TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THỊ TUYÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Quản trị nhân lực
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS TRẦN XUÂN CẦU
HÀ NỘI, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Tuyên
Biểu đồ 2.1:
Số lượng dự án đầu tư tại các KCN tỉnh Hưng Yên từ năm 2010 - 2014
...........................................................Error: Reference source not found
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THỊ TUYÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Quản trị nhân lực
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
i
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Ở Việt Nam hiện nay, nhìn chung các KCN đang ở giai đoạn đầu của quá trình
phát triển với trình độ thấp. Hầu hết các dự án đầu tư vào các KCN sử dụng công
nghệ thấp, thâm dụng lao động, với mục đích chủ yếu là khai thác lợi thế nhân công
giá rẻ. Vì thế, đã đến lúc các KCN Việt Nam cẩn phải bứt phát khỏi tình trạng gia
công, lắp ráp, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh thấp, dựa vào nhân công giá rẻ
để chuyển hướng sang phát triển dựa trên nhân lực có kiến thức và kỹ năng để tạo ra
giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cao hơn. Trước yêu cầu đó, nâng cao chất
NHÂN LỰC TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
Trong chương 1, tác giả đã làm rõ các nội dung về Khái niệm chất lượng
nguồn nhân lực, các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, phân tích các
nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của các Khu công nghiệp
và tìm hiểu kinh nghiệm của một số địa phương về nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực trong các Khu công nghiệp.
1.1. Các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh những thuộc tính, đặc trưng cơ bản của
các yếu tố cấu thành năng lực lao động của mỗi con người cụ thể được biểu hiện ở
tình trạng sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, phẩm chất đạo
đức, tâm lý, ý thức sáng tạo, mức độ cố gắng, lòng đam mê…của người lao động.
Có thể đánh giá chất lượng nguồn nhân lực tại các KCN theo các chỉ tiêu sau:
-
Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe – thể lực:
Để đánh giá tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực, người ta thường căn cứ
vào các chỉ tiêu sau:
+ Chỉ tiêu phản ánh chiều cao, cân nặng trung bình của nhân lực
+ Chỉ tiêu phân loại sức khỏe
+ Chỉ tiêu nhân lực suy giảm khả năng lao động:
Sức khỏe, thể lực của người lao động không những là một chỉ tiêu chung, cần
thiết cho tất cả lao động, mà tùy thuộc vào những hoạt động đặc thù của từng loại
nghề nghiệp, công việc mà có thêm những yêu cầu tiêu chuẩn riêng về sức khỏe. Vì
vậy, việc xây dựng chỉ tiêu phản ánh về sức khỏe, thể lực của lao động cần xuất
iii
phát từ tính đặc thù, từ yêu cầu cụ thể của từng hoạt động lao động, từng loại nghề
chúng phải lưu ý các vấn đề sau:
(i) Cần so sánh các chỉ tiêu phản ánh chất lượng nguồn nhân lực trong các
KCN với tiêu chuẩn, định mức hoặc các điều kiện đảm bảo chất lượng.
(ii) Cần xét đến chất lượng nguồn nhân lực của các đối tượng có liên quan.
(ii) Cần xét chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN thay đổi
iv
theo thời gian.
1.2. Các nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của
các KCN
Chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp trong các KCN phụ thuộc vào
2 nhân tố chính là nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.Việc tìm hiểu
và nắm rõ sự ảnh hưởng của các nhân tố sẽ giúp doanh nghiệp trong các KCN nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp mình cũng như của KCN.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG CÁC KCN TỈNH HƯNG YÊN
Trong chương 2, tác giả đã giới thiệu đặc điểm nguồn nhân lực của các KCN
tỉnh Hưng Yên, tập trung vào 4 KCN đã đi vào hoạt động là KCN Phố Nối A, KCN Dệt
may Phố Nối, KCN Thăng Long IIvà KCN Minh Đức . Sau khi tìm hiểu, đánh giá thực
trạng chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN tỉnh Hưng Yên, tác giả sẽ phân tích
các nguyên nhân dẫn đến hạn chế và đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục
những hạn chế đó, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN
tỉnh Hưng Yên.
2.1. Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tại các KCN của tỉnh
Hưng Yên
Tác giả thực hiện đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tại các KCN
của tỉnh Hưng Yên trên 5 mặt sau:
vùng. Để khắc phục những hạn chế này, tác giả đã phân tích các nguyên nhân dẫn đến
những hạn chế đó.
2.2. Nguyên nhân của những hạn chế chất lượng nguồn nhân lực trong
các KCN tỉnh Hưng Yên
Tác giả đã nêu ra các nguyên nhân từ phía Nhà nước và môi trường vĩ mô
như: các cơ sở đào tạo hoạt động chưa theo kịp yêu cầu của doanh nghiệp; Thị
trường lao động còn chưa phát triển tốt; Quy hoạch phát triển các KCN chưa gắn
liền với quy hoạch phát triển nhân lực trong các KCN.
Các nguyên nhân từ phía doanh nghiệp và người lao động như: Chất lượng
được tuyển dụng vào các KCN thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp; Việc
thực hiện chính sách thù lao, đãi ngộ, tạo động lực và sử dụng nhân lực của doanh
vi
nghiệp trong các KCN còn hạn chế, bất cập; Môi trường làm việc của nhân lực trong
doanh nghiệp nhiều khó khăn; Điều kiện sống của người lao động chưa đảm bảo.
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN
NHÂN LỰC TRONG CÁC KCN TỈNH HƯNG YÊN
Sau khi phân tích thực trạng và các nguyên nhân gây ra thực trạng hạn chế yếu
kém đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực trong các KCN tỉnh Hưng Yên như sau:
- Thúc đẩy phát triển hệ thống đào tạo nghề theo định hướng cầu của doanh
nghiệp: Mạng lưới các cơ sở dạy nghề ở tỉnh Hưng Yên hiện nay còn nhiều hạn chế,
bất cập. Số cơ sở dạy nghề dù nhiều nhưng hầu hết là quy mô quá nhỏ, trang thiết bị
dạy học còn lạc hậu, hoạt động còn nhỏ lẻ nên năng lực đào tạo còn hạn chế cả về
quy mô và chất lượng. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu phát triển ngành công nghiệp của
tỉnh nói chung và các KCN tỉnh Hưng Yên nói riêng thì việc quy hoạch, sắp xếp lại
các cơ sở dạy nghề là hết sức cần thiết. Mặc khác, cũng cần có chính sách khuyến
khích người lao động tham gia học nghề.
các KCN ở tỉnh Hưng Yên từ nay đến năm 2020, cần thực hiện đồng bộ hai nhóm
giải pháp lớn với nhiều giải pháp cụ thể cả về phía môi trường vĩ mô và về phía
doanh nghiệp cũng như người lao động trong các doanh nghiệp.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THỊ TUYÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Quản trị nhân lực
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS TRẦN XUÂN CẦU
HÀ NỘI, NĂM 2015
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mỗi quốc gia để phát triển bao giờ cũng phải có các nguồn lực cho sự phát
triển. Trong bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào, trình độ và tính chất phát triển ra
sao thì các nguồn lực cho sự phát triển vẫn là tư liệu sản xuất (đất đai, tài nguyên,
máy móc thiết bị, công nghệ, tài chính...) và sức lao động (nguồn nhân lực và rộng
ra là nguồn vốn con người, vốn xã hội, vốn thể chế...). Trong đó, sức lao động nguồn nhân lực - con người là yếu tố động nhất, nguồn gốc của mọi của cải vật chất
gần đây vừa khan hiếm, vừa chất lượng thấp, nên nhiều doanh nghiệp phải tổ
chức đào tạo lại mới sử dụng được, tình trạng thiếu hụt và biến động lao động,
nhất là động ngũ công nhân kỹ thuật đang diễn ra phổ biến ở hầu hết các doanh
nghiệp trong KCN.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên đây, việc phân tích và đánh giá thực
trạng chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN để làm căn cứ cho việc đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại các KCN tỉnh Hưng Yên
trong thời gian tới là yêu cầu cấp thiết đặt ra. Chính vì thế, học viên đã chọn đề tài
“Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN tỉnh Hưng Yên” để làm
luận văn thạc sỹ.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong
các KCN tỉnh Hưng Yên, đề xuất giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực tại các KCN tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện các mục tiêu nói trên, luận văn sẽ thực
hiện những nhiệm vụ sau:
+ Xây dựng cơ sở lý thuyết cho việc đánh giá chất lượng nguồn nhân lực tại
các KCN.
+ Phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tại các KCN tỉnh Hưng Yên
trên cơ sở lý thuyết đã xây dựng.
+ Làm rõ những hạn chế của chất lượng nguồn nhân lực tại các KCN tỉnh
Hưng Yên và nguyên nhân của nó.
+ Đề xuất giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
3
tại các KCN tỉnh Hưng Yên đến năm 2020.
4
trong đó có 8 doanh nghiệp trong nước và 12 doanh nghiệp FDI thuộc 4 KCN là Phố
Nối A, KCN Dệt may Phố Nối, KCN Thăng Long II và KCN Minh Đức. Với mỗi
doanh nghiệp được điều tra, người viết sẽ khảo sát trưởng phòng nhân sự và điều tra
chọn mẫu 10 lao động sản xuất trực tiếp tại các doanh nghiệp đó.
5. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong xu thế hội nhập và tiếp cận kinh tế tri thức, nhân lực hay nguồn lực con
người ngày càng đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển
kinh kế ở cả 3 cấp độ phạm vi: quốc gia, ngành và doanh nghiệp. Do đó, vấn đề nhân
lực, đặc biệt là khía cạnh chất lượng nguồn nhân lực đã và đang thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của không ít các nhà khoa học trong và ngoài nước ở cả 3 cấp độ này. Để có
cái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu vấn đề chất lượng nguồn nhân lực, trong
phạm vi nghiên cứu, người viết sẽ xem xét phạm vi nghiên cứu vấn đề chất lượng nguồn
nhân lực của các công trình nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực ở phạm vi KCN.
5.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên phương diện lý luận và thực tiễn đã có nhiều công trình nghiên cứu đề
cập đến vấn đề này và tập trung vào 2 hướng chủ yếu sau:
- Hướng thứ nhất, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn
nhân lực trong KCN ở nước ta như: thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người
lao động và điều kiện làm việc, môi trường làm việc trong các KCN.
Hướng nghiên cứu này thường được tiếp cận dưới góc độ chính sách và
coi trọng việc đi sâu nghiên cứu khía cạnh xã hội của vấn đề phát triển nguồn
cung ứng nhân lực và sử dụng nhân lực trong các KCN ở Việt Nam. Nhiệm vụ
nghiên cứu theo hướng này chủ yếu là tiến hành khảo sát và đánh giá đời sống,
việc làm của người lao động trong các KCN và xem xét các chính sách, pháp
luật lao động hiện hành có phù hợp với thực tiễn diễn ra hay chưa. Từ đó, đề
một cách toàn diện theo nhiều cách tiếp cận và sử dụng đồng thời nhiều phương
pháp đánh giá chất lượng nguồn nhân lực khách nhau, nhất là sử dụng mô hình định
lượng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Đặc biệt, số lượng các công trình
nghiên cứu có tính hệ thống về chất lượng nguồn nhân lực ở cấp độ KCN trong
phạm vi một địa phương còn rất ít. Do đó, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu kết quả của
những nghiên cứu đã nêu, việc bổ sung vào khoảng trống các vấn đề nghiên cứu
còn bỏ ngỏ và làm phong phú thêm phương pháp tiếp cận và đánh giá chất lượng
6
nguồn nhân lực được luận văn xác định là hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo.
Với định hướng như vậy, khung phân tích được sử dụng để nghiên cứu và đánh giá
chất lượng nguồn nhân lực trong phạm vi luận văn này sẽ là:
- Về cách tiếp cận: luận văn nghiên cứu chất lượng nguồn nhân lực ở tầm
nhìn tổng thể trên tất cả các doanh nghiệp KCN ở tỉnh Hưng Yên theo 3 chỉ tiêu
đánh giá chất lượng nguồn nhân lực: (i) Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe – thể
lực; (ii) Chỉ tiêu phản ánh trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn kỹ thuật – trí
lực; (iii) Yếu tố về tinh thần, ý chí, phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực.
- Về phương pháp đánh giá chất lượng nguồn nhân lực: phương pháp cụ thể
được sử dụng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong phạm vi luận văn này,
đó là: Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực qua các chỉ tiêu cụ thể.
- Về nội dung nghiên cứu: luận văn sẽ tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ
bản sau: (i) Phân tích làm rõ quan điểm của luận văn về khái niệm, bản chất và các
nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN nhằm làm căn cứ
nhất quán để sử dụng xuyên suốt trong quá trình phân tích và đánh giá; (ii) Luận
giải và đưa ra hệ thống các chỉ tiêu phù hợp cho việc đánh giá chất lượng nguồn
nhân lực trong các KCN; (iii) Sử dụng các phương pháp khác nhau để phân tích và
đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN; (iv) Đề xuất các giải pháp và
khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN tỉnh Hưng
theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động, có nguyện vọng tham
gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang
làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân”. [20, tr.165]
Ở khái niệm này, nguồn nhân lực được phản ánh thuần túy là số người trong
độ tuổi lao động (mặt số lượng) hay số lượng lao động có thể huy động được vào
nền kinh tế.
Lực lượng lao động, theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO), là
một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động được quy định, thực tế đang làm việc và
những người thất nghiệp.
8
Như vậy, từ những khái niệm cũng như là góc độ tiếp cận khác nhau về nguồn
nhân lực, có thể tổng kết lại như sau:
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực chỉ toàn bộ nguồn lực con người, gồm thể
lực, trí lực, phẩm chất…, có thể huy động được cho phát triển kinh tế.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người trong độ tuổi lao
động quy định đang làm việc, người thất nghiệp và lao động dự phòng (lao động
thực tế và lao động tiềm năng). Theo nghĩa này, nguồn nhân lực là tổng số tất cả
những người trong độ tuổi lao động được đào tạo (có trình độ chuyên môn), không
được đào tạo, đang làm việc hoặc không đang làm việc.
Theo nghĩa hẹp hơn nữa, nguồn nhân lực là những người trong độ tuổi lao
động quy định, thực tế có tham gia lao động (có việc làm) và những người chưa có
việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm. Theo nghĩa này, nguồn nhân lực
chính là lực lượng lao động, là dân số hoạt động kinh tế tích cực, có những đóng
góp cho nền kinh tế.
Tất cả các khái niệm trên (dù theo nghĩa hẹp hay rộng) đều có điểm chung, đó
là đều phản ánh về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho
sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được
thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy định tại Nghị
định này.
KCN, khu chế xuất được gọi chung là KCN, trừ trường hợp quy định cụ thể.
Như vậy, KCN là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản
xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh
giới địa lý xác định không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng
Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất.
Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN,
bao gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.
1.1.4. Khái niệm về nguồn nhân lực trong các KCN
Từ những phân tích trên, có thể hiểu một cách khái quát về nguồn nhân lực
trong các KCN như sau: nguồn nhân lực trong các KCN là tổng thể năng lực lao
động tập thể được huy động từ tập hợp các năng lực lao động cá nhân của người lao
động làm việc tại các doanh nghiệp trong các KCN.
10
Quan điểm về chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN:
Như vậy, nguồn nhân lực trong các KCN là sự tổng hợp có tính hai mặt: lượng
và chất. Trong đó, mặt lượng phản ánh số lượng lao động hiện đang làm việc và có
tên trong danh sách của các doanh nghiệp trong các KCN; mặt chất hay chất lượng
nguồn nhân lực trong các KCN phản ánh tổng thể các yếu tố cấu thành nên năng lực
lao động của toàn bộ nhân lực tại các doanh nghiệp trong các KCN. Chất lượng
người lao động trong các KCN thể hiện mức độ đáp ứng nhu cầu của người lao
động đối với các hoạt động trong KCN. Theo đó, chất lượng của người lao động
phụ thuộc vào các năng lực của họ về mặt thể chất và tinh thần.
doanh nghiệp. Để xác định chiều cao và cân nặng trung bình của người lao động,
người ta thường thu thập thông tin thống kê từ kết quả các cuộc điều tra xã hội học
hoặc khảo sát các chỉ số nhân trắc học của người lao động. Ngoài ra, để đánh giá
chiều cao, cân nặng của người lao động, hiện nay người ta thường dùng phổ biến chỉ
số béo, gầy BMI (Body Mass Index). Chỉ số này được tính theo công thức:
BMI =
Cân nặng (kg)
[Chiều cao (m)]2
Để xác định người béo, gầy, người ta dùng các ngưỡng mức độ sau:
Bảng 1.1: Ngưỡng mức độ béo gầy
Mức độ béo, gầy (i)
Quá gầy
Gầy
Hơi gầy
Bình thường
Béo
Quá béo
BMI của nam
Thấp hơn hoặc bằng 16
16,1 – 18
18,1 – 20
20 – 25
25,1 – 30
Từ 30 trở lên
BMI của nữ
Rsgknld =
nghề nghiệp, bệnh mãn tính, bị tai nạn lao động hoặc là những người cao tuổi,…
qua giám định của hội đồng y khoa xác định có mức suy giảm khả năng lao động
từ 5% đến 80%.
Sức khỏe, thể lực của người lao động không những là một chỉ tiêu chung, cần
thiết cho tất cả lao động, mà tùy thuộc vào những hoạt động đặc thù của từng loại
nghề nghiệp, công việc mà có thêm những yêu cầu tiêu chuẩn riêng về sức khỏe. Vì
vậy, việc xây dựng chỉ tiêu phản ánh về sức khỏe, thể lực của lao động cần xuất
phát từ tính đặc thù, từ yêu cầu cụ thể của từng hoạt động lao động, từng loại nghề
nghiệp, công việc. Yêu cầu về sức khỏe không chỉ là một quy định bắt buộc khi
tuyển chọn lao động, mà còn là yêu cầu cần được duy trì trong suốt quá trình làm
việc của lao động. Bởi lẽ, sức khỏe, thể lực là cơ sở để người lao động có thể phát
huy một cách tối đa và toàn diện các năng lực lao động tiềm tàng của bản thân
người lao động trong suốt quá trình làm việc.
1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn kỹ thuật
– trí lực
- Trình độ văn hóa là sự hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức
phổ thông không chỉ về lĩnh vực tự nhiên mà còn bao gồm cả lĩnh vực xã hội. Ở
một mức độ cho phép nhất định nào đó thì trình độ văn hóa của cư dân thể hiện mặt
bằng dân trí của một quốc gia.
Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực được thể hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ:
+ Tỷ lệ lao động mù chữ: Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ % giữa số người
trong nhóm mù chữ trong tổng số lực lượng lao động.
+ Tỷ lệ lao động chưa tốt nghiệp tiểu học: Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ %