CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH PHÂN HÓA TƯ TƯỞNG CỦA VIỆT NAM
QUỐC DÂN ĐẢNG
1. Vài nét về sự thành lập và quá trình hoạt động của Việt Nam Quốc
Dân Đảng
Việt Nam Quốc Dân Đảng là một tổ chức chính trị của giai cấp tư sản
được thành lập vào ngày 25 – 12 – 1927, lấy chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung
Sơn làm tôn chỉ mục đích của Đảng. Quá trình ra đời và hoạt động của tổ chức
này có thể chia làm hai thời kỳ: thời kỳ trước và sau năm 1930. Tuy nhiên trong
phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến Việt Nam Quốc Dân Đảng thời
kỳ trước năm 1930. Trong quá trình tồn tại của mình, Việt Nam Quốc Dân Đảng
đã tổ chức các cuộc bạo động, góp một tiếng nói không nhỏ trong sự nghiệp đấu
tranh vì nền độc lập dân tộc. Việt Nam Quốc Dân đảng được coi là tổ chức tiêu
biểu nhất cho khuynh hướng chính trị mang tính chất tư sản của tầng lớp tiểu tư
sản yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên vào cuối những năm 20 của
thế kỷ XX, theo xu thế chung của phong trào cách mạng trên thế giới, bản thân
VNQDĐ cũng có những chuyển biến mạnh mẽ.
2. Quá trình phân hóa tư tưởng
Căn nguyên của sự chuyển hóa trước hết nằm ngay trong những hạn chế
của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đó là sự không rõ ràng trong cương lĩnh hành
động, quan điểm lỗi thời, nhận thức của đảng viên không thống nhất, tổ chức
lỏng lẻo lại phức tạp. Tất cả ngay từ đầu đã báo hiệu trước sự thất bại tất yếu của
nó.
Không phải đến sau khởi nghĩa Yên Bái, mới diễn ra sự phân hóa tư
tưởng trong nội bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sự phân hóa đó đã tồn tại ngay từ
đầu khi tổ chức này được thành lập. Tuy nhiên phải tới sau khởi nghĩa Yên Bái,
những mâu thuẫn trong nội bô Việt Nam Quốc Dân Đảng mới bộ lộ rõ nét, bắt
đầu từ đây, quá trình phân hóa mới thực sự diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc. Sự thất
bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã đưa đến sự tan vỡ hoàn toàn của tổ chức
Việt Nam Quốc Dân Đảng.
1
Tuy nhiên có một nguyên nhân khách quan nhưng không kém phần quan
giải phóng dân tộc, ngọn cờ ấy nay đã đến lúc phải chuyển sang tay giai cấp vô
sản.
3. Nguyên nhân dẫn tới sự phân hóa tư tưởng
Nhận thức chính trị của các đảng viên VNQDĐ ngay từ đầu đã không có
sự thống nhất. Một điều mà chính những đảng viên của đảng này phải thừa nhận
là sự nghèo nàn về lí luận của đảng. Ngay từ khi thành lập đảng đã không thống
nhất được Cương lĩnh chính trị cũng như Chương trình hành động của đảng. Do
đó dẫn đến sự nhận thức và giải thích có sự khác nhau giữa các cơ sở đảng ở
những nơi khác nhau, đặc biệt giữa kỳ bộ Nam Kỳ với Kỳ bộ Bắc Kỳ và Tổng
bộ. Trong khi ở Bắc Kỳ, Việt Nam Quốc Dân Đảng thường sử dụng thơ ca yêu
nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và tài liệu của trường Đông Kinh
Nghĩa Thục… làm tài liệu tham khảo thì tại Nam Kỳ, Trần Huy Liệu và các
đồng chí của ông lại mượn tài liệu của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên
làm tài liệu học tập chủ yếu: A.B.C chủ nghĩa cộng sản, Công xã Pari… Do vậy
mặc dù vẫn đứng trong hàng ngũ của Việt Nam Quốc Dân Đảng nhưng các đảng
viên ở Nam Kỳ cũng đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của tư tưởng cộng sản. Điều
này được thể hiện rất rõ qua cách giải thích của Trần Huy Liệu về cái mệnh đề
gọi là “Trước làm cách mạng quốc gia, sau làm cách mạng thế giới” được đề ra
trong Cương lĩnh chính trị của đảng. Trần Huy Liệu đã tiếp cận tư tưởng chính
trị của tổ chức Thanh Niên về mối liên hệ biện chứng giữa cách mạng Việt Nam
và cách mạng thế giới. Ngay từ đầu ông và các đồng chí của mình đã có xu
hướng quốc tế khi cắt nghĩa: cách mạng thế giới là cứu cánh, cách mạng quốc
gia là con đường phải trải qua. Trong khi đó do chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa
Tam Dân, các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Bắc Kỳ lại hiểu cách
mạng thế giới theo quan điểm của Tôn Trung Sơn là giúp đỡ các dân tộc nhỏ
yếu làm cách mạng chứ không phải liên hiệp với giai cấp vô sản toàn thế giới.
Một nguyên nhân nữa dẫn tới tình trạng khống thống nhất về mặt chính trị
của Việt Nam Quốc Dân Đảng là thành phần xã hôi rất không giống nhau giữa
các đảng viên. Do thành phần giai cấp khác nhau, gồm cả tiểu tư sản, tư sản dân
3
Trần Huy Liệu ra nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1928 sau khi đảng
Thanh niên của ông tan rã. Sau khi ra nhập, ông đã được tổ chức giao nhiệm vụ
giữ vai trò là đại biểu của VNQDĐ ở Nam kỳ. Trong quá trình lãnh đạo kỳ bộ
Nam kỳ, ông đã có những ảnh hưởng nhất định, giữ vai trò định hướng nhận
thức của các đồng chí đảng viên. Dưới sự điều hành của Trần Huy Liệu, các
đảng viên VNQDĐ ở Nam kỳ ngay từ đầu đã có phần lìa xa chủ nghĩa Tam dân
được coi là tôn chỉ mục đích của đảng. Tuy nhiên Trần Huy Liệu cùng rất nhiều
các đồng chí của ông ở Nam Kỳ đã sớm phải lìa xa trường hoạt động sau khi bị
bắt vì can tội mưu sát Toàn quyền Pát–xki-ê. Từ đây dánh dấu một chặng đường
hoạt động mới của Trần Huy Liệu, nhà tù của bọn đế quốc ở đảo Hòn Cau và
Côn Lôn chính là môi trường quan trọng cho những chuyển biến tư tưởng của
ông và 5 đồng chí cùng chí hướng với ông.
2. Quá trình chuyển biến tư tưởng của Trần Huy Liệu
Không may mắn giống như các đồng chí khác nhảy vào làm cách mạng đã
được gia nhập ngay hàng ngũ của Đảng, để có thể trở thành một đảng viên cộng
sản chân chính, Trần Huy Liệu đã phải sống với những mâu thuẫn gay gắt, cái
cũ xung đột với cái mới, cái cũ chống lại cái mới một cách bướng bỉnh, dai dẳng
và cuối cùng cái mới lấn át cái cũ. Và con đường “phấn đấu trở thành đảng viên
cộng sản” của ông thực sự gập ghềnh, khúc khuỷu.
Trước khởi nghĩa Yên Bái, trong tư tưởng của Trần Huy Liệu đã có
những nét khác biệt với những đảng viên khác trong tổ chức. Tuy nhiên lúc đó
ông chưa có điều kiện để tự mình làm một cuộc cách mạng trong nhận thức
cũng như trong hành động. Phải đến thời điểm năm 1930, thất bại của khởi
nghĩa Yên Bái có thể nói là một cú hích mạnh mẽ trong quá trình chuyển biến
tư tưởng của Trần Huy Liệu. Trần Huy Liệu cũng giống như những anh em tâm
huyết của Việt Nam Quốc Dân Đảng vô cùng đau xót trước những tổn thất
5