Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước trong ngành công an việt nam - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN


NGUYỄN VĂN THẬP

QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG
NGÀNH CÔNG AN VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI, NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN


NGUYỄN VĂN THẬP

QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG
NGÀNH CÔNG AN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 9310102

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VIỆT TIẾN

HÀ NỘI, NĂM 2019

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ....................... 6
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài ........................................................ 6
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước ...................................................... 12
1.1.3. Nhận xét chung và các khoảng trống về chủ đề nghiên cứu.......................... 23
1.2. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 24
1.2.1. Quy trình nghiên cứu của tác giả:................................................................. 24
1.2.2. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài .................. 26
1.2.3. Thiết kế phiếu khảo sát ............................................................................... 26
1.2.4. Chọn mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu ................................................. 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1......................................................................................... 30
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CƠ BẢN BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG NGÀNH CÔNG AN
VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NGÀNH ....................................................... 31
2.1. Một số vấn đề về đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước
trong ngành công an.............................................................................................. 31
2.1.1. Quan niệm về đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước trong
ngành công an ....................................................................................................... 31
2.1.2. Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước trong ngành
công an .................................................................................................................. 32
2.1.3. Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước trong ngành
công an. ................................................................................................................. 35


iii
2.2. Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước trong ngành
công an ................................................................................................................... 36
2.2.1. Quan niệm, đặc điểm, chủ thể, đối tượng và sự cần thiết quản lý đầu tư xây
dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước trong ngành công an. .......................... 36
2.2.2. Nội dung quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước trong
ngành công an. ...................................................................................................... 42

3.4. Những vấn đề đặt ra sau khi nghiên cứu thực trạng quản lý đầu tư xây dựng
cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước trong ngành công an Việt Nam. .............. 107
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3....................................................................................... 110
CHƯƠNG 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRONG NGÀNH CÔNG AN VIỆT NAM ........................................................... 111
4.1. Những căn cứ để đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý
đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước trong ngành công an Việt
Nam ...................................................................................................................... 111
4.1.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và xu
hướng phát triển của ngành công an Việt Nam .................................................... 111
4.1.2. Dự báo về nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước
trong ngành công an Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030 ............................. 115
4.2. Phương hướng hoàn thiện quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân
sách nhà nước trong ngành công an Việt Nam .................................................. 116
4.3. Giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách
nhà nước trong ngành công an Việt Nam .......................................................... 121
4.3.1. Hoàn thiện xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư ..................................... 121
4.3.2. Hoàn thiện tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản ................................ 124
4.3.3. Tăng cường thanh tra, kiểm tra về thực hiện quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
bằng vốn ngân sách nhà nước trong ngành công an ............................................. 131
4.3.4. Hoàn thiện bộ máy quản lý và nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất của
đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản............................... 132
4.3.5. Tăng cường cơ sở vật chất để thực hiện quản lý nhà nước đầu tư xây dựng cơ
bản bằng vốn ngân sách Nhà nươc trong ngành công an. ..................................... 133
4.3.6. Tăng cường sự phối hợp giữa các đơn vị liên quan đến quản lý đầu tư xây
dựng cơ bản. ........................................................................................................ 134
4.4. Một số kiến nghị để hoàn thiện quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng
nguồn vốn ngân sách nhà nước trong ngành công an ....................................... 135


3

CAND

Công an nhân dân

4

CBĐT

Chuẩn bị đầu tư

5

CĐT

Chủ đầu tư

6

DNNN

Doanh nghiệp Nhà nước

7

ĐTPT

Đầu tư phát triển


13

TSCĐ

Tài sản cố định

14

UBND

Ủy ban nhân dân

15

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

16

XDCB

Xây dựng cơ bản


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Thanh đánh giá Likert ................................................................................ 27
Bảng 3.1. Cơ cấu các dự án đầu tư giai đoạn 2010-2017 ............................................ 70

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Những thành tựu của hơn 30 năm đổi mới đã tạo cho nước ta thế và lực mới,
nhưng chúng ta cũng sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức do những biến
động bất thường của quốc tế, do những hạn chế, yếu kém của ta tồn tại từ trước chậm
được khắc phục, do thiên tai, biến đổi khí hậu diễn biến bất thường. Mặt khác, các thế
lực thù địch vẫn ráo riết đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy tự diễn biến, gây bạo
loạn tự lật đổ; các phần tử chống đối trong nước liên kết với các phần tử ở nước ngoài
có xu hướng gia tăng hoạt động; nạn trộm cắp, hút chích, buôn bán ma túy, giết người
ngày càng tăng. Tất cả điều đó làm cho trật tự xã hội không được ổn định.Tình hình
tội phạm và trật tự an toàn xã hội tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp mới.
Trong những năm tới, xu thế lớn trên thế giới vẫn là hòa bình, hợp tác và phát
triển, nhưng sẽ có những diễn biễn phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường và rất
phức tạp. Trên thế giới đang gia tăng các xung đột do các tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải,
khủng bố do Nhà nước Hồi giáo tự xưng và các tổ chức khủng bố khác gây ra. Đây là mối
đe dọa đối với tất cả các quốc gia. Điều đó dẫn đến nguy cơ mất an ninh đối với toàn cầu,
trong đó có Việt Nam. Vì vậy, đấu tranh chống khủng bố, đe dọa ảnh hưởng đến tính
mạng người dân và quyền lợi dân tộc, quốc gia là vấn đề cấp bách của Việt Nam.
Trước tình hình đó, mục tiêu, yêu cầu đối với ngành công an là phát huy bản
chất cách mạng, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường hòa
bình, thuận lợi để phát triển đất nước; chủ động phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh
chống tội phạm và tệ nạn xã hội; xây dựng lực lượng công an chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại, thực sự là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc
gia và giữ gìn trật tự toàn xã hội.
Ngành công an có vai trò quyết định trong việc ổn định trật tự xã hội của đất
nước. Trước bối cảnh đó của đất nước, vai trò của ngành công an càng nặng nề. Để
ngành công an hoàn thành nhiệm vụ, đòi hỏi phải đảm bảo cơ sở vật chất để thực thi
nhiệm vụ. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến đầu tư XDCB để phát
triển cơ sở vật chất cho ngành công an, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của ngành.
Đầu tư XDCB trong ngành công an là để hình thành, phát triển cơ sở vật chất

pháp hoàn thiện quản lý đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trong ngành công an Việt Nam.

2.3. Câu hỏi nghiên cứu:
Để đạt được các mục đích nghiên cứu, tác giả đi vào trả lời các câu hỏi nghiên
cứu sau:
- Vì sao phải quản lý đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trong ngành công an ?
- Nội dung quản lý đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trong ngành công an ?


3
- Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trong
ngành công an ?
- Thực trạng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn NSNN trong ngành công
an Việt Nam? Những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân của hạn chế?
- Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng
vốn NSNN trong ngành công an Việt Nam thời gian tới?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn NSNN.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Phạm vi nội dung
Quản lý đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trong ngành công an cũng có nhiều
cách tiếp cận. Luận án tiếp cận dưới góc độ Kinh tế chính trị và theo chức năng quản
lý. Đó là:
Thứ nhất, xây dựng quy hoạch và kế hoạch đầu tư XDCB
Thứ hai, tổ chức thực hiện đầu tư XDCB
Thứ ba, kiểm tra, thanh tra đầu tư XDCB
3.2.2. Phạm vi không gian: quản lý đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trong ngành
công an
3.2.3. Phạm vi thời gian: luận án sử dụng số liệu thứ cấp từ năm 2010 đến năm

Thứ hai, hoàn thiện tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản . Giải pháp
này, luận án tập trung luận giải: (i) hoàn thiện quản lý thẩm định, phê duyệt dự án; (ii)
hoàn thiện quản lý thi công dự án xây dựng cơ bản; (iii) hoàn thiện thanh toán vốn
đầu tư; (iv) hoàn thiện quyết toán vốn đầu tư.
Thứ ba, tăng cường thanh tra, kiểm tra về thực hiện quản lý đầu tư xây dựng
cơ bản
Thứ tư, hoàn thiện bộ máy quản lý và nâng cao trình độ, năng lực và phẩm
chất của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Thứ năm, tăng cường cơ sở vật chất để thực hiện quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Thứ sáu, tăng cường sự phối hợp giữa các đơn vị liên quan đến quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản.
- Luận án cũng kiến nghị Chính phủ sớm sửa đổi quy định về xây dựng công
trình đặc thù, không để từng công trình bí mật nhà nước đều phải báo cáo Thủ tướng
Chính phủ quyết định việc đầu tư xây dựng.Thủ tướng Chính phủ chỉ quy định về danh
mục các dự án tuyệt mật, tối mật, quyết định chủ trương đầu tư các dự án nhóm A, giao


5
Bộ công an quy định danh mục các công trình mật. Đối với các dự án nhóm B và nhóm C
thuộc danh mục bí mật nhà nước, nên sửa đổi giao Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt chủ
trương đầu tư để rút ngắn thời gian, tăng hiệu quả đầu tư đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo
vệ an toàn xã hội trong mọi tình huống. Luận án cũng đề xuất cụ thể danh mục công trình
đặc thù trong ngành công an để thống nhất quản lý, thực hiện.
5. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các
công trình công bố kết quả nghiên cứu, phần phụ lục; phần nội dung chính của luận án
bao gồm 4 chương:
Chương 1.Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và
phương pháp nghiên cứu của luận án.
Chương 2. Những vấn đề lý luận về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn

đầu tư cho nên khác với sự ''sẵn có'' của nguồn lực tự nhiên (như đất đai). Tư bản được
''sản xuất'' ra từ việc sử dụng các nguồn lực, do đó nó đòi hỏi phải có sự hy sinh trong
tiêu dùng. Ngoài ra, David N. Weil (2005) cho rằng tư bản có ba đặc tính quan trọng: Tư
bản có ‘tính năng suất’, việc sử dụng nó sẽ giúp người lao động gia tăng sản lượng đầu
ra ;tư bản có tính cạnh tranh trong sử dụng; tư bản có tính hao mòn.
Scott (1976) cũng khẳng định đầu tư là ''chi phí của sự thay đổi'', nguồn gốc của
sự tăng trưởng và là sự hi sinh của tiêu dùng trong hiện tại để hướng nền kinh tế đi lên
thay vì để nó ở ‘trạng thái dừng’.
Trong thống kê quốc tế, thuật ngữ ''đầu tư'' được thể hiện qua chỉ tiêu ''tổng tích
lũy tài sản''. Ngoài ra, để tính toán giá trị vốn của một nền kinh tế tại một thời điểm nào
đó người ta cộng tất cả các đầu tư trước đó rồi trừ đi khấu hao. Hay, căn cứ vào giá cả


7
thị trường hiện tại của các tài sản vốn này để tính giá trị vốn của nền kinh tế tại một thời
điểm nào đó. Theo đó, tổng tích lũy tài sản (hay tổng tích lũy tư bản) của nền kinh tế tại
thời điểm t+1 sẽ bằng một phần (γ) của tổng đầu tư (It) chuyển thành tài sản trong giai
đoạn t cộng với toàn bộ giá trị tài sản sau khi đã trừ khấu hao tính đến thời điểm t; được
thể hiện qua phương trình sau: Kt+1 = γ It + (1 − δ)Kt. Dabla‐Norris và các cộng sự (2011,
Tr 236) đã nhấn mạnh ''thực tế ở hầu hết các quốc gia chỉ có một phần vốn đầu tư sẽ
chuyển thành tài sản''.
- Về đầu tư công và chi tiêu công.
Theo lý thuyết kinh tế học thì đầu tư công là việc đầu tư để tạo ra năng lực sản
xuất và cung ứng hàng hóa và dịch vụ công cộng (gọi tắt là hàng hóa công); chi tiêu
chính phủ là các khoản chi của chính phủ để cung ứng hàng hóa công (Seidman, 2009).
Theo quan niệm của hầu hết các nước trên thế giới, cũng như của các nhà nghiên
cứu trên thế giới như: Mankiw và cộng sự (1992); Khan and Kumar (1997) thì đầu tư
công là đầu tư bằng nguồn lực của Nhà nước vào kết cấu hạ tầng do trung ương, địa
phương và do các tập đoàn, công ty nhà nước thực hiện.
- Về đánh giá đầu tư công, chi tiêu công.

ra phương pháp thẩm định dự án đầu tư công và phân bổ tối ưu giữa các vùng nhằm
đạt được mục tiêu xã hội.
Những nghiên cứu về chi tiêu công trong những năm 1980-1990 tập trung vào
phân tích mối quan hệ giữa vốn khu vực công và năng suất trong khu vực tư (Aschauer
(1989a và 1989b),) hay mối quan hệ giữa đầu tư công với sự tăng trưởng kinh tế hoặc
chi tiêu công với sự tăng trưởng kinh tế, qua đó biết được được đầu tư công hay chi tiêu
công có đem lại hiệu quả hay không (Munnell (1992), Easterly and Rebelo (1993)). Hầu
hết các nghiên cứu này đều cho thấy mối quan hệ tương quan thuận có ý nghĩa giữa đầu
tư công hoặc chi tiêu công và sự tăng trưởng kinh tế. Một số nghiên cứu khác về mối
quan hệ giữa tổng chi tiêu chính phủ, cơ cấu chi tiêu chính phủ và tăng trưởng như
Devarajan và cộng sự (1996), và nghiên cứu của Ghosh & Gregoriou (2008). Với số liệu
thu thập được từ 43 nước, trong khoảng 20 năm nghiên cứu của Devarajan và cộng sự
(1996) đã chỉ ra sự gia tăng chi đầu tư có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế,
trong khi đó sự gia tăng chi thường xuyên lại có tác động tích cực.
Thứ hai, nghiên cứu về quản lý đầu tư công, quản lý nhà nước về vốn đầu tư
trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
Theo Stern (1991) quản lý và tổ chức có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng ở
các nước có nguồn vốn khan hiếm. Trong nghiên cứu của mình, Pritchett (2000) đã chỉ
ra rằng quản lý đầu tư công mà yếu kém thì tham nhũng sẽ luôn xuất hiện trong quá
trình đầu tư. Tương tự, nghiên cứu của Chakraborty and Dabla-Norris (2011) cho rằng
bộ máy quan liêu, yếu kém và tham nhũng cũng gây ảnh hưởng xấu đến cung cấp các
dịch vụ công cộng, do vậy làm giảm hiệu quả của nguồn vốn công, và có tác động xấu
đến tăng trưởng. Trong nghiên cứu của Rajaram và cộng sự (2010), các tác giả đã chỉ
ra nội dung trong quản lý đầu tư công bao gồm: xây dựng và sàng lọc bước đầu đối với
dự án đầu tư công; thẩm định dự án và đánh giá độc lập đối với thẩm định dự án đầu tư
công; lựa chọn và lập ngân sách dự án đầu tư công; triển khai, điều chỉnh dự án và thực


9
hiện vận hành dự án và cuối cùng là đánh giá và thực hiện kiểm toán đối với dự án đầu

sản xuất của các nghiên cứu nêu trên rất khác Việt Nam nên việc vận dụng các kết quả
nghiên cứu này sẽ chưa thực sự phù hợp điều kiện quản lý đầu tư XDCB bằng vốn
NSNN, nhất là trong BCA Việt Nam một số tài liệu tác giả nghiên cứu là tài liệu Mật
nên không được phép công bố.


10
Thứ ba, nghiên cứu về quản lý đầu tư XDCB bằng vốn NSNN theo các chức
năng cơ bản của quản lý.
Các nghiên cứu liên quan đến NSNN, sử dụng NSNN cho các mục đích khác
nhau đã được nghiên cứu bởi các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới, các lý thuyết về
NSNN nói chung và chi NSNN nói riêng đã dần hoàn thiện, điều đó đã góp phần hoàn
thiện cơ sở lý luận quan trọng cho quản lý NSNN tại các quốc gia trong hiện tại và
tương lai. Các lý thuyết về NSNN có những bước phát triển theo thời gian: từ phương
thức ngân sách theo khoản mục, phương thức ngân sách theo công việc thực hiện,
phương thức ngân sách theo chương trình cho đến phương thức ngân sách theo kết quả
đầu ra. Mỗi phương thức quản lý ngân sách có những ưu nhược điểm riêng nhưng nó
có xu hướng là ngày càng hoàn thiện qua quá trình quản lý thực tiễn ở các quốc gia
khác nhau. Martin và cộng sự (2010) đã so sánh và chỉ ra rất rõ sự tiến triển trong các
lý thuyết về ngân sách, tác giả đã khẳng định ưu thế của phương pháp quản lý ngân
sách theo kết quả đầu ra, ngân sách theo kết quả đầu ra trả lời câu hỏi mà các nhà quản
lý ngân sách luôn đặt ra đó là nên quyết định như thế nào để phân bổ X đôla cho hoạt
động A thay vì cho hoạt động B. Do đó, phương pháp quản lý ngân sách theo kết quả
đầu ra đang được nghiên cứu để ứng dụng rộng rãi trong quản lý chi tiêu sử dụng ngân
sách nhà nước tại các quốc gia hiện nay.
Liên quan đến quản lý đầu tư XDCB bằng vốn NSNN, các công trình nghiên cứu
ở nước ngoài đã tập trung vào một số hướng cơ bản sau:
Một là, về xây dựng quy hoạch và kế hoạch.
Trong quản lý đầu tư công nói chung và đầu tư XDCB nói riêng, trước tiên phải
nói đến quy hoạch, kế hoạch đầu tư. Các nghiên cứu của Rajaram, A. và cộng sự (2010)

công cộng từ thời xưa qua các thời kỳ đến nay. Tác giả làm rõ đặc trưng của sự phát
triển trong mua sắm và quản lý hệ thống xây dựng như công nghệ phần mềm với đấu
thầu, hợp đồng và quản lý xây dựng hiện đại ở Nhật Bản.
Với vấn đề vai trò và trách nhiệm của tư vấn quản lý trong xây dựng công
nghiệp Trung quốc, Tony Y.F.Ma (2003), đã chỉ vai trò và trách nhiệm của tư vấn
quản lý trong xây dựng công nghiệp Trung quốc: Bộ xây dựng đã ban hành một số văn
bản nhằm khuyến khích việc ngành công nghiệp áp dụng kỹ thuật – mua sắm- xây
dựng (EPC) hoặc thiết kế và xây dựng (DB), cách tiếp cận và thúc đẩy sự tham gia của
tư vấn quản lý dự án (PMC) để quản lý các dự án thay mặt cho khách hàng. Không
giống như các kỹ sư giám sát, PMC trực tiếp thay cho khách hàng kể từ khi thành lập
đến khi hoàn thành toàn bộ dự án.
Ba là, về kiểm tra, thanh tra thực hiện quản lý đầu tư XDCB bằng vốn NSNN
Kiểm tra, thanh tra thực hiện quản lý đầu tư XDCB là việc làm tất yếu trong
quy trình quản lý đầu tư XDCB. Thông qua kiểm tra, thanh tra có thể giúp nhà quản lý
đánh giá được các DA đầu tư XDCB, bởi lẽ, theo Hirschman (1958) các nhà hoạch
định có thể chủ quan lựa chọn các dự án đầu tư XDCB, là cho quá trình đầu tư XDCB
có thể bị thao túng.


12
Trên thực tế, một trong những nội dung quan trọng của chi tiêu ngân sách ở bất
cứ một quốc gia nào là chi cho đầu tư XDCB, nó có vai trò quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia, góp phần tạo điều kiện cho sự tăng
trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội. Các nhà nghiên cứu về đầu tư
công cũng đã chứng minh rằng, nếu quản lý đầu tư công không hiệu quả sẽ dẫn đến
tình trạng nợ xấu ở các quốc gia và do đó, các nhà hoạch định chính sách cũng như các
nhà nghiên cứu đã có những nghiên cứu về thực trạng đầu tư công, các định hướng và
giải pháp nhằm quản lý một cách tốt nhất các hạng mục đầu tư công. Chính vì vậy, nhà
nước có vai trò quan trọng trong việc quản lý các hạng mục đầu tư, đặc biệt là hạng
mục đầu tư XDCB. Đặc điểm của đầu tư XDCB mang những đặc điểm của đầu tư nói

Theo Luật Đầu tư công (2014, tr6), nguồn vốn chi cho đầu tư công bao gồm:
“nguồn vốn NSNN; nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, nguồn vốn trái phiếu chính chính
phủ, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước; nguồn vốn từ nguồn thu để lại cho
đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối NSNN, các khoản vốn vay khác để đầu tư, nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài”.
Khái niệm hàng hóa công cộng là hàng hóa phải thỏa mãn 2 đặc tính: không có
tính cạnh tranh và không có tính loại trừ (ví dụ: quốc phòng, đảm bảo an ninh, phòng
cháy chữa cháy,…). Tuy nhiên, theo Vũ Tuấn Anh và Nguyễn Quang Thái (2011), trên
thực tế chính phủ đảm nhận chức năng rộng hơn. Chính phủ không chỉ sản xuất và cung
ứng hàng hóa công mà còn sản xuất và cung ứng rất nhiều hàng hóa khác mà không hẳn
thỏa mãn 2 thuộc tính trên. Chẳng hạn, Chính phủ thông qua các doanh nghiệp Nhà
nước sản xuất các loại hàng hóa như: sắt thép, xi măng, tàu thủy, hóa chất, sách báo,
rượu bia, dịch vụ ngân hàng… Mặt khác, trong thực tế rất khó để phân biệt hàng hóa
nào là hàng hóa công cộng. Nhìn chung, theo quan niệm của hầu hết các nước trên thế
giới thì đầu tư công là những khoản đầu tư tập trung vào cơ sở vật chất hạ tầng do trung
ương, địa phương và các tập đoàn, công ty nhà nước thực hiện. Còn theo hội nghị quốc
tế về đầu tư công do Ngân hàng thế giới tổ chức tại Hà Nội (tháng 9 năm 2010) cũng
cho rằng đầu tư công là việc sử dụng nguồn vốn Nhà nước để đầu tư vào các công trình,
dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận và không có khả
năng thu hồi vốn hoặc thu hồi vốn chậm.
Như vậy, đầu tư nhằm mục đích kinh doanh doanh của các doanh nghiệp thuộc
sở hữu nhà nước không nằm trong đầu tư công. Vũ Tuấn Anh và Nguyễn Quang Thái
(2011, tr21) nhấn mạnh ‘không thể coi nó là đầu tư tư nhân, bởi vì đây là tài sản thuộc
sở hữu nhà nước’. Các ông cũng cho rằng khái niệm đầu tư công được hiểu theo nghĩa
này không làm đơn giản hơn cách phân loại và quản lý đầu tư của Nhà nước. Những
khái niệm như ‘đầu tư nhằm mục đích kinh doanh của các đơn vị thuộc khu vực nhà
nước’, khái niệm ‘đầu tư tư nhân’ và ‘đầu tư công’ sẽ cần phải được làm rõ và bổ sung
thêm. Do đó, quá trình phân loại thống kê trở nên phức tạp hơn. Vũ Tuấn Anh và
Nguyễn Quang Thái (2011) kết luận hiện tại ‘đầu tư công’ vẫn được quan niệm một
cách đơn giản hơn: đó là bao gồm tất cả các khoản đầu tư do chính phủ và các doanh

xuất hàng hóa tư gọi là đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, định nghĩa những hàng hóa nào là
hàng hóa công cộng vẫn đang còn tranh cãi. Theo đó, đầu tư công là đầu tư vào các
chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội không nhằm mục đích kinh
doanh. Còn lại những các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhằm
mục đích kinh doanh không phải là đầu tư công.
Tóm lại, khái niệm đầu tư công được hiểu theo cách thứ nhất (theo quan hệ sở
hữu vốn) trong nghiên cứu của Vũ Tuấn Anh (2010); Vũ Tuấn Anh và Nguyễn Quang


15
Thái (2011) là cách hiểu phổ biến của các nhà nghiên cứu kinh tế và của cả xã hội, đồng
thời cũng là đối tượng của chính sách đầu tư của Nhà nước hiện nay.
Ở nước ta, khái niệm đầu tư công được thống nhất theo luật đầu tư công, đầu tư
công là việc sử dụng nguồn vốn Nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội không nhằm mục đích kinh doanh.
- Về đánh giá đầu tư công, đầu tư XDCB.
Để đánh giá đầu tư công trong mối quan hệ với đầu tư tư nhân tại Việt Nam, tác
giả Tô Trung Thành (2011) đã sử dụng mô hình VECM (Vector Autoregressive Error
Correction Model) để ước lượng các hàm phản ứng với ba biến số (ở dạng logarit) là
đầu tư khu vực nhà nước, đầu tư khu vực tư nhân và GDP, nghiên cứu cho thấy hiện
tượng đầu tư công “lấn át” đầu tư tư nhân thể hiện rõ nét trong giai đoạn 1986-2010.
Trong nghiên cứu của Nguyễn Khắc Minh và cộng sự (2008), các tác giả đã sử
sụng phương pháp tiếp cận tham số và phương pháp tiếp cận phi tham số, kết quả các
tác giả đã luận giải và chỉ ra chi tiêu công kém hiệu quả qua các năm. Cũng nhằm mục
đích xem xét mối quan hệ giữa cơ cấu chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế Phạm Thế
Anh (2008) đã dùng số liệu thu thập được từ 61 tỉnh thành ở Việt Nam trong giai đoạn
2001-2005, và theo tác giả, chi đầu tư có tác động tích cực hơn so với chi thường xuyên
trong một số ngành.
Nghiên cứu của tác giả Cấn Quang Tuấn (2009), lựa chọn là thành phố Hà Nội,
tác giả cũng đưa ra những vấn đề lý luận chung về đầu tư XDCB, hiệu quả sử dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status