Luận văn thạc sỹ: Nâng cao chất lượng bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay - Pdf 27

LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát
từ yêu cầu phát sinh trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu.
Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ đúng nguyên tắc. Kết quả trình bày
trong luận văn thu thập được trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa được ai
công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Hòa Bình
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình viết luận văn, học viên đã được sự quan tâm, giúp đỡ của các
thầy cô giáo ở Học viện Hành chính, sự động viên và tạo điều kiện của bạn bè,
người thân trong gia đình. Học viên bày tỏ sự cảm ơn chân thành đối với sự quan
tâm, động viên, giúp đỡ đó.
Học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn khoa học
TS. Bùi Huy Khiên về sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo và những ý kiến đóng góp
quý báu để luận văn được hoàn thành đúng kế hoạch.
Sau cùng, học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cán bộ thuộc Bảo hiểm
xã hội Hà Nội, Viện Khoa học Bảo hiểm xã hội Việt Nam về những góp ý quý báu
về lý luận và thực tiễn cho luận văn, đặc biệt đã cung cấp các số liệu thống kê giúp
học viên có những thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu, góp phần quan
trọng cho việc nghiên cứu luận văn thành công.
Vì điều kiện thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn
hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được
những ý kiến đóng góp nhiệt tình để có thể hoàn thiện hơn nữa đề tài nhằm phục vụ
tốt hơn trong công tác thực tế cũng như những nghiên cứu khoa học sau này.
Tác giả
Nguyễn Hòa Bình

MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN

Đến nay, Luật Bảo hiểm xã hội đã được triển khai thực hiện hơn 6 năm và từng
bước đi vào đời sống xã hội, trở thành một công cụ pháp luật có hiệu quả, góp phần
điều tiết xã hội, phục vụ công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở nước ta. Đối tượng tham gia các loại hình BHXH tăng nhanh qua các năm. Nếu như
năm 2006 cả nước mới chỉ có hơn 6,7 triệu người tham gia BHXH bắt buộc thì đến
cuối năm 2011 số người tham gia đã tăng trên 10 triệu người. Trên địa bàn thành phố
Hà Nội, năm 2008 mới chỉ có 896.000 người tham gia BHXH bắt buộc thì đến cuối
năm 2011 số người tham gia là hơn 1,1 triệu người.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện, đặc biệt từ
thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội - trung tâm chính trị - kinh tế của cả nước,
BHXH bắt buộc hiện hành đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế cần được bổ sung, sửa
1
đổi cả về mặt nội dung luật và việc tổ chức thực hiện.
Trong hơn 6 năm thực hiện Luật BHXH, quyền và lợi ích chính đáng của
người lao động vẫn chưa được đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật; Một số
quy định liên quan đến việc đóng, hưởng các chế độ BHXH còn bộc lộ những bất
cập trong quá trình thực hiện; Quỹ hưu trí và tử tuất tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối
trong những năm tới; Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực BHXH còn
chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao; Việc quy định các chế tài để xử lý các hành vi vi
phạm Luật BHXH còn nhẹ, thiếu tính thuyết phục, một số nội dung không thống
nhất giữa các quy định của Luật BHXH và các văn bản quy phạm pháp luật khác.
Thực tế vẫn còn tình trạng một số cơ quan, đơn vị sử dụng lao động cố tình trốn
đóng, nợ đóng BHXH; Hoạt động tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách pháp
luật về BHXH còn chưa hiệu quả, mang nặng tính hình thức.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, nhất là giai đoạn 2011-2020,
chúng ta sẽ có những sự phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội mà đích đến là năm
2020, nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp, việc nghiên cứu đánh giá
BHXH bắt buộc hiện hành trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm thấy rõ những ưu
điểm cũng như những tồn tại, hạn chế để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng BHXH, phù hợp với giai đoạn phát triển mới của thủ đô có ý nghĩa rất quan

BHXH tháng 6 năm 2011
- Phạm Đình Thành, 65 năm chính sách bảo hiểm xã hội phát triển cùng đất
nước, tạp chí Bảo hiểm Xã hội, tháng 8 năm 2010
- Ban quản lý dự án TF058179, Đánh giá hệ thống chính sách BHXH, Bản tin
số 25- Viện Khoa học BHXH, năm 2010
Các công trình nghiên cứu trên đã tập trung vào phân tích vị trí, vai trò của
BHXH ở cả hai khía cạnh lý luận và thực tiễn, đồng thời đã đề xuất một số kiến
nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ, chính sách về BHXH bắt buộc hiện nay.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ đề cập tới từng lĩnh vực, từng chế
độ BHXH, chưa phân tích đầy đủ những khó khăn, vướng mắc của BHXH bắt buộc
hiện hành cả về nội dung những văn bản quy phạm pháp luật cũng như công tác tổ
3
chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của BHXH bắt buộc; thực
trạng BHXH bắt buộc ở Hà Nội hiện nay để thông qua đó đề xuất những giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng BHXH bắt buộc trong thời gian tới là việc làm cần thiết,
có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
Phân tích thực trạng chính sách BHXH bắt buộc, đánh giá những ưu điểm và
tồn tại, hạn chế của BHXH bắt buộc hiện nay ở Hà Nội, thông qua đó đề xuất
những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng BHXH bắt buộc ở Hà Nội
trong thời gian tới.
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của BHXH bắt buộc ở nước ta.
- Phân tích thực trạng chính sách BHXH bắt buộc trên địa bàn thủ đô Hà Nội
trong những năm gần đây.
- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng BHXH bắt buộc ở
Hà Nội trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

năm tiếp theo cho phù hợp với điều kiện thực tế ở Hà Nội và Việt Nam, đáp ứng
yêu cầu mới của phát triển kinh tế xã hội và hội nhập của đất nước.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của BHXH bắt buộc ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng BHXH bắt buộc ở Hà Nội hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng BHXH bắt
buộc ở Hà Nội trong thời gian tới.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
Ở VIỆT NAM

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Bảo hiểm xã hội ra đời trên cơ sở nền kinh tế hàng hoá phát triển và việc thuê
mướn nhân công trở nên phổ biến. Theo quan niệm trên thế giới thì BHXH là sự
đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp
phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở
hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người
lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Như vậy, BHXH là một
nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp. Nó thể hiện mối quan hệ giữa 3 bên: bên
tham gia, bên BHXH và bên được BHXH.
Ở Việt Nam, quá trình xây dựng và thực hiện chính sách BHXH là sự đổi mới
không ngừng cho phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
trong từng giai đoạn nhất định. Trong hoạt động BHXH, Nhà nước tiến hành xây
dựng nhiều chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện
nhằm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXH. Như vậy, Nhà
nước giữ vai trò quản lý về BHXH, bảo hộ cho quỹ BHXH mà không phải chi từ
ngân sách nhà nước (NSNN) cho lĩnh vực này. Mặt khác, chính sách BHXH là

Chế độ bảo hiểm xã hội là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quy
định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối
với người lao động. Nói cách khác, đó là hệ thống các quy định được pháp luật hóa
về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp BHXH cụ thể.
BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ sau:
- Chế độ trợ cấp ốm đau;
- Chế độ trợ cấp thai sản;
- Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN);
- Chế độ hưu trí;
7
- Chế độ tử tuất.
1.1.2. Các yếu tố cấu thành chất lượng BHXH
- Sự thoả mãn nhu cầu của đối tượng tham gia BHXH
Các quy định của chính sách, chế độ BHXH phải phù hợp điều kiện kinh tế
-xã hội từng thời kỳ, đảm bảo nguyên tắc công bằng trong việc đóng, hưởng BHXH
của các đối tượng tham gia. Phải đảm bảo mức độ hài lòng chung thông qua các yếu
tố như: khả năng tiếp cận dịch vụ, thủ tục và quy trình phải đơn giản, dế hiểu; ý
kiến của đối tượng tham gia phải được tôn trọng, đối xử thân thiện, vui vẻ; sự tín
nhiệm trong cung cấp dịch vụ.
- Quá trình cung cấp, thực hiện các chế độ BHXH
Ở đây liên quan đến trách nhiệm của các cơ quan BHXH trong công tác tổ
chức thực hiện chính sách BHXH đảm bảo việc thu, chi trả đúng và đủ. Thái độ,
trách nhiệm, tác phong, sự chuyên nghiệp của cán bộ, công chức BHXH; cơ sở vật
chất và điều kiện hỗ trợ hoạt động cung ứng dịch vụ BHXH; các nội dung về công
khai công vụ; thủ tục hành chính và quy trình xử lý các nghiệp vụ BHXH; thời gian
giải quyết; lệ phí; cơ chế giám sát, góp ý.
- Diện bao phủ đối tượng tham gia BHXH
Thể hiện ở số lượng người tham gia BHXH và ý thức của đối tượng tham gia
BHXH.
Ở nước ta, dân số chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, làm nông nghiệp, do

- Đội ngũ cán bộ, công chức
Năng lực, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức BHXH; sự thân thiện
tín nhiệm, lịch sự trong cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người được phục vụ
cũng được coi là những tiêu chí quan trọng đặc biệt trong tiến trình cải cách hành
chính chung của cả Ngành BHXH góp phần nâng cao chất lượng BHXH.
- Nhóm các nhân tố khác: Công bằng xã hội, bình đẳng xã hội, vai trò của
Nhà nước trong việc thực hiện công bằng xã hội, khả năng chống đỡ về tài chính
của quỹ BHXH
9
1.1.4. Những nguyên tắc của bảo hiểm xã hội
Khi thiết kế và thực hiện chính sách, chế độ BHXH cần quán triệt các nguyên
tắc sau:
- Nguyên tắc bảo đảm về mặt xã hội
BHXH là sự đảm bảo về mặt xã hội để người lao động có thể duy trì và ổn
định cuộc sống khi bị mất sức lao động tạm thời (ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động ) hoặc hết tuổi lao động (hưu trí).
Đây là nguyên tắc bảo đảm ý nghĩa và tính chất của bảo hiểm. Nó vừa mang giá
trị vật chất, vừa mang ý nghĩa xã hội. Mức bảo đảm về vật chất (theo các chế độ trợ cấp
của BHXH) là yếu tố quan trọng giải quyết khó khăn về đời sống cho người lao động
khi họ mất hoặc giảm thu nhập. Về mặt xã hội, theo nguyên tắc này, BHXH lấy số
đông bù cho số ít, lấy thời gian lao động thực tế có thu nhập để bù cho thời gian mất
sức lao động hay cao tuổi góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã
hội được phát triển và an toàn hơn.
- Nguyên tắc xác định đúng mức tối thiểu
Việc xác định đúng mức tối thiểu có liên quan đến việc thiết kế các chính sách
và nội dung của từng chế độ BHXH. Đó là mức đóng góp định kỳ (hàng tháng),
thời gian cần thiết tối thiểu để tham gia và được hưởng một chế độ BHXH cụ thể.
Nguyên tắc này liên quan trực tiếp đến việc tạo nguồn, xây dựng quỹ BHXH,
khuyến khích các đối tượng tham gia.
- Nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất và liên tục

quan đóng - hưởng trong chính sách BHXH nói chung. Nghiên cứu cơ sở sinh học
để qua đó đề ra các chính sách BHXH đúng đắn đối với người lao động ở các độ
tuổi khác nhau và giới tính khác nhau
- Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ:
Việc xây dựng mức đóng - hưởng các chế độ BHXH phải phù hợp với điều
kiện phát triển của kinh tế - xã hội của đất nước. Khi nền kinh tế phát triển, các
doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, có lãi và tích luỹ để tái sản xuất, thì doanh
nghiệp mới có điều kiện đóng đủ BHXH theo quy định. Theo kinh nghiệm các
11
nước, trình độ phát triển BHXH của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào trình độ
phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó. Một quốc gia có hệ thống BHXH phát
triển thì quốc gia đó phải có nền kinh tế phát triển, phải có GDP bình quân đầu
người tương đối cao. Nền kinh tế càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người
càng được nâng cao thì Nhà nước mới có điều kiện nâng mức đóng góp và mức
hưởng BHXH của người lao động và ngược lại. Đó là mối quan hệ có tính quy luật
phải được vận dụng vào việc xây dựng chính sách BHXH ở nước ta.
- Điều kiện lịch sử:
Đây là điều kiện mang tính phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Đối
với nước ta, chính sách BHXH từ khi thành lập nước đến nay đều mang tính lịch sử
và điều này được thể hiện rõ nét qua từng thời kỳ phát triển của đất nước. Khi xây
dựng hoặc sửa đổi, bổ sung chính sách BHXH Nhà nước ta đều căn cứ vào điều
kiện lịch sử cụ thể của từng thời kỳ, chế độ BHXH trong từng thời kỳ đã góp phần
phục vụ các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thời kỳ đó. Xây
dựng chính sách BHXH ở từng thời kỳ còn phải đảm bảo tính kế thừa, phát huy
những mặt tích cực, khắc phục những tồn tại, hạn chế để từng bước hoàn thiện
chính sách BHXH, phù hợp với điều kiện lịch sử của đất nước trong từng thời kỳ và
phù hợp với các thông lệ quốc tế.
1.1.6. Vai trò của chính sách BHXH trong hệ thống an sinh xã hội
Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã khẳng định: "Bảo
đảm an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

các phương tiện sinh sống tối thiểu trong những trường hợp người tham gia BHXH
gặp phải rủi ro.
Năm 1952, Tổ chức lao động quốc tế đã thông qua Công ước 102 về An sinh
xã hội. Đây là Công ước quốc tế có nội dung đầy đủ nhất, quy định những tiêu
chuẩn quốc tế về BHXH, mở ra một cơ cấu thống nhất và có sự phối hợp trong lĩnh
vực này giữa các thành viên của ILO.
Công ước 102 quy định 9 nhánh chế độ chính của hệ thống An sinh xã hội bao
gồm: Chăm sóc y tế; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp thai sản; trợ cấp tàn tật;
trợ cấp chôn cất và trợ cấp mất người nuôi dưỡng.
13
Công ước cũng quy định, một quốc gia được gọi là có hệ thống BHXH phải
thiết lập ít nhất 3 chế độ trợ cấp, trong đó ít nhất phải có một trong các chế độ trợ
cấp sau: trợ cấp tuổi già, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tai nạn lao động; trợ cấp tàn
tật; trợ cấp chôn cất và trợ cấp mất người nuôi dưỡng. Các chế độ trợ cấp phải đảm
bảo sự bình đẳng cho mọi thành viên trong xã hội, bình đẳng giữa người nước ngoài
và người trong nước. Nguồn tài chính chủ yếu cho chế độ trợ cấp do sự đóng góp
của các bên tham gia BHXH, Nhà nước có trách nhiệm quản lý chung về BHXH,
bảo đảm sự cân đối giữa các bộ phận trong BHXH. Việc quản lý BHXH phải có đại
diện của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước.
1.3. QÚA TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ
HỘI Ở NƯỚC TA
1.3.1. Chính sách BHXH giai đoạn trước năm 1961
Ngay sau khi giành được chính quyền (tháng 8/1945), Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa đã tiếp thu chính sách BHXH nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống
của công chức, viên chức nhà nước. Đặc điểm của giai đoạn này là các cơ quan
quản lý, sử dụng lao động đồng thời là cơ quan thực hiện các chế độ BHXH. Chính
sách BHXH được thể hiện thông qua các Sắc lệnh, như Sắc lệnh 29/SL ngày 12-3-
1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20-5-1950; Sắc lệnh 77/SL ngày 22-5-1950.
Những quy định về chế độ BHXH trong các sắc lệnh trên đây đã góp phần làm

tâm, phấn khởi lao động sản xuất, góp phần giải phóng và xây dựng đất nước. BHXH
cũng góp phần giải quyết hậu quả chiến tranh, hàng vạn cán bộ, công nhân, viên chức
bị suy giảm sức khỏe đã được hưởng chế độ BHXH, ổn định cuộc sống. BHXH đã
khẳng định và bảo vệ những quyền lợi thiết yếu đối với cán bộ, viên chức, quân nhân
trong suốt quá trình làm việc và nghỉ việc khi tuổi cao, sức yếu.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chính sách BHXH thời kỳ này cũng
còn bộc lộ một số tồn tại, yếu kém đặc biệt từ khi Nhà nước thực hiện công cuộc
đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Những tồn tại, yếu kém này bao gồm:
- Chỉ thực hiện chính sách BHXH đối với cán bộ, viên chức nhà nước và lực
15
lượng vũ trang (lực lượng này chỉ chiếm khoảng 10% lực lượng lao động) nên chưa
tạo ra sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi xã hội giữa những
người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau và chưa phù hợp với việc
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Người lao động làm việc trong
các khu vực kinh tế ngoài Nhà nước chưa được quan tâm đúng mức. Việc thực hiện
chính sách BHXH như vậy đã tạo ra sự ngăn cách trong việc dịch chuyển lao động
từ khu vực kinh tế nhà nước ra khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và ngược lại.
- Không quy định cụ thể mối quan hệ giữa đóng góp và thụ hưởng theo
nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm là "đóng - hưởng", do đó đã tạo gánh nặng quá lớn
cho ngân sách Nhà nước. Khi Ngân sách Nhà nước phải bao cấp quá nhiều dẫn đến
tình trạng Nhà nước chi trả BHXH cho người lao động không kịp thời, ảnh hưởng
không tốt đến đời sống của người thụ hưởng.
- Việc quản lý chính sách, chế độ BHXH bị phân tán, phần chi về BHXH có
bộ phận dư thừa không thể điều tiết sang bộ phận thiếu được. Quá trình quản lý
BHXH đan xen với các lĩnh vực ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội nên
việc giải quyết chế độ BHXH nhiều khi bị chồng chéo, kém hiệu quả. Hoạt động
của các tổ chức BHXH cứng nhắc, bị hành chính hóa, gây ra nhiều phiền hà cho
đơn vị sử dụng lao động và người lao động.
Để chính sách BHXH phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội và

mới vơi sự phát triển của nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Theo đó, người lao
động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau đều được bình đẳng trước các
chính sách xã hội trong đó có chính sách BHXH. Theo quy định, mọi người lao
động không phân biệt thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp và hưởng các
quyền lợi BHXH. Điều lệ mới đã tạo tâm lý yên tâm cho người lao động, tạo sự
bình đẳng cho mọi người lao động. Chính sách BHXH ở nước ta đã tuân thủ nguyên
tắc đóng - hưởng, quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, độc lập, tách ra
khỏi ngân sách nhà nước. Hệ thống các cơ quan BHXH được tổ chức theo ngành
dọc từ Trung ương đến tỉnh, thành phố và các quận, huyện; tách chức năng tổ chức
thực hiện BHXH ra khỏi chức năng quản lý nhà nước về BHXH. Đây là một thay
17
đổi lớn về chính sách và tổ chức thực hiện BHXH, đáp ứng được yêu cầu của công
cuộc cải cách kinh tế - xã hội ở nước ta.
1.3.4. Chính sách BHXH từ 2006 đến nay
Ngày 29 tháng 6 năm 2006, Luật Bảo hiểm xã hội đã được Quốc hội thông
qua và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2007. Luật BHXH ra đời đánh dấu bước phát
triển mới về chính sách BHXH, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước trong thời kỳ mở cửa, hội nhập, đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao
động, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện chính sách BHXH, hướng đến mục
tiêu BHXH cho mọi người lao động.
Để triển khai Luật BHXH, một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về
BHXH đã được ban hành, đó là: Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006
của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc; Nghị
định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19/4/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân,
công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân
nhân, công an nhân dân; Nghị định số 86/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính
phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trên đã được triển khai thực hiện, đảm
bảo quyền lợi cho người lao động khi tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH.

gian đã đóng BHXH (có sự liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện).
- Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được
sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của
BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.
- Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời
và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.
1.5. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
1.5.1. Đối tượng áp dụng
Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm người lao động và người sử
dụng lao động:
19
- Người lao động là công dân Việt nam, bao gồm: người làm việc theo hợp đồng
lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở
lên; cán bộ, công chức, viên chức; công nhân quốc phòng, công nhân công an; sĩ quan,
quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ
sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng
lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội
nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; người làm việc
có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc.
- Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: cơ quan nhà
nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ
chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp,
hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn,
sử dụng và trả công cho người lao động.
1.5.2. Quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội
Luật BHXH quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về BHXH. Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về BHXH. Các bộ,
cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý
nhà nước về BHXH. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status