Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng liên doanh VID Public Bank chi nhánh Hải Phòng - Pdf 27

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu là trung thực. Những kết quả nêu
trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Quỳnh Phương
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
1.3. HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. 35 6
1.3.1. KHÁI NIỆM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG 35 6
1.3.2. CÁC PHƯƠNG THỨC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. 36 6
1.3.3. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ CỦA HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI. 40 6
43 6
2.1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VID PUBLIC
CHI NHÁNH HẢI PHÒNG. 43 6
2.1.1. HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN. 46 6
2.1.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY. 51 6
2.1.3. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG KHÁC. 53 6
2.2.2. THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VID PUBLIC CHI
NHÁNH HẢI PHÒNG 62 6
2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH
VID PUBLIC CHI NHÁNH HẢI PHÒNG 68 6
2.3.1. CÁC BIỆN PHÁPPHƯƠNG THỨC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG ĐÃ VÀ ĐANG ĐƯỢC ÁP
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VID PUBLIC CHI NHÁNH HẢI PHÒNG 69 6
2.3.2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
LIÊN DOANH VID PUBLIC CHI NHÁNH HẢI PHÒNG. 79 6

2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VID PUBLIC CHI
NHÁNH HẢI PHÒNG

2.3.1. Các biện phápphương thức hạn chế rủi ro tín dụng đã và đang được áp dụng tại Ngân hàng liên
doanh VID Public chi nhánh Hải Phòng
2.3.2. Đánh giá thực trạng công tác hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng liên doanh VID Public chi
nhánh Hải Phòng
CHƯƠNG 3 90
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG 90
TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VID PUBLIC 90
CHI NHÁNH HẢI PHÒNG 90
3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VID PUBLIC CHI NHÁNH HẢI
PHÒNG.

3.2. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VID PUBLIC CHI NHÁNH HẢI
PHÒNG

Ba là,3.2.1. nNâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng
Một là,3.2.2. nNâng cao chất lượng thẩm định tín dụng
Hai là,3.2.3. xXây dựng chiến lược khách hàng
Bốn là,3.2.4. t Tăng cường công tác kiểm tra sử dụng vốnvốn sau khi giải ngân
Năm là,3.2.5. tThành lập bộ phận kiểm soát nội bộ ngân hàng tại Chi nhánh
Sáu là, 3.2.6. đĐa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng
3.3. KIẾN NGHỊ

3.3.1. Kiến nghị với Hội sở chính Ngân hàng liên doanh VID Public
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
3.3.3. Kiến nghị với Nhà nước, Chính phủ và các Bộ ngành liên quan
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NHTM: Ngân hàng Thương mại

NHÁNH HẢI PHÒNG 91 3
BA LÀ,3.2.1. NNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TÍN DỤNG 91 3
MỘT LÀ,3.2.2. NNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG 94 3
HAI LÀ,3.2.3. XXÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KHÁCH HÀNG. 95 3
BỐN LÀ,3.2.4. T TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM TRA SỬ DỤNG VỐNVỐN SAU KHI GIẢI
NGÂN 96 3
NĂM LÀ,3.2.5. TTHÀNH LẬP BỘ PHẬN KIỂM SOÁT NỘI BỘ NGÂN HÀNG TẠI CHI NHÁNH 98. .3
SÁU LÀ, 3.2.6. ĐĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 98 3
3.3. KIẾN NGHỊ 99 3
3.3.1. KIẾN NGHỊ VỚI HỘI SỞ CHÍNH NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VID PUBLIC 99 3
3.3.2. KIẾN NGHỊ VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 101 3
3.3.3. KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC, CHÍNH PHỦ VÀ CÁC BỘ NGÀNH LIÊN QUAN 103 4
TÍN DỤNG VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG 11
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11
1.3. HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

1.3.1. Khái niệm hạn chế rủi ro tín dụng
1.3.2. Các phương thức hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.3.3. Nhân tố ảnh hưởng đến kết quả của hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
44
2.1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VID PUBLIC CHI NHÁNH HẢI
PHÒNG.

2.1.1. Hoạt động huy động vốn
2.1.2. Hoạt động cho vay
2.1.3. Một số hoạt động khác
2.2.2. Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng liên doanh VID Public chi nhánh Hải Phòng
2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VID PUBLIC CHI
NHÁNH HẢI PHÒNG


mang tính hệ thống, và chủ yếu bắt nguồn từ rủi ro tín dụng.; nếu Nếu không có
biện pháp xử lý phù hợp, rủi ro có thể lây lan, gây tổn thương và mất niềm tin đối
với khách hàng, và thậm chí có thể làm ngân hàng sụp đổ ngân hàng. Đứng trước
những thời cơ và thách thức của trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề
nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước với các
ngân hàng thương mại nước ngoài, mà cụ thể là nâng cao chất lượng tín dụng, giảm
thiểu rủi ro là vấn đề mang tính sống còn, là thước đo năng lực quản lý và là bộ
phận trọng tâm trong chiến lược hoạt động của bất kỳ ngân hàng nào.
Tại Ngân hàng liên doanh VID Public chi nhánh Hải Phòng, trong những năm qua,
công tác quản lý rủi ro tín dụng đã được ngân hàng chú trọng, song cho đến nay
công tác này vẫn còn nhiều một số bất cập, do đó rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín
dụng của VID Public Bank vẫn ở mức cao.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả mạnh dạnđã lựa chọn thực hiện đề
tài “Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân ngân hàng liên doanh VID Public chi nhánh
Hải Phòng” với mong muốn tiếp tục quá trình nghiên cứu và đưa ra những giải pháp
hữu hiệu để hạn chế rủi ro tín dụng ở NHLD VID Public chi nhánh Hải Phòng nói
riêng và hệ thống NHTM nói chung, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của
NHTM trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu, đề xuất các quan điểm và giải pháp
nhằm hạn chế rủi ro tín dụng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả trong hoạt động tín
dụng của NHLD VID Public chi nhánh Hải Phòng. Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể mà
đề tài tập trung giải quyết bao gồm:
7
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn những lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng, và rủi ro
tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng của NHTM
- Đánh giá thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại NHLD VID Public chi nhánh Hải
Phòng, chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại NHLD
VID Public chi nhánh Hải Phòng.

dụng của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng liên doanh VID
Public chi nhánh Hải Phòng.
Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng của Ngân hàng liên doanh VID
Public chi nhánh Hải Phòng.
9
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO
TÍN DỤNG VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng là hoạt động cơ bản nhất của các NHTM, chiếm tỷ trọng cao nhất
trong tổng tài sản, mang lại thu nhập từ lãi lớn nhất cho các ngân hàng. Tín dụng là
hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng.
Căn cứ Điều 4 của Luật các TCTD số 47/2010/QH12 đã được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16
tháng 06 năm 2010 thì có nêu: “Hoạt động tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá
nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo
nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao
thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng Ngân hàng nhưng tựu chung lại tín
dụng ngân hàng có nghĩa là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng
giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hoặc tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ
người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (người vay), và khi đến hạn người sử
dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban
đầu.
Bản chất của tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản dựa trên cơ sở hoàn trả
và có các đặc trưng sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là

Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng là cả vốn gốc và lãi phải được hoàn trả sau một
thời gian nhất định. Điều đó là động cơ cho các chủ thể trong nền kinh tế sử dụng vốn
tiết kiệm, hiệu quả, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao mức lợi nhuận của mình để
thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng. Việc ngân hàng kiểm soát hoạt động kinh tế của các
chủ thể vay vốn tín dụng ngân hàng đã thúc đẩy các chủ thể này quan tâm đến việc sử
dụng vốn đúng mục đích và hiệu quả.
* Thứ ba: Do cơ chế tự chủ về tài chính
11
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các chủ thể kinh doanh
phải tự chủ về tài chính. Cơ chế này buộc các chủ thể phải chủ động trong việc cân đối
các nguồn vốn để thực hiện các kế hoạch kinh doanh. Với vai trò quan trọng bậc nhất
là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực kích thích tiết kiệm đáp ứng nhu cầu
vốn cho đầu tư phát triển và là trung gian cung và cầu vốn, tín dụng ngân hàng là cầu
nối điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế.
1.1.3. Phân loại hoạt động tín dụng ngân hàng.
Phân loại hoạt động tín dụng ngân hàng là việc sắp xếp các khoản cho vay
theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại hoạt động tín
dụng có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình tín dụng hợp lý, thích
hợp và là tiền đề để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
1.1.3.1: * Căn cứ vào thời hạn tín dụng.
Phân chia hoạt động tín dụng ngân hàng dựa trên tiêu thức thời gian có ý nghĩa
quan trọng đối với ngân hàng vì liên quan mật thiết đến tính an toàn, sinh lợi của tín
dụng và khả năng hoàn trả của khách hàng. Căn cứ vào thời hạn tín dụng, hoạt động
tín dụng được chia thành 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở
xuống, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh
nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến
60 tháng, được sử dụng để đdầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi
mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án

+ Cho vay theo dự án đầu tư: là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu
tư phục vụ đời sống.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Cho vay theo hạn mức tín dụng dự
phòng là việc ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong
một hạn mức nhất định, trong một khoản thời gian nhất định. Khách hàng phải trả
phí cam kết cho ngân hàng trên cơ sở hạn mức tín dụng đang sử dụng.
13
+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàng chấp
thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng
của thẻ để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự
động.
- Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD cam kết với bên
nhận bảo lãnh về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng
khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết;
khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD theo thỏa thuận. Bảo lãnh ngân
hàng bao gồm các loại: Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh thực hiện hợp đồngĐđồng; Bảo
lãnh tiền ứng trước; Bảo lãnh vay vốn; Bảo lãnh thanh toán.
- Cho thuê tài chính: Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung dài hạn
thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị và các động sản khác. Bên cho thuê cam
kết mua máy móc thiết bị theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu tài
sản thuê; bên đi thuê được sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt
thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ hợp đồngĐđồng
trước hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu mua lại
tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê tài sản theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp
đồngĐđồng thuê.
- Bao thanh toán: Bao thanh toán là một dịch vụ tài chính, theo đó ngân hàng đứng
ra thanh toán ngay cho nhà xuất khẩu một phần tiền hàng hóa đã bán cho nhà nhập
khẩu sau đó sẽ đòi lại ở nhà nhập khẩu nước ngoài. Ðây là hoạt động tài chính mà
ngân hàng mua lại các khoản nợ có hóa đơn (chủ yếu là các hợp đồngĐđồng cung

Ngoài ra, các cách phân loại này cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi
gắn liền với những lĩnh vực tài trợ để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức, và
chính sách mở rộng phù hợp.
1.1.4. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.
* Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa
phát triển.
Thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp, việc phân
phối vốn tín dụng đã góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế. Nguồn vốn
15
từ hoạt động tín dụng ngân hàng giúp cho các chủ thể trong nền kinh tế duy trì và
phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Hoạt động đĐầu tư mở rộng sản
xuất, cải tiến kỹ thuật đổi mới công nghệ có thể sẽ không thực hiện được nếu thiếu
nguồn vốn tài trợ từ các ngân hàng. Dòng vốn tín dụng được luân chuyển nhiều lần,
có tính chu kỳ sẽ đảm bảo cho việc sản xuất kinh doanh được liên tục, thúc đẩy quá
trình lưu thông hàng hóa. Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn góp phần thúc đẩy quá
trình tích tụ và tập trung vốn trong từng chủ thể sản xuất kinh doanh, từ đó tạo ra
những doanh nghiệp, những tập đoàn lớn làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế quốc
gia. Thông qua hoạt động tín dụng giúp các doanh nghiệp sử dụng nguồn lao động
và nguyên liệu hợp lý thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề
xã hội.
* Tín dụng ngân hàng là công cụ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của nhà
nước.
Một trong những vai trò hết sức quan trọng của tín dụng ngân hàng trong nền kinh
tế thị trường là cân đối thu chi ngân sách nhà nước, góp phần đảm bảo các nguồn
lực tài chính để thực thi các chính sách kinh tế - xã hội. Nhà nước sử dụng công cụ
lãi suất để điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng
và chuyển hướng cấp tín dụng bằng cách phân bổ nguồn lực tín dụng ngân hàng
trong nền kinh tế, . Nnhờ đó mà thúc đẩy hoặc hạn chế một số ngành phù hợp với
định hướng phát triển kinh tế xã hội. Ngoài ra, Nhà nước sử dụng tín dụng ngân
hàng để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia thông qua các công cụ của chính sách

1.2.1. Khái niệm rủi ro trong hoạt động ngân hàng thương mại
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, là một trong những trung gian tài
chính quan trọng nhất, là tổ chức lớn nhất thu hút tiền gửi từ các doanh nghiệp và
dân cư trong nền kinh tế để thực hiện cấp tín dụng, đáp ứng các nhu cầu về vốn cho
các chủ thể trong nền kinh tế. Với đặc thù riêng của mình, khi ngân hàng gặp bất
trắc rủi ro thì toàn bộ ngân hàng đó gánh chịu, thậm chí toàn bộ hệ thống ngân hàng
phải gánh chịu.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm
có thể phát sinh từ một vài tiến trình hay một vài sự kiện hay rủi ro là sự không chắc
chắn liên quan đến tổn thất sẽ gánh chịu trong tương lai”.
17
Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại trừ được
hẳnhoàn toàn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như những tác hại do
chúng gây nên.
Tóm lại: Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là toàn bộ rủi ro có thể xảy ra ở bất kỳ lĩnh
vực nào của ngân hàng, đem đến cho ngân hàng những khó khăn nhất định trong quá
trình hoạt động thậm chí làm cho ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá
sản.
1.2.2. Các loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng thương mại

Trong lĩnh vực ngân hàng, nhận biết mỗi loại rủi ro khác nhau giúp ngân hàng
có thể kiểm soát, hạn chế được phần nào những tác hại do rủi ro mang lại. Các loại
rủi ro trong hoạt động ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với nhau, thậm chí là
nguyên nhân dẫn tới rủi ro của nhau. Việc nghiên cứu về RRTD tất yếu phải tìm hiểu
về các loại rủi ro khác của ngân hàng và mối quan hệ giữa chúng. Các loại rủi ro trong
hoạt động NHTM bao gồm:
• Rủi ro tín dụng: Đây là rủi ro cần được đề cập trước tiên đối với ngân hàng.
Ngân hàng cho vay, những tài sản mà không có gì khác hơn một cam kết thanh
toán. Khi người vay tiền không thể thanh toán được vốn gốc và lãi, những
khoản cho vay, đầu tư không thể thu hồi này cuối cũng sẽ ăn mòn hết vốn của

của ngân hàng. Những thay đổi kể trên có thể tác động tiêu cực tới dòng thu
nhập, chi phí hoạt động và giá trị của ngân hàng.
• Rủi ro hối đoái: Rủi ro hối đoái là rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái.
Sự biến động về giá trị của đồngĐđồng tiền là nguyên nhân dẫn tới rủi ro hối
đoái. Rủi ro này có thể phát sinh ở tất cả các nghiệp vụ ngân hàng liên quan tới
ngoại tệ như: huy động, cho vay bằng ngoại tệ, mua bán, đầu tư chứng khoán
bằng ngoại tệ. Biểu hiện của rủi ro này là sự chênh lệch về kỳ hạn, sự biến động
tăng giảm tỷ giá hối đoái, dẫn tới ngân hàng thua lỗ trong các hoạt động kinh
doanh ngoại tệ. Ngày nay, những đồngĐđồng tiền được giao dịch nhiều nhất
luôn thay đổi theo điều kiện, tình hình trên thị trường. Ngân hàng kinh doanh
trên cơ sở những đồngĐđồng tiền này cho bản thân mình và cho khách hàng
luôn phải đối mặt với các rủi ro về sự thay đổi bất lợi trong tỷ giá.
19
• Rủi ro hoạt động ngoại bảng: Hoạt động ngoại bảng là các hoạt động
không thuộc cân đối tài sản nội bảng. Tuy vậy các hoạt động ngoại bảng sẽ
có ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối tài sản nội bảng, bởi
vì hoạt động ngoại bảng có thể tạo ra những tài sản có và tài sản nợ bổ sung
cho bảng cân đối nội bảng. Rủi ro hoạt động ngoại bảng là toàn bộ rủi ro đối
với những khoản mục ngoại bảng như rủi ro đối với thư tín dụng trong
trường hợp ngân hàng phải thanh toán theo đúng cam kết với bên nhận bảo
lãnh trong khi đó bên yêu cầu bảo lãnh không thực hiện cam kết với ngân
hàng.
• Rủi ro khác : Rủi ro khác bao gồm rủi ro về công nghệ, rủi ro do môi
trường, rủi ro thị trường, rủi ro pháp lý, rủi ro do tình hình chính trị, rủi ro do
điều kiện của thiên nhiên,… là những rủi ro mà NHTM luôn tính đến trong
quá trình hoạt động.
1.2.3. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại.
1.2.3.1. Khái niệm rủi ro tín dụng.
Tín dụng bao giờ cũng phát sinh trên cơ sở tín nhiệm dù là quan hệ tín dụng có dựa trên
quan hệ về tài sản hay không. Điều này có nghĩa là để thiết lập quan hệ tín dụng bên chuyển

Ở một số nước trên thế giới, cán bộ thanh tra tiến hành phân loại RRTD tức là xếp
hạng chất lượng tín dụng tài sản có của một ngân hàng theo các cấp độ như sau:1 =
Hoạt động tốt; 2 = Hoạt động khá; 3 = Hoạt động trung bình; 4 = Hoạt động bên bờ
thua lỗ; 5 = Hoạt động thua lỗ. Ngân hàng nào được xếp hạng càng cao thì mức độ rủi
ro càng lớn và phải kiểm tra lại tình hình hoạt động tín dụng của mình. Các khoản tín
dụng xấu là tiềm ẩn của RRTD.
Hiện nay, theo quy định các khoản tín dụng được chia thành 5 nhóm:
* Nhóm I: Đạt tiêu chuẩn hoặc bình thường (Performing loans)
Đó là những khoản vay không có dấu hiệu rủi ro, tất cả các chỉ tiêu đánh giá cho món
vay được coi là tốt. Khoản vay được đảm bảo đầy đủ cả gốc và lãi bằng tiền hoặc giá
trị thay thế tiền như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, tín phiếu kho bạc.
* Nhóm II: Cần quan tâm hoặc cảnh giác (Special mentioned)
Đó là những khoản vay có dấu hiệu rủi ro tiềm ẩn, tuy nhiên chưa có nguy cơ rủi ro
nhiều. Đối với những khoản vay này ngân hàng phải có những biện pháp phòng ngừa
kịp thời vì nếu không có biện pháp đốc thúc hợp lý thì món vay thuộc nhóm này sẽ là
nợ xấu cho ngân hàng.
* Nhóm III: Dưới chuẩn (Substandard loans)
Các nhóm vay thuộc nhóm này là nợ xấu, khách hàng có biểu hiện là không có khả
năng trả nợ. Việc trả nợ không theo đúng cam kết mà ngân hàng đã phải tìm đến biện
pháp là thực hiện phát mại tài sản để thu hồi nợ.
* Nhóm IV: Khó đòi (Doubtful loans)
22
Đây là những khoản vay mà có khả năng mang lại tổn thất rất lớn đối với ngân hàng.
* Nhóm V: Tổn thất tín dụng (Loss loans)
Bao gồm các khoản tín dụng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi. TSBĐ thuộc nhóm này
là không thể thu hồi hay có thì rất thấp.
Trong 5 nhóm vay trên, 3 nhóm cuối được đánh giá là là những nhóm có thể đem đến
rủi ro cho ngân hàng. Khi có bất kỳ sự kiểm tra, kiểm toán hoạt động tín dụng của ngân
hàng bao giờ các nhà kiểm tra cũng xem xét rất kỹ 3 nhóm tín dụng này. Tuy nhiên
việc đánh giá RRTD không chỉ nhìn vào các nhóm tín dụng nói trên mà nhà kiểm tra

quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại.
1.2.3.3. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng.
RRTD là những biến cố xảy ra ngoài mong đợi trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng, tuy không thể loại bỏ được hoàn toàn nhưng ta có thể nghiên cứu để
nhận biết nó, từ đó có thể đưa ra những biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi
ro, giảm thiểu mức độ thiệt hại đến mức thấp nhất. Muốn dự đoán rủi ro một cách
chính xác nhất thì ngân hàng cần phải đo lường được rủi ro. Đây là một trong
những phương pháp nghiên cứu mà ngân hàng nào cũng áp dụng vì nó có ý nghĩa
rất lớn trong công tác quản trị hoạt động kinh doanh của các NHTM. Đo lường rủi
ro là cơ sở để ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, chính sách lãi suất
phù hợp cho từng thời kỳ, xây dựng hệ số rủi ro cho từng loại tài sản có và cho từng
loại hình cho vay.
Thông thường, để có thể đo lường RRTD, các NHTM xây dựng một hệ thống
chỉ tiêu đánh giá. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá RRTD, bao gồm:
* Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn
=
Dư nợ quá hạn
*
100%
Tổng dư nợ
cho vay
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng đối với các khoản vay,
đây là chỉ tiêu dùng để đánh giá RRTD cũng như chất lượng tín dụng của các
NHTM. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao chứng tỏ RRTD của các NHTM càng lớn.
24
Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước Việt namNam, dư nợ quá
hạn của các NHTM không được vượt quá 5% tổng dư nợ cho vay, nghĩa là trong 100
đồngĐđồng vốn các NHTM bỏ ra để cấp tín dụng cho khách hàng thì nợ quá hạn tối
đa chỉ là 5 đồngĐđồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status