MỤC LỤC
Trang
PHỤ LỤC 95
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang
i
LỜI
NÓI
ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tổng cục Hải quan là một đơn vị hành chính nhà nước trực thuộc Bộ
Tài chính, hàng năm sử dụng khoảng 2.000 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước để
duy trì hoạt động, đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị, xây dựng trụ sở
phục vụ công tác thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; chống buôn
lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới Với mục tiêu xây dựng hệ
thống tài chính lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, hiệu
quả ngân sách nhà nước giao, Tổng cục Hải quan cần không ngừng nghiên
cứu, đổi mới, hoàn thiện tất cả các khâu, các quy trình trong quản lý chi ngân
sách nhà nước để tăng tích lũy đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất của Ngành.
Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài “Hoàn thiện quản lý chi ngân sách
nhà nước trong ngành Hải quan Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa lý thuyết về quản lý chi ngân sách nhà nước tại các cơ
quan hành chính nhà nước.
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước trong
ngành Hải quan từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện
quản lý chi ngân sách nhà nước trong ngành Hải quan.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý chi ngân sách nhà nước
- Phạm vi nghiên cứu: tại Tổng cục Hải quan từ năm 2006 đến năm
nhà nước, thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội.
Thứ tư, cơ quan hành chính nhà nước nói chung là cơ quan chấp hành,
điều hành của cơ quan quyền lực nhà nước.
Thứ năm, cơ quan hành chính nhà nước được Nhà nước cấp kinh phí từ
nguồn ngân sách Nhà nước để đảm bảo hoạt động trên cơ sở các quy định của
luật pháp và theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp.
iv
Thứ sáu, cơ quan hành chính nhà nước chỉ được sử dụng kinh phí được
Ngân sách Nhà nước cấp cho mục đích đã được xác định trước theo nội dung
dự toán được giao.
1.1.3. Vai trò của cơ quan hành chính nhà nước
Do cơ quan hành chính nhà nước là đơn vị được Nhà nước ra quyết
định thành lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên một lĩnh vực
nhất định của xã hội nên có vai trò đưa pháp luật vào đời sống nhằm giữ gìn
trật tự an ninh xã hội, phục vụ lợi ích của nhân dân, đảm bảo dân sinh và giải
quyết các vấn đề xã hội, sử dụng nguồn tài chính và công sản để xây dựng và
phát triển đất nước một cách có hiệu quả.
1.1.4. Phân loại cơ quan hành chính nhà nước
Theo căn cứ pháp lý để thành lập: cơ quan hành chính nhà nước được
phân thành hai loại: Loại 1 và loại 2.
Căn cứ theo cấp dự toán: Cơ quan hành chính nhà nước được phân
thành: Đơn vị dự toán cấp I; Đơn vị dự toán cấp II; Đơn vị dự toán cấp III và
Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III.
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ hoạt động: Cơ quan hành chính nhà nước
được phân làm cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương.
Căn cứ vào tính chất và phạm vi thẩm quyền: Cơ quan hành chính nhà
nước được phân chia thành: Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền
chung và cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn.
Thứ nhất, chi ngân sách nhà nước chỉ được tiến hành trên cơ sở pháp
luật và theo kế hoạch chi ngân sách cũng như phân bổ ngân sách do cơ quan
có thẩm quyền quyết định.
vi
Thứ hai, chi ngân sách nhà nước nhằm vào mục tiêu thoả mãn nhu cầu
về tài chính cho sự vận hành của bộ máy nhà nước, bảo đảm cho cơ quan
hành chính nhà nước thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Thứ ba, phần lớn các khoản chi ngân sách nhà nước trong các cơ quan
hành chính nhà nước đều là khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp và mang
tính bao cấp.
1.2.4. Vai trò của chi ngân sách nhà nước trong các cơ quan hành
chính nhà nước
Chi ngân sách nhà nước cung cấp tài chính cho sự tồn tại và hoạt động
của các cơ quan hành chính nhà nước và chi ngân sách nhà nước là một trong
những công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô
đối với xã hội nói chung và đối với kinh tế nói riêng.
1.3. Quản lý chi ngân sách nhà nước trong các cơ quan hành chính
nhà nước
1.3.1. Yêu cầu và nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước
Quản lý chi ngân sách nhà nước phải đáp ứng được các yêu cầu và
nguyên tắc sau: Thứ nhất, đảm bảo nguồn tài chính cần thiết, kịp thời theo
đúng chủ trương, đường lối, chính sách và chế độ của Nhà nước; Thứ hai,
quản lý các khoản chi tiêu phải đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và có hiệu quả;
Thứ ba, xây dựng và áp dụng thống nhất quy trình lập, phân bổ và quyết định
các khoản chi ngân sách nhà nước một cách chặt chẽ, hợp lý; Thứ tư, thực
hiện công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm toán.
1.3.2. Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước trong cơ quan hành
chính nhà nước
Chi ngân sách nhà nước được thực hiện theo một quy trình thống nhất
gồm ba giai đoạn: Lập dự toán chi ngân sách nhà nước; chấp hành dự toán chi
2.1. Vài nét về ngành Hải quan Việt Nam
2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức ngành Hải
quan Việt Nam
Theo Quyết định số 02/2010/NĐ-CP ngày 15/01/2010 của Thủ tướng
Chính phủ, cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan gồm: Cơ quan Tổng cục
Hải quan ở Trung ương và các cơ quan Hải quan ở địa phương. Cơ quan Tổng
cục Hải quan ở Trung ương bao gồm: 11 Cục, Vụ tham mưu giúp Tổng cục
trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước; 04 đơn vị sự nghiệp.
Các cơ quan Hải quan ở địa phương bao gồm 33 Cục Hải quan tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương; 149 Chi cục Hải quan; 35 đội kiểm soát
thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố.
2.1.2. Bộ máy quản lý chi ngân sách nhà nước trong ngành Hải
quan Việt Nam
Bộ máy quản lý chi ngân sách nhà nước của ngành Hải quan được tổ
chức theo ngành dọc từ Tổng cục Hải quan đến các Cục Hải quan tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương và các đơn vị tương đương theo 2 cấp dự toán:
Đơn vị dự toán cấp II (Tổng cục Hải quan) và đơn vị dự toán cấp III (44 đơn
vị dự toán là các Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp
tương đương trực thuộc Tổng cục Hải quan).
2.2. Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước trong ngành Hải
quan Việt Nam
2.2.1. Cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước đối với ngành Hải
quan Việt Nam
ix
Ngành Hải quan Việt Nam thực hiện quản lý tài chính theo cơ chế
khoán ban hành kèm theo Quyết định 63/2009/QĐ-TTg ngày 20/4/2009 của
Thủ tướng Chính phủ. Về cơ bản, cơ chế này tuân thủ các quy định chung
trong quản lý chi ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, kinh phí chi thường xuyên
cuối năm chưa sử dụng hết, ngành Hải quan được chuyển sang năm sau tiếp
tục sử dụng.
Về chấp hành chế độ chi tiêu, các khoản chi được chi theo đúng chế độ,
chính sách nhà nước quy định, không có sai sót lớn, khống có tình trạng lãng
phí, gây thất thoát ngân sách nhà nước.
2.2.2.3. Kế toán, kiểm toán và quyết toán chi ngân sách nhà nước
Công tác kế toán được tổ chức thực hiện tại tất cả các đơn vị dự toán
cấp III trong Ngành. Tổng cục Hải quan sử dụng phần mềm kế toán do Bộ Tài
chính cung cấp đã hỗ trợ rất nhiều cho cán bộ kế toán trong việc hạch toán kế
toán.
Các đơn vị trong Ngành nghiêm túc thực hiện kế toán, quyết toán chi
ngân sách nhà nước theo quy định. Hàng năm, Tổng cục Hải quan đều thực
hiện quyết toán chi ngân sách nhà nước từng đơn vị trước khi báo cáo đề nghị
Bộ Tài chính phê duyệt quyết toán chi ngân sách nhà nước của Ngành.
Tuy nhiên, việc xét duyệt quyết toán chi ngân sách nhà nước chưa có
quy trình cụ thể nên việc xét duyệt còn tự phát, cán bộ đi xét duyệt chưa làm
hết trách nhiệm nên còn nhiều sai sót.
2.3. Đánh giá công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trong ngành
Hải quan
Dựa trên các chỉ tiêu đánh giá trình bày ở chương 1, trên cơ sở các
nghiên cứu, phân tích tình hình thực tế về quản lý chi ngân sách trong ngành
xi
Hải quan, luận văn đưa ra một số nhận xét, đánh giá về công tác quản lý chi
ngân sách nhà nước trong ngành Hải quan.
2.3.1. Kết quả đạt được
Thứ nhất, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao. Với nguồn
kinh phí hàng năm được giao còn hạn hẹp nhưng Tổng cục Hải quan đã bố trí
kinh phí hợp lý, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm của Ngành giúp cho
ngành Hải quan hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao.
Thứ hai, công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trong ngành Hải quan
tương đối minh bạch. Tổ chức bộ máy kế toán chi ngân sách nhà nước về cơ
bản đã đảm bảo được nguyên tắc độc lập về mặt chuyên môn nghiệp vụ, phát
thống văn bản pháp luật, hướng dẫn chưa đầy đủ, đồng bộ; công tác quản lý
chi ngân sách nhà nước của Bộ Tài chính chưa phù hợp.
Nguyên nhân bên trong: Thủ trưởng các đơn vị dự toán chưa quan tâm
đến quản lý chi ngân sách nhà nước; bộ máy quản lý chi ngân sách nhà nước
chưa ngang tầm với nhiệm vụ chi; đội ngũ cán bộ công chức còn hạn chế về
số lượng và yếu về chất lượng; công tác kiểm tra, giám sát chưa được thực
hiện thường xuyên liên tục; chưa có hệ thống phần mềm quản lý chi ngân
sách nhà nước.
Trên cơ sở tình hình thực tế, những nhận xét, đánh giá nêu trên và phần
lý luận trình bày tại chương 1, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
thiện quản lý chi ngân sách nhà nước trong ngành Hải quan Việt Nam và
được trình bày trong chương 3.
xiii
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRONG NGÀNH HẢI QUAN VIỆT NAM
3.1. Chiến lược phát triển của ngành Hải quan và quản lý ngân
sách nhà nước của Ngành trong thời gian tới
3.1.1. Chiến lược phát triển của ngành Hải quan trong thời gian tới
Xây dựng Hải quan Việt Nam thành một tổ chức hiện đại, có trình độ
quản lý thuộc nhóm 4 nước đứng đầu khu vực Đông Nam Á, thủ tục Hải quan
đơn giản, hài hòa đạt chuẩn mực quốc tế trên nền tảng ứng dụng công nghệ
thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và kỹ thuật quản lý rủi ro; lực lượng hải
quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu, được trang bị và làm chủ kỹ
thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; góp phần nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo vệ quyền
lợi của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
3.1.2. Định hướng đổi mới quản lý chi ngân sách nhà nước của
ngành Hải quan trong thời gian tới
Thứ nhất, xây dựng cơ chế, định mức chi tiêu nội bộ đầy đủ, đồng bộ,
chuyên trách, có trình độ nghiệp vụ chuyên môn chuyên sâu, có tinh thần
trách nhiệm cao.
Thứ sáu, ứng dụng tin học trong quản lý chi ngân sách nhà nước. nhất
là xây dựng các phần mềm chuyên dụng để quản lý chi ngân sách nhà nước
thống nhất, liên tục từ khâu lập dự toán đến khâu quyết toán chi ngân sách
nhà nước.
3.3. Một số kiến nghị
3.3.1. Đối với Chính phủ, Quốc hội
xv
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống chính sách, chế độ, định mức, tiêu chuẩn
chi ngân sách phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ.
Thứ hai, tăng thời gian áp dụng cơ chế khoán. Quốc hội, Chính phủ cần
cho Tổng cục Hải quan áp dụng cơ chế khoán tối thiểu 5 năm.
Thứ ba, nâng cao mức phân bổ kinh phí đảm bảo hoạt động của ngành
Hải quan, cần tăng mức phân bổ lên 2,4-2,5% dự toán thu được phê duyệt.
3.3.2. Đối với Bộ Tài chính
Thứ nhất, trên cơ sở các chủ trương của Nhà nước, của Chính phủ về
các chế độ định mức chi tiêu, quy chế quản lý tài chính đối với các cơ quan
hành chính nhà nước, Bộ Tài chính cần có văn bản hướng dẫn kịp thời để
ngành Hải quan thống nhất thực hiện, tránh tình trạng hiểu sai, làm sai, tạo
khe hở cho các hành vi vi phạm.
Thứ hai, tăng cường phân cấp trong quản lý, điều hành chi ngân sách
nhà nước cho Tổng cục Hải quan. Để đảm bảo chủ động, linh hoạt trong điều
hành ngân sách, Tổng cục Hải quan cần phải được chủ động điều hành một số
nội dung chi theo phân cấp không thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính.
Thứ ba, sớm phê duyệt và giao dự toán cho Tổng cục Hải quan và giao
theo một số nhóm chính như: chi thanh toán cho cá nhân và chi quản lý hành
chính; chi nghiệp vụ chuyên môn đặc thù; chi mua sắm, sửa chữa tài sản; chi
xây dựng cơ bản và chi khác.
Thứ tư, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về chế độ quản lý tài
quốc gia, nó chi phối và có ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà
nước và tiềm lực của đất nước. Nội dung chi ngân sách nhà nước rất phong
phú, đa dạng. Trong đó, chi cho lĩnh vực hành chính nhà nước là một trong
những nội dung chi quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi ngân sách
nhà nước nhằm đảm bảo duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước, duy trì và
phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội.
Tổng cục Hải quan là một đơn vị hành chính nhà nước trực thuộc Bộ
Tài chính, hàng năm sử dụng khoảng 2.000 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước để
duy trì hoạt động, đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị, xây dựng trụ sở
phục vụ công tác thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; chống buôn
lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới Với mục tiêu xây dựng hệ
thống tài chính lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, hiệu
quả ngân sách nhà nước giao, Tổng cục Hải quan cần không ngừng nghiên
cứu, đổi mới, hoàn thiện tất cả các khâu, các quy trình trong quản lý chi ngân
sách nhà nước để tăng tích lũy đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất của Ngành.
Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài “Hoàn thiện quản lý chi ngân sách
nhà nước trong ngành Hải quan Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa lý thuyết về quản lý chi ngân sách nhà nước tại các cơ
quan hành chính nhà nước.
2
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước trong
ngành Hải quan từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện
quản lý chi ngân sách nhà nước trong ngành Hải quan.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý chi ngân sách nhà nước
- Phạm vi nghiên cứu: tại Tổng cục Hải quan từ năm 2006 đến năm
2009.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phân tích thực chứng và chuẩn tắc trong kinh tế
nước trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.
1.1.2. Đặc điểm cơ quan hành chính nhà nước
1.1.2.1. Xét trên chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
Theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ quan hành chính nhà nước có
các đặc điểm sau:
Thứ nhất, cơ quan hành chính nhà nước hoạt động mang tính quyền lực
nhà nước, được tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Tính
quyền lực nhà nước thể hiện ở chỗ: (1) Cơ quan hành chính nhà nước là một
bộ phận của bộ máy nhà nước; (2) Cơ quan hành chính nhà nước nhân danh
nhà nước để hoạt động.
Thứ hai, mỗi cơ quan hành chính nhà nước đều có một thẩm quyền
nhất định, thẩm quyền này do pháp luật quy định, đó là tổng thể những quyền
4
và nghĩa vụ cụ thể mang tính quyền lực, được nhà nước trao cho để thực hiện
nhiệm vụ, chức năng của mình, cụ thể: (1) Các cơ quan nhà nước tổ chức và
hoạt động trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật; (2) Trong quá trình
hoạt động có quyền ban hành các quyết định hành chính thể hiện dưới hình
thức là các văn bản pháp quy và các văn bản cá biệt; (3) Ðược thành lập theo
quy định của Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh hoặc theo quyết định của cơ quan
hành chính nhà nước cấp trên; (4) Ðược đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ
quan quyền lực nhà nước cùng cấp và báo cáo hoạt động trước cơ quan quyền
lực nhà nước cùng cấp; (5) Có tính độc lập và sáng tạo trong tác nghiệp điều
hành nhưng theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc quyền lực phục
tùng.
Thứ ba, về mặt thẩm quyền thì cơ quan hành chính nhà nước được
quyền đơn phương ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính và văn
bản đó có hiệu lực bắt buộc đối với các đối tượng có liên quan; cơ quan hành
chính nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các đối
tượng chịu sự tác động, quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.
Thứ tư, cơ quan hành chính nhà nước có chức năng quản lý hành chính
1.1.2.2. Xét trên góc độ quan hệ tài chính
Thứ nhất, cơ quan hành chính nhà nước được Nhà nước cấp kinh phí từ
nguồn ngân sách Nhà nước để đảm bảo hoạt động trên cơ sở các quy định của
luật pháp và theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp.
Thứ hai, cơ quan hành chính nhà nước chỉ được sử dụng kinh phí được
Ngân sách Nhà nước cấp cho mục đích đã được xác định trước theo nội dung
dự toán được giao. Điều đó có nghĩa là cơ quan hành chính chỉ được chi tiêu
theo dự toán đã được duyệt, theo từng mục đích chi cụ thể và kinh phí đơn vị
6
đã chi tiêu trong năm dự toán phải được thẩm tra và duyệt quyết toán chi ngân
sách theo quy định.
1.1.3. Vai trò của cơ quan hành chính nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước là đơn vị được Nhà nước ra quyết
định thành lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên một lĩnh vực
nhất định của xã hội hay để thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhằm thực
hiện các mục tiêu Kinh tế - Xã hội do Nhà nước giao. Qua đó ta có thể thấy
được vai trò và sự cần thiết của các cơ quan hành chính nhà nước đối với sự
tồn tại và phát triển của một đất nước, cụ thể:
Các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp có chức năng thực hiện
quyền hành pháp. Đây là quyền tổ chức ra bộ máy hành chính các cấp, sắp
xếp nhân sự trong các cơ quan hành chính Nhà nước, điều hành công việc
quốc gia, sử dụng nguồn tài chính và công sản để thực hiện những chính sách
nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước. Nói cách khác, các cơ quan
hành chính Nhà nước các cấp có quyền tổ chức, điều hành các hoạt động Kinh
tế-Xã hội, đưa pháp luật vào đời sống nhằm giữ gìn trật tự an ninh xã hội,
phục vụ lợi ích của nhân dân, đảm bảo dân sinh và giải quyết các vấn đề xã
hội, sử dụng nguồn tài chính và công sản để xây dựng và phát triển đất nước
một cách có hiệu quả.
1.1.4. Phân loại cơ quan hành chính nhà nước
Việc phân loại các cơ quan hành chính nhà nước được tiến hành dựa
Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng
năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Uỷ ban nhân dân giao. Đơn vị dự toán cấp
I thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc;