, thì ở Nhật Bản, hầu như không có trường hợp
cán bộ trẻ tuổi, ít tuổi nghề lại có chức vụ và tiền lương cao hơn người làm lâu năm.
Tại Hàn Quốc, chính sách giáo dục được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của
nền kinh tế. Đây là nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực
của quốc gia này. Năm 1950, Chính phủ Hàn Quốc chủ trương xóa mù chữ cho toàn
dân. Những năm sau đó, hệ thống giáo dục dần được đẩy mạnh như: phát triển giáo
dục hướng nghiệp trong các trường trung học (năm 1960); các trường dạy nghề kỹ
thuật (năm 1970); đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và giáo dục trên lĩnh vực khoa
học cơ bản và công nghệ, nâng cao chất lượng giáo dục và học suốt đời. Năm 1992,
Hàn Quốc thực hiện cải cách giáo dục với mục tiêu tái cấu trúc hệ thống giáo dục
hiện có thành một hệ thống giáo dục mới, bảo đảm cho người dân được học suốt
đời. Tháng 12-2001, Chính phủ Hàn Quốc công bố Chiến lược quốc gia lần thứ nhất
về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005. Tiếp đó, Chiến lược quốc gia lần
thứ hai về phát triển nguồn nhân lực thời kỳ 2006-2010 được xây dựng và thực hiện
hiệu quả.
Nội dung chính của các chiến lược này đề cập tới sự tăng cường hợp tác giữa
các doanh nghiệp, trường đại học và các cơ sở nghiên cứu; nâng cao trình độ sử
13
dụng và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực
trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý kiến thức, kỹ năng và
công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin cho phát triển nguồn nhân lực; xây
dựng và phát triển thị trường tri thức
Tại Trung Quốc, Chính phủ đang hết sức quan tâm đến việc đào tạo và sử
Trong nhiều năm qua, mặc dù giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu
nhất định, song nhìn chung, vẫn còn tồn tại nhiều nghịch lý, chưa theo kịp trình độ
phát triển của giáo dục thế giới, thậm chí còn nhiều tiêu cực nảy sinh trong hệ thống
giáo dục. Bước vào năm học mới, bên cạnh niềm vui đưa con, nhìn con đến trường,
hân hoan với sự trưởng thành của con cái, là nỗi băn khoăn, lo lắng, của các bậc phụ
huynh khi nghĩ đến những việc phải làm đối với việc học tập của con trong suốt cả
năm học.
Thực tế cho thấy, học sinh ở bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ
thông học căng thẳng, chịu “tải” nhiều hơn ở bậc học đại học. Học sinh và phụ
huynh đều lao vào cuộc chạy đua trang bị kiến thức với sự mệt mỏi và cảm giác “vô
lý”, nhưng lại không yên tâm để dừng lại. Học sinh phải học và nhớ nhiều kiến thức
lý thuyết nhưng khi học xong, hoặc không nhớ, hoặc chóng quên, trong khi kiến
thức thực tế, cách cư xử trong gia đình, kỹ năng làm việc theo nhóm, cách giao tiếp,
hành xử trong cộng đồng , lại được đào tạo, giáo dục không tương xứng.
“Chúng ta không thiếu việc làm mà thiếu cử nhân làm được việc”. Nhận xét
khái quát này cho thấy việc đào tạo học để có nghề và ra làm được nghề có rất
nhiều bất cập. Điều này tồn tại đã lâu và được nói đến nhiều nhưng vẫn chưa thể
khắc phục. Chính vì thế mà hằng năm Việt Nam có khoảng 223.000 sinh viên tốt
nghiệp đại học hệ công lập và 22.700 sinh viên tốt nghiệp đại học hệ dân lập (theo
số liệu của Tổng cục Thống kê), nhưng tỷ lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường
bị thất nghiệp là 63% (theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Một hậu quả tiếp theo là, vì phần đông cử nhân ra trường vẫn mơ hồ về định
hướng nghề nghiệp, mục tiêu mong muốn đạt tới, hình mẫu lý tưởng trong nghề
nghiệp của mình, thiếu kiến thức thực tế và kỹ năng hành nghề, cũng như kỹ năng
15
thuyết trình, làm việc nhóm làm cho nhiều nhà tuyển dụng thấy việc tuyển các cử
nhân vào các vị trí làm việc rất khó khăn.
Một vấn đề nữa là, việc đào tạo ở bậc học đại học chưa thực sự gắn chặt với
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, việc lựa chọn nghề nghiệp theo học
mang nhiều cảm nhận chủ quan. Dự báo quốc gia về nhu cầu lao động trong tương
sóc sức khỏe người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Đại hội XI đã đề cập tới việc cụ
thể hóa những hoạt động của lĩnh vực này nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
chăm sóc sức khỏe nhân dân, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh gay
gắt và yêu cầu cường độ lao động cao
2.2.2. Thực trạng nguồn nhân lực ở việt nam
Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 12/2010, Việt Nam có gần 87 triệu
người. Điều này phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triển dồi dào.
Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức,
doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề. Trong đó, nguồn nhân lực
nông dân có gần 62 triệu người, chiếm hơn 70% dân số; nguồn nhân lực công nhân
là 9,5 triệu người (gần 10% dân số); nguồn nhân lực trí thức, tốt nghiệp từ đại học,
cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, chiếm khoảng 2,15% dân số; nguồn nhân
lực từ các doanh nghiệp khoảng 2 triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung
ương gần 1 triệu người…. Sự xuất hiện của giới doanh nghiệp trẻ được xem như
một nhân tố mới trong nguồn nhân lực, nếu biết khai thác, bồi dưỡng, sử dụng tốt sẽ
giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực phổ
thông và nhân lực chất lượng cao. Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số đông,
trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Cái thiếu của
Việt Nam hiện nay không phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực chất lượng
cao. Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo
trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng
cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Số người từ 15 tuổi trở lên
17
được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 40%. Cơ cấu đào
tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: Đại học và trên Đại học là 1,
trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi trên thế
giới, tỷ lệ này là 1-4-10. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam
đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao và chất
vấn đề này hiện vẫn chưa được giải quyết một cách cơ bản. Không thể nói đến nhân
lực chất lượng cao khi chất lượng giáo dục đại học còn thấp; kết cấu hạ tầng còn rất
thấp kém; tỷ lệ lao động mới qua đào tạo mới chỉ có từ 30 đến 40%; trình độ ngoại
ngữ, khả năng sử dụng máy tính, công nghệ thông tin kém….
2.2.3. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở việt nam
Về những giải pháp phát triển nhân lực Việt Nam đến năm 2020 đã được thể
hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và được thông qua tại
Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011). Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời
kỳ 2011-2020 đã được Chính phủ thông qua trong Quyết định số 579/QĐ-TTg,
ngày 19-4-2011. Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020
cũng đã được Thủ tướng Chính phủ ký tại Quyết định 1216/QĐ-TTg, ngày 22-7-
2011. Đó là những văn bản pháp lý quan trọng có tính định hướng để phát triển
nhân lực Việt Nam đến năm 2020, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một bước đột phá chiến
lược, yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ
cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tạo lợi thế cạnh tranh, bảo đảm
đưa nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả.
Phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 nhằm đưa nhân lực đất nước
trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để tạo sự phát triển bền vững, ổn định
xã hội, hội nhập quốc tế. Xây dựng nhân lực chất lượng cao có nghĩa là xây dựng
đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia, tổng công trình sư,
kỹ sư đầu ngành, công nhân có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn - kỹ thuật
19
tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp
nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, giải
quyết những vấn đề cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
xây dựng đội ngũ doanh nhân quản lý doanh nghiệp, có khả năng tổ chức, khả năng
cạnh tranh; xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực tiên tiến, hiện đại, đa
dạng, cơ cấu ngành nghề đồng bộ; xây dựng sự nghiệp giáo dục tiên tiến, hiện đại
dân, ủy ban nhân dân, các sở, ban, ngành và tương đương; đoàn thể và các tổ chức
chính trị - xã hội cấp tỉnh, thành phố, trực thuộc trung ương.
Đến năm 2015, tổng số cán bộ lãnh đạo của cả nước có khoảng 200 nghìn
người, trong đó, số người có trình độ cử nhân đến thạc sĩ, tiến sĩ là hơn 120 nghìn
người. Đến năm 2020 có khoảng 220 nghìn người, trong đó, số người có trình độ từ
cử nhân đến thạc sĩ, tiến sĩ là 147 nghìn người.
Tổng số lãnh đạo các cấp cần bồi dưỡng từ năm 2011 đến năm 2015 là khoảng
20 nghìn người; từ năm 2016 đến năm 2020 khỏng 15 nghìn người.
Đội ngũ công chức, viên chức của cả nước đến năm 2015 có khoảng 5,3 triệu
người, trong đó, số công chức, viên chức có trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ khoảng
2,8 triệu người, chiếm khoảng 52% trong tổng số đội ngũ công chức, viên chức của
cả nước. Đến năm 2020, số công chức, viên chức của cả nước có khoảng 6 triệu
người, trong đó, số công chức, viên chức có trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ có
khoảng 3,8 triệu người, chiếm khoảng 63% trong tổng số đội ngũ công chức, viên
chức của cả nước.
Tỷ lệ công chức, viên chức cần bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ từ
năm 2011 đến năm 2015 khoảng 20%; thời kỳ 2016-2020 khoảng 15% tổng số công
chức, viên chức.
Đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ đến năm 2015 tăng lên khoảng 103 nghìn
người, trong đó, số người có trình độ trên đại học khoảng 28 nghìn người. Đến năm
2020 có khoảng 154 nghìn cán bộ khoa học, công nghệ, trong đó, số người có trình
độ trên đại học khoảng 40 nghìn người.
21
Về đội ngũ giáo viên, giảng viên trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học
đến năm 2015, số giáo viên, giảng viên bậc trung cấp chuyên nghiệp có khoảng 38
nghìn người, trong đó, có khoảng 30% có trình độ thạc sĩ trở lên; số giáo viên,
giảng viên bậc cao đẳng khoảng 33,5 nghìn người, trong đó khoảng 6% tổng số giáo
viên, giảng viên có trình độ tiến sĩ; số giáo viên, giảng viên bậc đại học khoảng 62,1
nghìn người, trong đó, số người có trình độ tiến sĩ khoảng 23%. Đến năm 2020, số
giáo viên, giảng viên bậc trung cấp chuyên nghiệp khoảng 48 nghìn người, trong
Về đội ngũ cán bộ tòa án đến năm 2020 cần bổ sung khoảng 1 nghìn người
mỗi năm, trong đó có khoảng 500 thẩm phán. Như vậy, nhu cầu nhân lực của ngành
tòa án đến năm 2020 là khoảng 22 nghìn cán bộ, công chức.
Về đội ngũ doanh nhân đến năm 2015, cả nước có khoảng từ 1,5 đến 2 triệu
người. Tỷ lệ doanh nhân có trình độ cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ chiếm khoảng
78% tổng số đội ngũ doanh nhân. Đến năm 2020, cả nước có khoảng từ 2,5 đến 3
triệu doanh nhân. Tỷ lệ doanh nhân có trình độ cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ chiếm
khoảng 80% trong tổng số đội ngũ doanh nhân.
Nhân lực để phát triển của các ngành kinh tế biển; nhân lực của các lực lượng
vũ trang; nhân lực các vùng kinh tế - xã hội (vùng trung du và miền núi phía bắc,
vùng đồng bằng sông Hồng, vùng bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, vùng
Tây Nguyên, vùng đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long) đều đã được
quy hoạch tổng thể.
Quy mô đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng năm 2020 có khoảng 3,4 -
3,9 triệu sinh viên. Tỷ lệ sinh viên vào năm 2020 là từ 350 - 400 người/trên 1 vạn
dân.
Mạng lưới trường đại học và cao đẳng vào năm 2020 sẽ có tổng cộng 573
trường, trong đó, 259 trường đại học và 314 trường cao đẳng. Trong giai đoạn
2011-2015 sẽ thành lập thêm 158 trường (70 trường đại học và 88 trường cao đẳng).
Về mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy
nghề (gọi chung là cơ sở dạy nghề): Đến năm 2015 có 190 trường cao đẳng nghề,
trong đó, có 60 trường ngoài công lập; 300 trường trung cấp nghề, trong đó, có 100
23