LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt đề tài này, trong suốt thời gian thực tập qua tôi đã
nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình từ phía quý thầy, cô giáo Khoa Tài
nguyên và Môi trường, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội cùng sự giúp đỡ
của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong bộ môn
Khoa học đất đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp này.
Đặc biệt là thầy giáo PGS.TS Nguyễn Hữu Thành, giáo viên bộ môn khoa học
đất, Khoa Tài nguyên và Môi trường, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội,
người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cám ơn UBND, HTX DVNN xã Đặng Xá – Gia Lâm – Hà Nội đã
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu và nghiên cứu để phục vụ cho
đề tài.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên khích
lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Lê Thị Tú Anh
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. UNESCO : Tổ chức Giáo Dục Khoa Học và Văn Hóa của Liên Hợp Quốc
2. FAO : Food and Agriculture organization of the United Nation:
Tổ chức Nông Lương thế giới
3. WB : World Bank: Ngân hàng thế giới
4. EC : Độ dẫn điện
5. DO : Oxy hòa tan
6. BOD : Nhu cầu oxy sinh hóa
7. COD : Nhu cầu oxy hóa học
8. SAR : Tỉ lệ giữa ion với Na
+
Bảng 4.2: Tình hình lao động của xã Đặng Xá.Error: Reference source not found
Bảng 4.3. Diện tích trồng rau của 10 thôn trong xã, năm 2011 Error: Reference
source not found
Bảng 4.4. Diện tích, năng suất, sản lượng các loại rau chính tại xã Đặng Xá, vụ
Đụng Xuân 2011 – 2012 Error: Reference source not found
Bảng 4.5: Một số chỉ tiêu hóa lý đánh giá chất lượng nước tưới tại xã Đặng Xá
trong tháng 2 năm 2012 Error: Reference source not found
Bảng 4.6: Một số chỉ tiêu hóa lý đánh giá chất lượng nước tưới tại xã Đặng Xá
trong tháng 3 năm 2012 Error: Reference source not found
Bảng 4.7: Kết quả phân tích hàm lượng một số cation và kim loại nặng hòa tan
trong nước tại xã Đặng Xá trong tháng 2 năm 2012 Error: Reference source not
found
Bảng 4.8: Kết quả phân tích hàm lượng một số cation và kim loại nặng hòa tan
trong nước tại xã Đặng Xá trong tháng 3 năm 2012 Error: Reference source not
found
iii
DANH MỤC HèNH
Hình 4.1: Cơ cấu kinh tế của xã Đặng Xá Error: Reference source not found
Hình 4.2: Sự biến động giá trị DO trờn kờnh tưới thứ nhất tại xã Đặng Xá trong
2 tháng đầu năm 2012 Error: Reference source not found
Hình 4.3: Sự biến động giá trị DO trờn kờnh tưới thứ hai tại xã Đặng Xá trong 2
tháng đầu năm 2012 Error: Reference source not found
Hình 4.4: Sự biến động giá trị NH
4
+
trờn kênh tưới thứ nhất tại xã Đặng Xá
trong 2 tháng đầu năm 2012 Error: Reference source not found
Hình 4.5: Sự biến động giá trị NH4
+
trờn kênh tưới thứ hai tại xã Đặng Xá trong
cấp một lượng khá lớn sản phẩm rau cho nhu cầu tiêu dùng của người dân đô
thị. Ngoài ra, phát triển nghề trồng rau an toàn nhằm phát huy những thuận lợi
về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã. Việc đẩy mạnh sản xuất và đảm
bảo chất lượng của rau luôn được sự quan tâm của các cấp ban ngành ở xã chú
trọng. Để sản xuất rau đủ tiêu chuẩn chất lượng, đạt hiệu quả năng suất cao có
rất nhiều yếu tố chi phối như: đất trồng màu mỡ không bị ô nhiễm bởi kim loại
nặng, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, đặc biệt phải kể đến nguồn nước tưới vì
nước tưới rất cần thiết trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau
1
sạch nói riêng. Tuy nhiên do các hoạt động nông nghiệp, sinh hoạt, chăn nuôi
của địa phương đã thải vào các nguồn nước gây ra hậu quả đáng kể cho ngành
sản xuất rau. Để tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp nói chung và trong lĩnh
vực trồng trọt ở xã Đặng Xá nói riêng, phát triển bền vững, bảo vệ môi truờng
sinh thái, tạo ra những sản phẩm có chất lượng, an toàn phục vụ cho người dân
và du khách, nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích, góp
phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống người lao động, việc đánh giá chất lượng
nước phục vụ cho sản xuất rau tại xã Đặng Xá là một yêu cầu cần thiết.
Xuất phát từ thực tế đó, được sự phân công của khoa tài nguyên và môi
trường, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Nguyễn Hữu Thành, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá chất lượng nước sử dụng trong sản xuất rau
vụ đụng xuõn tại xã Đặng Xá – Gia Lâm – Hà Nội”.
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá chất lượng nước sử dụng trong sản xuất rau vụ đụng xuõn ở
xã Đặng Xá – Gia Lâm – Hà Nội.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng nước tại xã Đặng Xá.
2.2. Yêu cầu nghiên cứu
- Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước để phân tích và làm rõ
được tình hình sử dụng nước tưới của khu vực nghiên cứu.
- Thông tin điều tra, thu thập có liên quan đến đề tài nghiên cứu phải đảm
vụ 1 đối với các loại cây trồng là rất lớn: Cây lúa cần 4000 – 6500 m
3
/ha, cây ngô
1900 – 2300 m
3/
/ha, khoai lang 1200 – 1500 m
3
/ha, bắp cải 3000 – 4500 m
3
/ha [1].
Ngoài ra, người ta biết được là trung bình trong cây rau có tới 85 – 95% là
nước, tức là so với các cây trồng khác trong nông nghiệp, cây rau là loại chứa
nhiều nước nhất. Đồng thời hệ số bốc thoát nước của các loại rau lại rất cao, từ
500 đến 800, đó là khối lượng (m
3
) nước cần tiêu thụ để rau tạo ra một tấn sản
phẩm khô. Hệ số đó ở dưa chuột là 713, cải bắp 539, bầu bí là 700 – 834, cà
chua 570, khoai tây 300 – 636
Tóm lại, nước vừa làm tăng năng suất, vừa làm tăng chất lượng cũng như
giá trị hàng hoá của rau, có nghĩa là vai trò của nước đối với cây rau vụ đông
xuân là rất lớn. Khi cây rau được bón phân đầy đủ đồng thời lượng nước tưới
cũng được cung cấp thoả đỏng thỡ chắc chắn năng suất rau sẽ cao vì nhờ có
nước trong đất mà các chất dinh dưỡng trong phân bón, kể cả phân hữu cơ và
phõn khoỏng, dễ dàng hoà tan trong dung dịch đất, dễ dàng được rễ cây hút để
nuụi cõy, hơn nữa nhờ có đủ nước nên ở tế bào rễ áp suất thẩm thấu được tạo ra
đủ để lấy được nước, dự ớt trong keo đất. Qua nghiên cứu, người ta đã thấy cây
cải bắp, nếu độ ẩm trong đất dưới 60%, dự bún đủ phân, năng suất vẫn thấp hơn
tới 12% so với nơi độ ẩm đất đạt 80%. Hoặc nếu được tưới 3 lần trong quá trình
sinh trưởng của rau để độ ẩm đất đạt 70% thì năng suất tăng 68 – 70% so với nơi
không tưới dù bón phân đầy đủ. Tuy vậy, nếu tưới tăng tới 6 lần, độ ẩm đất 80%
Theo FAO và WB, nhìn chung trên toàn thế giới diện tích tưới đã tăng 2
lần so với 1950, năm 2002 diện tích tưới đã đạt 276,719 triệu ha trong đó khu
vực châu Á - Thái Bình Dương đạt 178,831 triệu ha và theo nguồn tài liệu của
WB và FAO do IWMI tập hợp phân tích và vừa mới xuất bản năm 2007 thì diện
tích tưới đã tăng trong các thập kỷ qua như sau:
• 1961 – 1970 tăng 2,1%
• 1970 – 1980 tăng 2,2%
• 1981 – 1990 tăng 1,6%
• 1991 – 2000 tăng 1,2%
• 2000 – 2003 tăng 0,1%
5
Lý do tốc độ tăng về diện tích tưới giảm dần vì diện tích dễ thủy lợi hóa
không còn nhiều, người ta phải đụng đến những vùng đất khó giải quyết về tưới,
xuất đầu tư cao trong khi giá mặt bằng lương thực lại tăng chậm và điều quan
trọng là trong điều kiện nguồn nước có hạn người ta phải tính đến hiệu quả của
việc sử dụng nước xem sử dụng nước sao cho có hiệu quả cao và phát triển bền
vững [4].
Như vậy, thông qua số liệu điều tra về diện tích đất được tưới thì nước là
nguồn tài nguyên không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong
hoạt động trồng trọt.
2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước dùng trong sản xuất nông nghiệp
Nước được dùng vào rất nhiều mục đích khác nhau như công nghiệp, sinh
hoạt, nông nghiệp, giao thông vận tải…
Trong phát triển công nghiệp và đô thị, nước cũng có vai trò to lớn. Công
nghiệp hóa hiện đại hóa là xu hướng phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.
Cùng với đó nhu cầu sử dụng nước cũng tăng lên. Nguy cơ ô nhiễm nguồn nước
ngày càng lớn, ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong sinh hoạt hằng ngày, nước sạch là một nhu cầu cấp thiết của sự
sống. thiếu nước sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và phát sinh nhiều căn
bệnh nguy hiểm.
hỡnh…Giỏ trị DO trong nước phụ thuộc vào tính chất vật lý, hóa học và các
chất hoạt động sinh học xảy ra trong đó. Các dòng sông, ao hồ có hàm lượng
DO cao thường có nhiều loại sinh vật sinh sống. Khi DO trong nước thấp làm
khả năng sinh trưởng của động vật thủy sinh sẽ giảm, thậm chí làm biến mất một
số loài nếu DO giảm đột ngột [32].
- Nhu cầu oxy hóa học (COD): Là lượng oxy cần thiết để oxy hóa hoàn
toàn các chất hữu cơ khi mẫu nước được xử lý với chất oxy hóa mạnh (K
2
Cr
2
O
7
)
trong những điều kiện nhất định. COD là chỉ tiêu để đánh giá mức độ ô nhiễm
7
của nước (nước thải, nước mặt, nước sinh hoạt) kể cả chất hữu cơ dễ phân hủy
và khó phân hủy sinh học [32].
- Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD): Là lượng oxy cần thiết cho vi sinh vật để
oxy hóa và ổn định các chất hữu cơ trong nước, trong những điều kiện nhất
định. BOD gián tiếp chỉ ra mức độ ô nhiễm do các chất có khả năng bị oxy hóa
sinh học mà đặc biệt là các chất hữu cơ. BOD
5
là thông số được sử dụng phổ
biến nhất đú chớnh là oxy cần thiết để oxy hóa sinh học chất hữu cơ trong 5
ngày ở nhiệt độ 20
0
C [32].
- Hàm lượng amoni (NH4
+
): Là một trong những thông số quyết định để
- Tỷ lệ giữa ion Na
+
với các ion dương có trong nước (tỷ số SAR). Trong
số các ion hòa tan trong nước (Na
+,
K
+,
Ca
2+,
Mg
2+
…) thì Na
+
có tác dụng mạnh
nhất đến đất đai và cây trồng. Ion Na
+
có khả năng trao đổi mạnh với các ion
trong keo đất, làm thay đổi cấu trúc đất. Hàm lượng Na
+
cao sẽ làm thay đổi tính
chất vật lý, hóa học của đất đai, gây thoái hóa đất ảnh hưởng đến sinh trưởng và
phát triển của cây trồng. Nếu nồng độ các muối ở trong nước cao dẫn đến sự
hình thành đất mặn, nếu trong đất có nhiều muối Na
+
sẽ làm cho đất có phản ứng
kiềm [30].
Năm 2008, Việt Nam đưa ra quy chuẩn 08:2008/BTNMT để đánh giá
chất lượng nước mặt đã đề cập khá đầy đủ đến giới hạn cho phép của các thông
số như: pH, oxy hòa tan, COD, BOD, coliform, Cu, Pb, Zn, Cd…quy chuẩn này
giúp cho việc đánh giá và kiểm soát chất lượng nguồn nước mặt, từ đó làm căn
rất lớn và gây ảnh hưởng đến hoạt động sống của các sinh vật tầng đáy, kết quả
là chúng bị chết [6].
Bên cạnh đó, chất lượng nước sông phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại
các quốc qua ở khu vực Châu phi cũng không có tín hiệu khả quan. Hầu hết
nước từ cỏc sụng, suối, ao, hồ và thủy vực đã khan hiếm nay lại chịu sự tác động
từ nước thải từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt
nờn đó bị suy giảm đáng kể cả về chất lượng và số lượng.
Cụ thể, tại Zimbabwe việc xả thải công nghiệp và đô thị hóa đã làm cho
hồ Chivero bị ô nhiễm, chất lượng nước ngày càng suy giảm, sự tích lũy của các
hợp chất amoniac đã dẫn đến nhiều loại cá sống trong hồ bị chết hàng loạt.
10
Trong khi đó, năm 1991 tại Nam Phi Công ty Cổ phần Năng lượng
nguyên tử gây ra một vụ tràn dầu rất lớn gần đập Hartbeesport làm cho các loại
cá và động vật thủy sinh sống trong hồ bị chết. Việc các nguồn nước sông bị ô
nhiễm đã gây ra một nguy cơ nghiêm trọng cho các hoạt động nông nghiệp, mục
đích sử dụng nước cho sinh hoạt [8].
Trong khi đó tại Trung Quốc, hầu hết cỏc kờnh rạch, sông và hồ đang bị ô
nhiễm từ các hoạt động xả thải của các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông
nghiệp và sinh hoạt. Kết quả là nguồn nước của nhiều thành phố và khu vực bị ô
nhiễm nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp nói
chung và hoạt động tròng trọt nói riêng [9].
Tại Thái Lan tình hình chất lượng môi trường nước ở nhiều khu vực cũng
đang trong tình trạng tương tự. Theo kết quả nghiên cứu của Thares Srisatit và
cộng sự cho thấy tại Bangkok môi trường nước tại các khu công nghiệp đang
trong tình trạng báo động. Trong 30 mẫu phân tích thỡ cú đến 27 mẫu cho thấy
các chỉ tiêu BOD5, COD, N tổng vượt TCCP từ 4 – 6 lần, trong đó có một số chỉ
tiờu như Pb, As vượt TCCP từ 7 – 8 lần [10].
Hiện nay đường thủy và sông ngòi nói chung ở châu Âu đều nhiễm độc,
nhất là từ các hợp chất hữu cơ có chứa clo. Nguyên nhân là dọc hai bờ sông có
nhiều nhà máy, xí nghiệp hóa chất, như ở Sông Ranh chẳng hạn. Ở Hà Lan
Chất thải
chăn nuôi
Chất thải
sinh hoạt
Phân hóa
học
1938 - 1939 260 610 170 50
1940 -1949 240 540 180 90
1950 - 1959 260 670 200 180
1960 - 1969 260 780 220 490
1970 - 1972 240 810 230 730
1980 - 1981 - 600 - 1.150
Nguồn: Trích từ dự án “ thiết kế mạng lưới giám sát chất lượng nước trên hệ
thống thủy nông Bắc Hưng Hải”, 2005.
Nguồn nước giàu các chất dinh dưỡng N, P có khả năng bị phú dưỡng
hóa. Hiện nay, trên thế giới có 30 – 40% số hồ chưa bị phú dưỡng húa. Trờn
30% trong số 800 hồ ở Tây Ban Nha và nhiều hồ ở Nam Phi, Australia và
Mehico cũng bị phú dưỡng hóa. Tuy nhiên, các hồ cực lớn như hồ Baikal (chứa
20% lượng nước ngọt toàn cầu) chưa bị phú dưỡng [12].
Ngoài ra, lượng hóa chất sử dụng cho cây trồng cũng ảnh hưởng đến môi
trường nước. Theo báo cáo của cơ quan quản lí nước Vương Quốc Anh, trong
năm 1992 sản xuất nông nghiệp đã gây ra 12% trong tổng số sự cố ô nhiễm môi
trường. Do tác hại của sâu bệnh và cảm nhận của nông dân muốn đảm bảo an
toàn cho cây trồng nên chi phí sử dụng hóa chất bảo vệ trong sản xuất nông
nghiệp ngày một tăng (khoảng 20 tỷ USD hàng năm). Khi dùng thuốc trừ sâu,
một phần lượng hóa chất sử dụng được cho cây trồng hấp thụ hoặc được phân
hủy bởi quá trình sinh học hay hóa học, phần còn lại bị thất thoát, xâm nhập vào
12
môi trường nước qua quá trình rửa trôi bề mặt hay thấm sâu gõy ụ nhiễm nước.
Theo đánh giá trên thế giới, lượng thất thoát hóa chất bảo vệ thực vật do dòng
nhiễm mãn tính. Sông Rhin trước đây là khu vực sinh sống thuận lợi của hơn 30
triệu người. Nhưng từ khi xuất hiện các xí nghiệp công nghiệp, các nhà máy hóa
chất, luyện kim…một lượng lớn các chất thải đã thải trực tiếp vào dòng sông
làm cho chất lượng nước sông Rhin bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến các hoạt động
nông nghiệp cung cấp cho những khu vực xung quanh [13].
Hoàng Hà là con sông dài thứ nhì tại Hoa Lục (dài 5464 km), và từng là
“chiếc nụi” của nền văn minh Trung Hoa. Con sông này đã từng cung cấp nước
cho khoảng 150 triệu dân và tưới tiêu cho khoảng 15% đất đai Trung Hoa. Hiện
nay cả số lượng và chất lượng tại các con sông này đều bị giảm sút nghiêm
trọng, đặc biệt vào hồi đầu tháng 10 của năm 2006 mực nước sụng đó bị rút
xuống mức thấp nhất kể từ 5 năm trở lại đây. Nguyên nhân chính của tình trạng
này là do các nhà máy, xí nghiệp mọc lên rất nhiều ở hai bên bờ sông, các chất
thải của những nhà máy này không được xử lý đã thải bỏ trực tiếp vào dòng
sông đã làm cho nước sông bị ô nhiễm tới mức độ báo động. Trong suốt 3 thập
niên qua, Hoa Lục từ một nước nghèo nàn trở thành một trong 5 cường quốc
kinh tế của thế giới, nhưng song song với thành tựu này là sự ô nhiễm trầm
trọng về môi sinh và nước uống [34].
Ô nhiễm nước không chỉ bởi các tác nhân thải bỏ trực tiếp vào nguồn
nước mà còn do các hạt bụi, khí thải của các khu công nghiệp. chớnh vỡ vấn đề
này nghiên cứu ô nhiễm nguồn nước của hệ thống thủy nông nói chung và các
con sông nói riêng cần được đặt trong nguyên nhân ô nhiễm môi trường nó để từ
đó vạch ra các biện pháp xử lý có hiệu quả ngăn chặn tác hại trước mắt cho cây
trồng, động vật và con người.
2.4. Tình hình chất lượng nước sử dụng trong nông nghiệp ở Việt Nam
14
Nước ta có nền nông nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp
và các đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã xảy ra ở nhiều
nơi với các mức độ nghiêm trọng khác nhau.
+ Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, dùng để tưới lúa và hoa
màu, chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng. Việc sử dụng nông
lửng, nhu cầu oxy sinh hóa, nhu cầu oxy hóa học… giá trị của các thông số này
đều gấp từ 5 – 10 lần trị số tiêu chuẩn cho phép [15].
Thành phố Hồ Chí Minh với gần 8 triệu dân, mỗi ngày sử dụng nguồn
nước máy từ sông Đồng Nai đưa về. Nhưng hiện nay trên đầu nguồn của dòng
sông này có đến 53 KCN, trong đó có những nhà máy sản xuất nguyên liệu dùng
để sản xuất thuốc trừ sâu, phân bón, xà phũng… ngày ngày xả nước thải chưa
được xử lý ra sông với lượng từ 3.000 – 10.000 m
3
nước thải/ngày. Chính vì vậy
chất lượng nước tại các con sông này hiện nay bị suy giảm nghiêm trọng, mặt
khác theo dòng chảy đến hạ lưu, chất lượng nước Thành Phố Hồ Chí Minh bị
ảnh hưởng nặng nề [16].
Theo kết quả nghiên cứu của Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn –
Chi cục BVMT Thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy chất lượng nước sông Sài
Gòn đều vượt qua TCCP. Cũng theo báo cáo này cho thấy chất lượng DO rất
thấp chỉ đạt 2,8 – 4,7 mg/l. Trong khi đó, TCCP là trên 6 mg/l, hàm lượng
Colifom vượt TCCP gấp 220 lần. Và nguyên nhân chủ yếu gây ra hậu quả trên
là do việc xả thải từ các hoạt động của các nhà máy trên địa bàn [17].
Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa khá nhanh và sự gia tăng dân số
gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi
trường nước ở nhiều khu đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô
nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ
sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công
16
trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do công nghiệp là rất nặng. Ví dụ
như ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy, bột giấy, nước thải
thường có độ pH trung bình từ 9 – 11 ; chỉ số nhu cầu oxy sinh hóa ( BOD), nhu
cầu oxy hóa học 9 COD ) có thể lên đến 700mg/l và 2.500mg/l; hàm lượng chất
rắn lơ lửng…cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép. Hàm lượng nước thải của các
ngành này có chứa xyanua ( CN
thường chứa nhiều bột giấy, lượng cặn có thể lên tới 300 – 600 mg/l.
Theo các kết quả khảo sát cho thấy, nước thải sản xuất tại các làng nghề
có COD, BOD
5
, SS vượt TCVN từ 1,5 – 15 lần.
17
Trong số các làng nghề tái chế giấy có làng nghề Dương Ổ và Phỳ Lõm ở
Bắc Ninh là hai làng nghề có quy mô sản xuất lớn. Tổng khối lượng nước thải
lên tới 3500 m
3
/ngày. Hàng ngày đã thải vào nguồn nước mặt khoảng 1.450 -
3000 kg COD và 3000 kg bột giấy [35].
Hiện nay các nhà máy, xí nghiệp, làng nghề thủ công tỉnh Hà Tây đang xả
nguồn nước thải trực tiếp ra sụng Đỏy, làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
nguồn nước mặt và nước ngầm, ảnh hưởng đến sức khỏe và sản xuất của nhân
dân thuộc lưu vực con sông này. Qua kết quả thí nghiệm nhiều mẫu nước sông
cho thấy, các chỉ tiêu hóa, lý và vi khuẩn độc hại đều vượt quá tiêu chuẩn cho
phép rất cao. Theo kết quả phân tích mẫu nước sụng Đỏy ở khu vực hơn 50 làng
nghề thủ công với tổng chiều dài gần 40 km đang bị ô nhiễm nặng, chủ yếu là
các làng nghề chế biến nông sản, kim khí, dệt thảm, nhuộm vải… Ô nhiễm
nghiêm trọng nhất là khu vực làng nghề Kim khí Phựng Xỏ (Thạch Thất) bởi
toàn bộ nước thải xả trực tiếp ra mương máng chảy vào sông Đáy. Kết quả thí
nghiệm cho thấy: BOD tạp chất và vi khuẩn là 186 mg/l nước vượt quá tiêu
chuẩn cho phép hơn 7 lần; COD là 611 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn cho phép hơn
6 lần, hàm lượng các chất rắn lơ lửng là 96 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn cho phép
là 1,25 lần; hàm lượng nitrat là 19,2 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn cho phép 1,3 lần
[20].
• Ô nhiễm do nước thải, rác thải sinh hoạt của con người
Dân số tăng nhanh vượt quá tốc độ phát triển của cơ sở hạ tầng vệ sinh,
đặc biệt là khu vực nông thôn làm cho tỉ lệ ô nhiễm nước về mặt hữu cơ và vi
sinh hoạt của người dân đã thải bỏ trực tiờp vào dòng sông [22].
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có
hệ thống xử tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận( sông, hồ, kênh,
mương). Mặt khỏc, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn
các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thông xử lý nước thải; một lượng rác
19
thải rắn trong thành phố không được thu gom hết được…là những nguồn quan
trọng gây ra ô nhiễm nước.
Ở các khu đô thị như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải
Dương…nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi
tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất
lơ lửng (SS), BOD, COD; Ôxy hòa tan (DO) đều vượt từ 5 – 10 lần, thậm chí 20
lần TCCP.
• Ô nhiễm nước do hoạt động sản xuất nông nghiệp
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp,
hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở
hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được
xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn
nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo cáo của Bộ Nông
Nghiệp và phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ
1.500 – 3.500 MNP/100ml ở các vùng ven sông tiền và sông Hậu, tăng lên tới
3.800 – 12.500 MNP/100ml ở cỏc kờnh tưới tiêu.
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật,
các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi
trường nước và sức khỏe người dân.
Theo thống kê của cục BVTV thì lượng thuốc BVTV được sử dụng ở Việt
Nam từ năm 1959 đến 1990 như sau:
Bảng 2.2: Lượng thuốc BVTV được sử dụng ở Việt Nam từ 1959 đến 1990
Năm Lượng sử dụng