Luận văn thạc sỹ: Nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Hưng Yên - Pdf 27

Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN

tạ thị quỳnh nga
nâng cao chất lợng đào tạo nghề
tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh hng yên
Hà nội, năm 2013
Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN

tạ thị quỳnh nga
nâng cao chất lợng đào tạo nghề
tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh hng yên
Chuyờn ngnh: Kinh t lao ng
Ngi hng dn khoa hc:
PGS.TS. TRN TH THU
Hà nội, năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Tạ Thị Quỳnh Nga
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tăắt Xin đọc làViêt đầy đủ
CĐN Cao đẳng nghề
CMKT Chuyên môn kỹ thuật
CNH-HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa
DN Doanh nghiệp
ĐTN Đào tạo nghề
GDTX Giáo dục thường xuyên
ILO Tổ chức lao động quốc tế

người lao động có những hiểu biết đồng bộ về chuyên môn nghiệp vụ, có những kỹ
năng kỹ xảo và kinh nghiệm cần thiết để thực hiện.
Khái niệm đào tạo nghề: quá trình phát triển có hệ thống những kiến thức và kỹ
năng mà mỗi cá nhân có để thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể nào đó.
Khái niệm chất lượng đào tạo nghề: chất lượng đào tạo nghề là đạt được mục
tiêu đào tạo và đáp ứng yêu cầu của khách hàng (chủ yếu là doanh nghiệp, người sử
dụng lao động).
Tiêu chí đo lường chất lượng ĐTN là: Kết quả học tập của người học; Sự
phù hợp công việc và ngành học; Có phẩm chất, thái độ lao động tốt.
Để đánh giá đúng thực trạng, tìm ra nguyên nhân, học viên cũng tìm hiểu các
yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐTN: Các yếu tố vĩ mô: tăng trưởng kinh tế,
thông tin về thị trường lao động việc làm, chính sách đào tạo nghề, nhận thức của
i
người dân về đào tạo nghề… Các yếu tố vi mô: Yếu tố đầu vào; Yếu tố thuộc quá
trình đào tạo: Nội dung chương trình, giáo trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, phương
pháp dạy học; tổ chức quản lý đào tạo; cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học; tài
chính cho đào tạo
Luận văn cũng giới thiệu một số kinh nghiệm ĐTN của tỉnh Đồng Nai và
Hải Dương, rút ra kinh nghiệm có thể áp dụng ở Hưng Yên để nâng cao chất lượng
đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề.
Chương 2 phân tích thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở dạy
nghề của tỉnh Hưng Yên như sau:
Hưng Yên là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, tiếp giáp với
các tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương, Hà Nội, là tỉnh có
nhiều lợi thế so sánh về vị trí địa lý, về con người và các tiềm năng phát triển khác.
Ở Hưng Yên có nhiều khu công nghiệp, khu đô thị đã, đang và sẽ được thành lập,
một mặt, tạo công ăn việc làm cho người dân, mặt khác đặt ra yêu cầu người lao
động cần nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Để có đất phục
vụ cho các dự án đầu tư, nhiều diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, khiến nhiều
nông dân mất đất, không có việc làm, cần phải được đào tạo. Đòi hỏi hệ thống đào

chưa có các điều kiện về ký túc xá, thư viện, phòng đọc cho giáo viên và học sinh
(05/40 trường đáp ứng đủ các điều kiện trên). Số cơ sở dạy nghề còn thiếu và rất
thiếu trang thiết bị phục vụ đào tạo nghề lên tới 10 cơ sở (20%) (09 cơ sở công lập
và 01 cơ sở ngoài công lập). Điều này gây khó khăn cho cả cơ sở đào tạo và người
học khi không bố trí đủ thời gian thực hành cho học viên, học viên ít được thao tác
trên máy dẫn đến không nắm chắc lý thuyết cũng như vững tay nghề thực hành.
Đội ngũ giáo viên:
Đến năm 2012 toàn tỉnh có 809 giáo viên dạy nghề ở các cấp trình độ. Mặc
dù số lượng giáo viên tăng 192 người (50,65%) nhưng nhìn chung chưa đáp ứng đủ
nhu cầu (theo quy đinh 15 học viên/1 giáo viên). Chất lượng giáo viên dạy nghề có
sự cải thiện đáng kể (73,14% giáo viên có trình độ đại học trở lên), tuy nhiên vẫn
còn hơn 20% giáo viên có trình độ cao đẳng và trình độ khác. Trình độ ngoại ngữ,
tin học của giáo viên dạy nghề tăng lên, nhưng chủ yếu là tăng từ trình độ A sang B.
Nội dung chương trình đào tạo:
Số lượng chương trình, giáo trình, học liệu trình độ sơ cấp nghề đã được phê
duyệt: khoảng 50 nghề theo hướng dẫn tại Thông tư: 31/2010/TT-BLĐTBXH.
Trong đó 15 nghề nông nghiệp và 35 nghề phi nông nghiệp. Tuy nhiên, không có
kinh phí sử dụng cho hoạt động phát triển chương trình, giáo trình học liệu dạy
iii
nghề nên việc triển khai thực hiện hoạt động này chủ yếu do các cơ sở dạy nghề tự
xây dựng, biên soạn theo hướng dẫn tại Thông tư: 31/2010/TT-BLĐTBXH. Bên
cạnh đó, sự không thống nhất về chương trình đào tạo trong cùng một nghề/nhóm
nghề giữa các cơ sở đào tạo dẫn đến mức độ kiến thức nghề nghiệp trong cùng một
nghề của học viên trong các cơ sở khác nhau. Các cơ sở xây dựng chương trình đào
tạo dựa trên những gì mà họ đã có nên chưa coi trọng đúng mức việc tham khảo ý
kiến doanh nghiệp khi soạn thảo chương trình đào tạo Đây chính là nguyên nhân
dẫn đến tình trạng chất lượng học viên khi tốt nghiệp chưa phù hợp với yêu cầu
thực tế của doanh nghiệp.
Tài chính cho đào tạo:
Ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương vẫn là nguồn tài chính chủ yếu

của tỉnh chưa thực hiện tốt công tác định hướng nghề cho người lao động.
Lý do chọn ngành học: Số người xác định từ đầu, học nghề xuất phát từ sự
yêu thích sau này sẽ làm công việc ấy rất ít. Chỉ có 17/108 người (chiếm gần 16%)
trả lời là thích công việc này nên chọn lựa từ đầu. Trong khi đó, có tới 81/108 người
– chiếm 75% cho rằng họ chọn nghề đó để học là vì họ kỳ vọng tương lai tốt đẹp
sau khi ra trường, còn lại cho rằng do hoàn cảnh gia đình và do không có sự lựa
chọn nào khác. Một ngành học được lựa chọn không xuất phát từ sự yêu thích mà
do hoàn cảnh khách quan tác động rất lớn đến kết quả học tập nói riêng và chất
lượng đào tạo nghề nói chung.
Lý do chọn công việc hiện tại: trong 108 người được hỏi lý do làm công việc
hiện tại thì có gần 41% trả lời là do không tìm được việc làm phù hợp. Một lý do
tương tự như vậy cũng chiếm được nhiều người chọn là do doanh nghiệp thiếu
người nên tuyển cả người không đúng chuyên ngành (gần 42% - 45/108 người) còn
lại là do bị điều chuyển trong công việc. Với tỷ lệ cao về lý do chọn công việc hiện
tại do không tìm được việc phù hợp, nên khi được hỏi về mức độ phù hợp với công
việc hiện tại, có 31 người (28,7%) cho rằng rất phù hợp với công việc hiện tại, còn
lại 61 người và 16 người (tương đương 56% và 16%) cho rằng phù hợp và không
phù hợp với công việc hiện tại. Khi được hỏi quan điểm về công việc hiện tại, kết
quả là có 57/108 cho biết họ không hề gặp khó khăn khi thực hiện công việc,
14/108 người (chiếm gần 13%) cho rằng họ cần phải được đào tạo lại. Tuy vậy, gần
một nửa số người được hỏi (bảng 2.23) cho biết họ muốn kiếm một việc khác phù
hợp hơn (khoảng 49%). Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do đa số người lao
động không kiếm được việc làm sau đào tạo, họ thường phải làm trái ngành nghề do
phải kiếm tiền đáp ứng nhu cầu cuộc sống sinh ra tâm lý chán nản vì bản thân
v
không thực sự yêu thích công việc. Việc này sẽ dẫn đến hậu quả là người lao động
« nhảy » việc thường xuyên, gây lãng phí, tốn kém trong quá trình tuyển dụng, đào
tạo của doanh nghiệp. Đây cũng là một hạn chế nữa của chất lượng đào tạo nghề
của Tỉnh.
Việc làm sau tốt nghiệp: Theo điều tra, có 38 người trong số 108 người phản

thấy, hệ thống đào tạo nghề của tỉnh đã đạt được mục tiêu đề ra về quy mô và mạng
lưới đào tạo đến năm 2010 và giai đoạn 2011 – 2015. Quy mô đào tạo nghề không
ngừng tăng lên, nhiều ngành nghề mới được đào tạo với hình thức đào tạo đa dạng.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở đào
tạo nghề còn nhiều yếu kém, mặc dù quy mô đào tạo tăng, nhưng đó là về số lượng,
còn về chiều sâu của đào tạo, tức chất lượng của học sinh sau khi ra trường chưa đạt
yêu cầu. Tỷ lệ học sinh tìm được việc làm còn thấp. Chính vì vậy, khiến nhiều học
sinh phải làm việc trái với ngành nghề mình được đào tạo. Kỹ năng thực hành của
người học chưa được thuần thục, kiến thức của người học chưa gắn với thực tiễn do
vậy người lao động chưa được doanh nghiệp đánh giá cao.
Nguyên nhân chính dẫn tới những hạn chế nêu trên do : nhận thức chưa đúng
về đào tạo nghề ; Cơ chế chính sách liên quan đến đào tạo nghề chưa hoàn thiện,
các chính sách đã ban hành nhưng thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể như chính sách
sử dụng học viên sau đào tạo; chính sách ưu đãi tài chính và đất đai cho việc xây
dựng cơ sở dạy nghề; Các cơ sở đào tạo nghề của tỉnh chưa nắm được thông tin
chính xác về nhu cầu học nghề, việc làm của tỉnh dẫn đến thiết kế ngành học,
chương trình đào tạo đều dựa vào những gì cơ sở đã có sẵn; Cơ cấu ngành nghề đào
tạo vẫn chủ yếu tập trung ở các nhóm ngành kỹ thuật công nghiệp (điện tử, tin học
văn phòng, cơ khí ), ngành chế tạo, kinh doanh và quản lý, các nhóm ngành kỹ
thuật nông nghiệp chưa được chú trọng đào tạo, rất ít cơ sở đào tạo ngành này ;
Chương trình, giáo trình giảng dạy chưa có sự thống giữa các cơ sở đào tạo nghề
dẫn đến tình trạng chênh lệch về trình độ cũng như kỹ năng của học viên sau quá
trình đào tạo, điều này dẫn đến chất lượng lao động không đồng đều, nhiều cơ sở
đào tạo nghề xây dựng chương trình đào tạo không căn cứ vào thực tiễn sản xuất,
mà xây dựng dựa trên những gì cơ sở sẵn có, nội dung giảng dạy nhiều lý thuyết, do
thiếu thốn cơ sở vật chất, trang thiết bị cho thực hành; Đội ngũ giáo viên dạy nghề
tại một số cơ sở vẫn còn thiếu về số lượng, mặt khác chất lượng của một số giáo
viên dạy nghề còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu (về mặt trình độ tay nghề
cũng như chuyên môn sư phạm) để đào tạo những nghề mới với công nghệ và kỹ
vii

viii
Tăng cường bổ sung đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng cho đội ngũ giáo
viên : Cần rà soát, đánh giá, phân loại đội ngũ giáo viên tại cơ sở, xây dựng danh
sách những giáo viên cần bồi dưỡng nâng cao trình độ, hay sàng lọc, hay tuyển mới
giáo viên. Đối với giáo viên đã tuyển dụng, bồi dưỡng trình độ cho giáo viên có thể
thực hiện theo 3 hình thức : bồi dưỡng cho chuẩn hóa cho giáo viên chưa đạt chuẩn,
bồi dưỡng thường xuyên cho tất cả giáo viên, bồi dưỡng nâng cao cho một bộ phận
giáo viên. Đối với giáo viên tuyển mới, nên đưa thêm tiêu chuẩn đã có kinh nghiệm
làm việc tại doanh nghiệp trước khi tuyển dụng
Nâng cao tài chính cho đào tạo : Thu hút, kêu gọi vốn từ các tổ chức, cá nhân,
doanh nghiệp bằng cách liên kết trong đào tạo ; tạo nguồn vốn ngắn hạn bằng cách ký
kết với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động để đào tạo lao động trong thời gian ngắn.
Đổi mới nội dung chương trình, giáo trình đào tạo, phương pháp dạy học gắn
với thực tế. Xây dựng chương trình đào tạo theo 3 cấp trình độ, kịp thời đổi mới,
cập nhật nội dung đào tạo đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Thiết kế các
chương trình, khóa học dựa trên năng lực thực hiện của học sinh sinh viên; Rà soát
và tập trung chỉnh sửa, đổi mới các giáo trình đã lạc hậu và xây dựng chương trình
giáo trình mới cho các nhóm ngành nghề đào tạo mũi nhọn; Tiến hành xây dựng
chương trình giáo trình theo phương pháp xây dựng các môdun đào tạo độc lập;
Mời chủ sử dụng lao động tham gia xây dựng chương trình đào tạo nghề.
Các cơ sở đào tạo cần mở rộng mối quan hệ với các doanh nghiệp và cơ sở sản
xuất, kinh doanh. Việc liên kết có thể thực hiện ở nội dung cập nhật chương trình
đào tạo; Liên kết trong sử dụng thiết bị, tổ chức thực tập, thực hành; Liên kết trong
kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo ; Liên kết trong chi phí đào tạo
Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề thông qua hoạt động của các
cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề
Các biện pháp thực hiện là : rà soát thống kê năng lực đào tạo tại các cơ sở đào
tạo nghề của tỉnh, nắm rõ thực trạng hoạt động, những bức xúc cần tháo gỡ, nhu cầu
của cơ sở đào tạo ; Bổ sung sửa đổi và hoàn thiện các chính sách có liên quan đến
đào tạo nghề ; Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước

động ngày càng phải có năng lực, phải được đào tạo ở các cấp trình độ lành nghề
nhất định. Kinh nghiệm của các nước phát triển chỉ rõcho thấy: nNguồn nhân lực
được đào tạo có chất lượng sẽ là sức mạnh tổng hợp tăng cường và năng lực cạnh
tranh của quốc gia trong tiến trình hội nhập.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2011 cho thấy, tỷ trọng lao động đã
qua đào tạo ở nước ta vẫn còn thấp. Trong tổng số hơn 50,35 triệu người từ 15 tuổi
trở lên đang làm việc của cả nước, chỉ có gần 7,8 triệu người đã qua đào tạo, chiếm
15,4%, như vậy còn 85,6% lao động chưa qua đào tạo. Con số này đặt ra yêu cầu
cần nâng cao chất lượng nguồn lao động phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH và hội
nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Để đạt mục tiêu đó, Đảng và Nhà nước đã và đang
có rất nhiều chủ trương chính sách. Xuất phát từ chủ trương chính sách đó, Đảng ủy
– Uỷ ban nhân dân tỉnh Hưng Yên đã và đang dành sự quan tâm đặc biệt công tác
đào tạo nghề cho người lao động trên địa bàn tỉnh.
Hưng Yên là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng đang trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa. Thực hiện mục tiêu phát triển
kinh tế đến năm 2020, phấn đấu trở thành tỉnh có tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ là
chủ yếu (nông nghiệp giảm còn 10,5% - 11,2%), xây dựng thành phố Hưng Yên trở
thành đô thị loại II., Ttrong những năm qua, tỉnh đã triển khai nhiều dự án phát triển
kinh tế xã hội: chỉnh trang đô thị, mở rộng hạ tầng giao thông, xây dựng khu dân
cư, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, điều đó giúp Hưng Yên đạt được những
thành công nhất định trong việc thu hút các nguồn đầu tư trong nước và nước ngoài.
Với lợi thế ngày càng thu hút nhiều dự án đầu tư, cùng với đó là yêu cầu chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực cầnàn đòi hỏi nguồnngày càng cao nhân lực
có trình độ cao. Trong khi đó, lực lượng lao động Hưng Yên dồi dào nhưng phần
lớn là lao động phổ thông, trình độ học vấn chủ yếu là tốt nghiệp THCS trở lên.
Trong nhóm lao động đã qua đào tạo chủ yếu vẫn là CNKT không có bằng, chứng
1
chỉ (39,3%). Tỷ lệ lao động được đào tạo dài hạn, có trình độ trung cấp cao đẳng,
đại học của lực lượng lao động còn thấp khoảng 10% thấp hơn trung bình chung
của vùng Đồng bằng sông Hồng và thấp hơn rất nhiều tỉnh khác trong khu vực. Mặt

Xuất phát từ thực tiễn đó, học viên chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đào tạo
nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Hưng Yên” làm luận văn thạc sĩ nhằm góp
phần làm rõ hơn về mặt lý thuyết và đáp ứng yêu cầu thực tế về đổi mới, nâng cao
chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề trong tỉnh.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đào tạo nghề là vấn đề có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn
nhân lực của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Cho đến nay, đã có nhiều công
trình nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều hình thức khác nhau, những công trình
này khá phong phú và có tính hệ thống. Có thể kể đến một số công trình như:
- Báo cáo dạy nghề Việt Nam năm 2011 của Tồng cục dạy nghề - bộ Lao động
Thương binh xã hội. Đây là báo cáo đầu tiên về đào tạo nghề ở Việt Nam, nó cung
2
cấp các số liệu thực tế về tình hình đào tạo nghề hiện nay của quốc gia. Qua phân
tích, báo cáo đã chỉ ra một số đặc điểm chính về thực trạng đào tạo nghề của nước ta:
+ Cơ chế, chính sách về dạy nghề tương đối đồng bộ, thống nhất, nhưng chưa
đủ mạnh để nâng cao chất lượng dạy nghề.
+ Mạng lưới cơ sở dạy nghề rộng khắp, đa dạng nhưng chưa đồng đều giữa
các loại hình, và vùng miền.
+ Đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề phát triển nhanh, chất lượng có cải thiện
nhưng kỹ năng quản lý còn hạn chế.
+ Đội ngũ giáo viên dạy nghề phát triển nhanh, chất lượng có cải thiện nhưng
chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo.
+ Quy mô tuyển sinh học nghề tăng, nhóm nghề đa dạng, nhưng tỷ lệ phân
luồng vào học nghề vẫn rất thấp.
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề đã được tăng cường, nhưng còn nhiều
bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao chất lượng dạy và học nghề.
- Luận văn thạc sỹ: Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam của
tác giả Bùi Đức Tùng – Trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội năm
2010 đã đưa ra cái nhìn tổng quan và đầy đủ về quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy
nghề ở Việt Nam hiện nay, những việc đã làm được, đặc biệt những thiếu sót trong

nghề của tỉnh: số trường dạy nghề, đội ngũ giáo viên, trang thiết bị, cơ sở vật chất…
Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 2009 đến nay, chưa có một nghiên cứu
chuyên sâu nào về chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở đào tạo nghề của tỉnh. Do
vậy, đề tài “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Hưng
Yên” nhằm khắc phục khoảng trống đã nêulà một đề tài mới. Trong quá trình thực
hiện đề tài, học viên có tham khảo, kế thừa và chọn lọc thành tựu của những nghiên
cứu đã có, đặc biệt là luận văn thạc sỹ “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ
sở dạy nghề của tỉnh Hải Dương” của tác giả Nghiêm Thị Ngọc Bích. Học viên đã
tham khảo nghiên cứu của tác giả về một số cơ sở lý luận liên quan đến đào tạo
nghề và chất lượng đào tạo nghề. Bên cạnh đó, học viên cũng tiến hành khảo sát
những vấn đề mới nảy sinh trong công tác đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của
tỉnh, từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở
dạy nghề của tỉnh trong thời gian tới.
4
3. Mục tiêu nghiên cứu:
* Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở
dạy nghề của tỉnh Hưng Yên, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết những
vấn đề phát sinh trong tạo việc làm tại địa phương.
* Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về đào tạo nghề như: khái niệm đào tạo
nghề, chất lượng đào tạo nghề, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, các chỉ tiêu đánh
giá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề.
- Đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề của các cơ sở dạy nghề của
Hưng Yên trong thời gian qua.
- Phân tích những thành tựu và hạn chế trong chất lượng đào tạo nghề tại các
cơ sở dạy nghề của tỉnh Hưng Yên
- Tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở
dạy nghề của tỉnh Hưng Yên.

đào tạo…).
+; Thông tin về đào tạo nghề của tỉnh Hưng Yên (hệ thống đào tạo nghề, kết
quả đào tạo nghề trong những năm qua…)
- Thông tin sơ cấp:
+ Thông tin thu thập được thông qua phát phiếu điều tra đến các đối tượng lao
động là những người lao động đã tham gia học tập tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh,
những đánh giá và mong muốn của họ, và các doanh nghiệp có tuyển lao động đã
qua đào tạo trong tỉnh.
Cuộc khảo sát được thực hiện vào đầu tháng 9-2013 tại tỉnh Hưng Yên.
Những người được hỏi được lựa chọn trong số những người được đào tạo tại các cơ
sở đào tạo nghề của Tỉnh, chủ yếu tập trung ở khu vực thành phố Hưng Yên, Khu
công nghiệp Phố Nối A, và khu công nghiệp Phố Nối B, chủ yếu là những người
đang ở độ tuổi lao động. Số phiếu phát ra là 120 phiếu, số phiếu thu về là 111 phiếu,
số phiếu không hợp lệ là 3 phiếu, còn lại 108 phiếu có thể sử dụng được, đạt tỷ lệ
phản hồi là 90%. Quy trình thực hiện việc điều tra như sau:
6
Người thực hiện đề tài gửi email có đính kèm phiếu điều tra doanh nghiệp cho
người 13 doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh, chủ yếu nằm ở khu công nghiệp Phố nối A
và B (danh sách các doanh nghiệp và sự phân bổ số phiếu được đính kèm ở phụ lục
4). Các doanh nghiệp này thuộc các ngành nghề sản xuất kinh doanh khác nhau, và
được lựa chọn dựa trên những tiêu chí như có quy mô trên 10 lao động, có sử dụng
lao động được đào tạo tại các cơ sở đào tạo nghề của Tỉnh (dựa trên thông tin từ sở
lao động thương binh và xã hội của Tỉnh). Sau đó, nhờ đại diện của chính doanh
nghiệp này (trưởng/ phó phòng tổ chức của doanh nghiệp) gửi những phiếu điều tra
cá nhân đến tay những người lao động. Những người được hỏi cũng được doanh
nghiệp cho biết là có được đào tạo tại các cơ sở đào tạo nghề của Tỉnh, và hiện còn
đang làm việc tại doanh nghiệp (dựa trên thông tin lưu trữ lại phòng quản trị nhân lực
của doanh nghiệp). Cả 13 doanh nghiệp đều có phản hồi trở lại, đạt tỷ lệ phản hồi
100%. Cuộc khảo sát được thực hiện vào khoảng cuối tháng 9-2013 tại tỉnh Hưng
Yên. Những người được hỏi được lựa chọn trong số những người được đào tạo tại

13 Công ty TNHH Thép Việt Ý 15
Tổng số

120

+ Xử lý thông tin thu thập được bằng phương pháp thống kê toán học, sử
dụng file excel để tính, và xem xét đánh giá kết quả nghiên cứu về mặt định lượng
thông qua tính toán các tỷ lệ % tương ứng.
6. Đóng góp của luận văn:
* Về lý luận:
Trình bày một cách hệ thống lý luận về ĐTN
Phân tích các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo nghề.
Tổng hợp kinh nghiệm đào tạo tỉnh Hải Dương và Đồng Nai, đưa ra bài học
kinh nghiệm cho tỉnh Hưng Yên
* Về thực tiễn:
Phân tích và chỉ rõ thực trạng quy mô, cơ cấu và chất lượng ĐTN tại các cơ sở
dạy nghề của tỉnh Hưng Yên, qua đó việc cải thiện, nâng cao chất lượng ĐTN là hết
sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội (KTXH) của tỉnh và cải thiện
chất lượng NNL của địa phương.
Đề xuất một số giải pháp mang tính thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng
ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh.
7. Kết cấu của luận văn:
Tên luận văn: “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của
tỉnh Hưng Yên”.
8

Trích đoạn Giỏo trỡnh Kinh tế nguồn nhõn lực, NXB đại học Kinh tế quốc dõn, PGS.TS Trần Xuõn Cầu, 2012, trang Giỏo trỡnh Quản trị nhõn lực II, NXB Lao động – Xó hội, PGS.TS Lờ Thanh Hà, 2009, trang Phẩm chất, thỏi độ lao động của học sinh nghề: Cỏc tồn tại chớnh và nguyờn nhõn Mục tiờu phỏt triển dạy nghề của tỉnh Hưng Yờn đến năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status