THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC TỈNH KIÊN GIANG
2.1. Các nhân tố kinh tế - xã hội ở Kiên Giang ảnh hưởng đến sự phát
triển nguồn nhân lực.
2.1.1. Những đặc điểm về tự nhiên.
Kiên Giang là một tỉnh ở cực Nam tổ quốc, nằm trong vùng Đồng bằng
Sông Cửu Long, có đường biên giới đất liền chung với Vương Quốc Campuchia
dài 56,8 km, phía Bắc giáp Campuchia; phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Cà
Mau, phía Đông và Đông Nam giáp các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang và
phía Tây giáp Vịnh Thái Lan với bờ biển dài 200 km; là một tỉnh giáp biển và
vịnh Thái Lan tạo điều kiện giao lưu thuận lợi giữa các nước, có điều kiện thuận
lợi để phát triển ngư nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và du lịch.
Về cơ cấu hành chính: toàn tỉnh chia thành 14 huyện, thị xã, thành phố
bao gồm: 01 thành phố Rạch Giá trực thuộc tỉnh, 01 thị xã Hà Tiên, 10 huyện
đất liền và 2 huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải, trải rộng trên 04 vùng sinh thái:
vùng Tứ Giác Long xuyên, vùng Tây Sông Hậu, vùng Bán Đảo Cà Mau, vùng
Biển và Hải Đảo, với tổng diện tích tự nhiên 6.346,1 km
2
. Vùng biển có hai
huyện đảo với 140 hòn đảo lớn nhỏ.
Địa hình phần đất liền tương đối bằng phẳng có hướng thấp dần từ Đông
Bắc xuống Tây Nam. Riêng Bán Đảo Cà Mau độ cao trung bình từ 0,2 đến
0,4m, một số nơi có độ cao dưới 0,0m so với mực nước biển. Phần hải đảo chủ
yếu là địa hình đồi núi, xen kẽ đồng bằng nhỏ hẹp với nhiều cảnh quan thiên
nhiên. Kiên Giang đựợc ví như một đất nước Việt Nam thu nhỏ, bởi vì Kiên
Giang được hội đủ mọi cảnh quan thiên nhiên, có sông có biển, có tài nguyên
khoáng sản, đặc biệt thiên nhiên ban tặng cho Hà tiên một cảnh quan đã đi vào
thơ ca hiện tại là nơi có tiềm năng phát triển tốt về du lịch; một Phú Quốc giàu
có và là nơi được Chính phủ phê duyệt quy họach trở thành khu du lịch sinh thái
chất lượng cao và cũng là nơi hiện đang thu hút rất nhiều các dự án đầu tư.
Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang
2003 8.559,01 4.431,96 2.359,36 1.768,31 109,06 100,25 118,25 123,52
2004 9.603,20 4.745,2 2.760,0 2.098,0 112,20 107,08 116,55 118,61
2005 10.839,30 5.172,9 3.216,7 2.394,7 112,77 109,01 114,13 116,30
2006 11.915,630 5.322,22 3.693,57 2.899,84 109,93 102,89 114,82 120,89
2007 13.488,66 5.979,24 4.268,59 3.240,83 113,20 112,34 115,57 111,76
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang năm 2007
Chỉ tiêu phát triển của các ngành trong giá trị tổng sản phẩm xã hội của
tỉnh hàng năm đều tăng; tốc độ phát triển cao nhất là năm 2002, kế đến là 2004
– 2005 - 2007; so với các ngành tốc độ phát triển của dịch vụ tăng lên đáng kể
từ 108,83% năm 2001 tăng lên 111,76% năm 2007, tốc độ tăng trưởng đó thích
ứng với định hướng phát triển theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa hiện
đại hóa.
Cơ cấu GDP thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ. Năm 2001 khu vực I chiếm 46,41%, khu vực II
chiếm 28,70% và khu vực III là 24,90%. Đến năm 2005 cơ cấu này là du lịch
27,97%, công nghiệp và xây dựng 25,36%, nông nghiệp 46,66%. Năm 2007 công
nghiệp đóng góp vào GDP cao hơn theo mô hình dịch vụ - nông nghiệp - công
nghiệp xây dựng và tỷ lệ lần lượt là: 30,06% - 43,67% - 26,26%.
Bảng 2: Tăng trưởng GDP
Chỉ tiêu
Thực hiện (Tỷ đồng) Tốc độ tăng (%)
1995 2000 2005 96-00 01-05
- Tổng GDP 4.359,0 6.403,0 10.834,9 7,99 11,09
- Nông – Lâm - thủy sản 2650,7 3.594,0 5.236,9 6,28 7,82
- Công nghiệp - xây dựng 897,2 1.559,0 3.204,0 11,68 15,50
- Dịch vụ 811,1 1.250,0 2.394,0 9,04 13,88
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2000 – 2005. Cục thống kê Kiên Giang
Giai đoạn 1996-2005 là mốc thời gian quan trọng của thời kỳ đổi mới,
thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước theo mục tiêu Đại hội VII của Đảng đề
ra. Tỉnh Kiên Giang đã tập trung triển khai thực hiện đồng loạt các chương
2002 15.425,624 7.365,529 5.492,378 2.567,717 113,94 118,53 112,34 105,45
2003 16.316,209 7.681,748 5.416,542 2.857,960 109,92 104,29 116,83 111,30
2004 19.316,209 8.455,407 7.727,480 3.333,322 113,92 110,07 117,31 116,63
2005 19.143,840 9.234,708 7.365,150 2.543,982 99,11 109,22 95,31 76,32
2006 21.752,51 9.463,32 8.531,13 3.758,06 113,63 102,48 115,83 147,72
2007 24.996,353
10.718,48
1
9.648,14 4.629,732 114,91 113,26 113,09 123,19
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2007. Cục thống kê Kiên Giang.
Về giá trị sản xuất, tổng giá trị sản xuất năm 2007 đạt 24.996,353 triệu
đồng dựa theo giá so sánh năm 1994, thì năm 2007 tăng 14,91% so với năm
2006. Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 đạt 9.648,140 triệu đồng
(theo giá cố định năm 1994), giá trị sản xuất nông nghiệp là 10.718,481 triệu
đồng và ngành dịch vụ đạt 4.629,732 triệu đồng.
Bảng thông kê trên đây cho thấy giá trị sản xuất các ngành kinh tế trong
tỉnh hàng năm tăng lên không đáng kể. Nếu so với tổng số năm 2001 thì năm
2007 chỉ số phát triển tăng gần 3%, nông lâm nghiệp giảm hơn 3% công nghiệp
xây dựng tăng hơn 6%, dịch vụ tăng hơn 7%. Đây là chiều hướng tích cực trong
cơ cấu giá trị sản xuất của tỉnh, điều này chứng tỏ trong xu thế chung sự phát
triển kinh tế xã hội của tỉnh, kinh tế đã vận động theo yêu cầu của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhu cầu lao động để tạo ra 1 tỷ đồng GDP đối với các ngành kinh tế của
tỉnh qua các năm 2001- 2006 và năm 2007
Bảng 4: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế
ĐVT: lao động/ 1tỷ GDP
Năm
Ngành Kinh tế
2000 2001 2004 2005 2006 2007
- Toàn tỉnh 118,6 114,16 88,17 79,2 73,09 65,3
trường, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Giá trị sản xuất các ngành tăng,
giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng nhanh nhất, tăng hơn 15,5% so với cùng
kỳ năm trước.
Các yếu tố kinh tế - xã hội của Kiên Giang đã góp phần thúc đẩy tích cực
sự phát triển nguồn nhân lực cả về thể chất lẫn tinh thần. Thứ nhất, kinh tế phát
triển, quy mô sản xuất được mở rộng, giải quyết việc làm cho người lao động;
thứ hai, thu nhập bình quân đầu người tăng, điều kiện sống được cải thiện, đồng
thời các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, giải trí… Ngày càng phát triển, người
dân có điều kiện và cơ hội để nâng cao dân trí, sức khỏe, đời sống văn hóa tinh
thần.
Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế - xã hội đặt ra vấn đề phát triển nguồn
nhân lực, đòi hỏi nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu nói chung và quá trình
đô thị hóa nói riêng.
2.2 .Thực trạng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh
Kiên Giang.
2.2.1. Quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực.
Dân số và nguồn nhân lực là vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau, sự
thay đổi của quy mô, tốc độ phát triển dân số sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô
tốc độ phát triển của nguồn nhân lực. Trong giai đoạn 2001 - 2007 cùng với
những biến đổi nhanh về kinh tế - xã hội, công tác kế hoạch và gia đình, tuyên
truyền giáo dục vận động nhân dân, cùng với thực hiện tốt công tác truyền
thông dân số. Tỉnh Kiên Giang đã thực hiện tốt công tác này, hạn chế được tốc
độ gia tăng dân số, giảm sinh có hiệu quả. Tốc độ tăng dân số qua các năm từ
1,16% năm 2002 giảm còn 1,15% năm 2007. Tỷ suất sinh từ 20,48% năm
2001 giảm xuống còn 18,35% năm 2007. Tỷ lệ tăng tự nhiên bình quân mỗi
năm là 14,50%. Đây là một trong những nhân tố quyết định đối với nguồn
nhân lực của tỉnh trong tiến trình phát triển kinh tế tế - xã hội.
Bảng 5: Dân số và tỷ lệ phát triển dân số theo thời kỳ 2001-2007
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
khác. Năm 2001, dân số tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn chiếm 78,12%,
nhưng từ khi bắt đầu đô thị hóa, một số khu vực được đầu tư, nâng lên thành thị,
cơ cấu dân số có sự thay đổi song sự thay đổi đó còn chậm, năm 2001 dân số
sống ở thành thị là 21,88% đến năm 2007 tăng lên là 25,98%.
Số liệu trên cho thấy tỷ trọng lao động trong nông nghiệp nông thôn còn
rất cao. Vì vậy trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội phải tạo ra những ngành
nghề mới để chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành khác, trên cơ
sở phát huy thế mạnh của tỉnh Kiên Giang nhất là dịch vụ, thủy sản và du lịch.
Bảng 6: Tốc độ tăng nguồn nhân lực.
Biểu
Năm
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tổng dân
số
1.574.255 1.585.181 1.608.803 1.630.366 1.655.026 1.683.041 1.705.539
TS. người
trong độ
tuổi lao
động
916.066 933.946 993.553 1.031.221 1.052.348 1.070.125 1.084.237
Tốc độ
tăng lao
động(%)
102,16 101,95 106,38 103,79 102,04 101,69 101.32
Tốc độ
tăng dân
số
101,83 100,69 101,49 101,34 101,51 101,69 101.34
Nguồn: Số liệu thống kê lao động-Việc làm 2001-2007 .
Như đã phân tích ở trên, lực lượng lao động được xem như là nguồn nhân lực
dân
785.722 809.859 832.859 845.645 858.104 870.404
882.010
2,45
Tỷ suất hoạt
động (*) kinh tế
trong dân số (%)
49,9 50,6 52,28 51,87 51,85 51,71 51,71
Ghi chú (*) có 100 người dân thì có 51,71 người dân tham gia hoạt động
kinh tế năm 2007
Độ tuổi:
Bảng 8: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo nhóm tuổi.
Nhóm tuổi Số lượng Tỷ lệ (%)
15-19 191.927 17,21
20-24 168.157 15,08
25-29 151.735 13,61
30-34 130.275 11,68
35-39 134.503 12,06
40-44 117.820 10,56
45-49 84.179 7,55
50-54 82.422 7,39
55-59 54.244 4,86
Tổng số: 1.115.262 100%
Nguồn: Số liệu thống kê- việc làm 2007
Nếu chia khoảng cách tuổi giữa các nhóm là 4, từ 15 đến 19 tuổi, từ 20
đến 24 tuổi... Thì tỷ lệ lực lượng lao động tập trung nhiều nhất là ở nhóm từ 25
đến 29 tuổi (13,61%), từ 20 đến 24 tuổi (15,08%). Nhìn chung trong độ tuổi từ
20 đến 49 tuổi tham gia lao động nhiều hơn các nhóm tuổi khác.
Khu vực thành thị - nông thôn:
Tỷ lệ lực lượng lao động phân theo khu vực nông thôn và thành thị tỷ lệ
thế đặc biệt so với các tỉnh trong khu vực như tiềm năng du lịch đó là danh lam
thắng cảnh Hà Tiên; du lịch sinh thái chất lượng cao ở Đảo Phú Quốc...
Về cơ cấu nguồn nhân lực:
Như trên đã phân tích về chất lượng nguồn nhân lực và cơ cấu nguồn
nhân lực cũng có sự chuyển hướng tích cực. Cơ cấu chất lượng nguồn nhân lực
theo các loại trình độ có sự chuyển đổi qua các năm, lao động có trình độ sau
đại học, đại học, cao đẳng và nghề tăng, nhưng số lao động có trình độ trung
học chuyên nghiệp giảm. Năm 2001 cứ 1000 lao động đang làm việc trong các
ngành kinh tế quốc dân có 0,1 lao động có trình độ sau đại học; 16,8 lao động
trình độ đại học, cao đẳng; 27,8 lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp
và 36,8 lao động có trình độ nghề. Con số này tương ứng của năm 2005 là: 0,36;
32,3; 25,94; 92,22. Riêng năm 2007, cứ 1.000 lao động đang làm việc trong các
ngành kinh tế quốc dân thì có 0,40 lao động có trình độ sau đại học; 36,17 lao
động có trình độ đại học cao đẳng; 28,82% lao động có trình độ trung học
chuyên nghiệp và 130,98 lao động có trình độ nghề.
Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực như trên đã góp phần quan trọng
thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển. Năm 2000 tổng số lao động đang làm việc
trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh 759.469 lao động, đã tạo ra một khối
lượng tổng sản phẩm xã hội (GDP) là 6.403 tỷ đồng (theo giá cố định 1994), để
tạo ra 1 tỷ đồng GDP thì trung bình phải cần 118,6 lao động. Năm 2006 tổng số
lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh là 870.404
lao động, đã tạo ra một khối lượng sản phẩm là 11.915,63 tỷ đồng, để tạo 1 tỷ
đồng GDP thì trung bình chỉ cần 73,09 lao động. Năm 2007 tổng số lao động
đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh là 882.010 lao động, đã
tạo ra một khối lượng sản phẩm 13.488,66 tỷ đồng, để tạo ra 1 tỷ đồng GDP thì
trung bình chỉ cần 65,3 lao động. Như vậy số lao động để tạo ra 1 tỷ đồng GDP
qua các năm đều giảm, bình quân hàng năm giảm 8,86% / năm, việc phân tích
trên cho thấy năng suất lao động bình quân chung của Tỉnh tăng cao qua các
năm trên cơ sở sự tăng lên tương ứng của chất lượng nguồn nhân lực.
Về chất lượng nguồn nhân lực:
những thách thức gay gắt, Kiên giang cũng không phải là tỉnh ngoại lệ. Mặc dù
Kiên Giang chưa có trường đại học, nhưng Trung tâm giáo dục thường xuyên
và hiện là Cao đẳng cộng đồng đã hợp tác, liên kết với các trường đại học trong
cả nước đặc biệt là TP Hồ Chí Minh đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ
đại học cho tỉnh đã góp phần quan trọng trong việc hoạch định chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của Tỉnh, Tỉnh hiện có 4 trường cao đẳng và một số trường
trung cấp trong những năm qua đã cung cấp được nguồn nhân lực triển khai
thực hiện trong các ngành nghề….
Trong những năm qua mạng lưới đào tạo của tỉnh đã được mở rộng, trước
hết đó là mạng lưới các trường. Trường trung học sư phạm lên Cao đẳng sư
phạm, Trung tâm giáo dục thường xuyên lên Cao đẳng Cộng đồng, Trường
Trung học Kinh tế Kỹ thuật lên Trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật, Trường
Trung học y tế lên Trường cao đẳng y tế và bước đầu đã xây dựng được Phân
hiệu Đại học Thủy sản Nha Trang tại Kiên Giang.
Trong 5 năm 2001-2005 vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các trường và
các trung tâm khoảng 67,105 tỷ đồng, trong đó vốn Trung Ương là 8.6 tỷ, và
vốn địa phương là 58,56 tỷ. Với số vốn đầu tư nêu trên đã tăng cường cơ sở vật
chất cho các trường tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ
đào tạo của tỉnh.
Đối với mạng lưới các cơ sở dạy nghề được mỡ rộng và đa dạng, đến nay
có một trường Trung cấp nghề và 2 trung tâm dạy nghề có đủ khả năng liên kết
đào tạo nghề dài hạn, 11 trường, trung tâm, cơ sở dạy nghề ngắn hạn và 20 cơ
sở dạy nghề tư nhân, đặc biệt tỉnh đã cho phép thành lập 01 trường dạy nghề tư
thục tại huyện Phú Quốc.
Hệ thống trường lớp được mở rộng quy mô dào tạo số học sinh, sinh viên
cũng được tăng lên qua từng năm. Từ năm học 2000-2001 đến năm học 2006-
2007 toàn tỉnh có khoảng trên 34.300 học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông,