MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 4
MỤC LỤC 1 4
MỤC LỤC 1 1 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2 1 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 3 1 4
LỜI MỞ ĐẦU 1 1 4
CHƯƠNG 1: DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA 3 1 4
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3 1 4
2.CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
HIỆN NAY 35 1 4
3.CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ 71 1 4
4.NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGẦN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 71 1 4
KẾT LUẬN 86 1 4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 1 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 3 4
LỜI MỞ ĐẦU 1 4
CHƯƠNG 1: DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA 3 5
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3 5
2.CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
HIỆN NAY 35 5
3.CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ 71 6
4.NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGẦN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 71 6
KẾT LUẬN 86 6
HSBC Ngân hàng TNHH một thành viên Hồng Kong - Thượng
Hải
ICBC Ngân hàng thương mại và thương nghiệp Trung Quốc
IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế
NHĐT và PTVN Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTM Ngân hàng trung ương
POS Thiết bị thanh toán điện tử
SA Tài khoản tiền gửi tiết kiệm
Sacombank Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín
SGD Sở giao dịch
TCB Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
TCTD Tổ chức tín dụng
TMĐT Thương mại điện tử
VBARD Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
VCB Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thươngViệt Nam
VIB bank Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế
Viettin bank Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
WTO Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
BẢNG
Bảng 1.1: So sánh chi phí giao dịch qua ngân hàng điện tử với hình thức giao
dịch khác tại Mỹ Error: Reference source not found
Bảng 2.1. Mạng lưới hoạt động Error: Reference source not found
Bảng 2.2. Kết quả dịch vụ BSMS năm 2009 - 2012 Error: Reference source not
found
Bảng 2.3. Số lượng khách hàng sử dụng Direct banking Error: Reference
source not found
Bảng 2.4. Kết quả kinh doanh Home banking 2009-2011 Error: Reference
HIỆN NAY 35 5 1
3.CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ 71 6 1
4.NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGẦN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 71 6 1
KẾT LUẬN 86 6 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 6 1
LỜI MỞ ĐẦU 1 1
CHƯƠNG 1: DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA 3 1
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3 1
2.CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
HIỆN NAY 35 1
3.CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ 71 1
4.NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGẦN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 71 2
KẾT LUẬN 86 2
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 4
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài: 1
2.Mục đích nghiên cứu: 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
4.Phương pháp nghiên cứu: 2
5.Kết cấu của đề tài 2
CHƯƠNG 1: DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA 3
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1.Khái quát về ngân hàng thương mại 3
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm của ngân hàng thương mại 3
1.1.2.Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại 3
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 71
3.2.Các giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại BIDV 74
3.3.Kiến nghị 83
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là ngành công
nghệ thông tin, đã tác động mạnh đến mọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế xã
hội, làm thay đổi nhận thức và phương pháp sản xuất kinh doanh của nhiều lĩnh
vực, nhiều ngành kinh tế khác nhau, trong đó có lĩnh vực hoạt động ngân hàng.
Những khái niệm về Ngân hàng điện tử, giao dịch trực tuyến thanh tán trên mạng,
đã trở thành xu thế phát triển và cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại ở Việt
Nam. Phát triển các dịch vụ của ngân hàng điện tử là xu hướng tất yếu, mang tính
khách quan trong nền kinh tế hiện đại, là kết quả tất yếu của quá trình phát triển
công nghệ thông tin trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế. Dịch vụ ngân hàng điện
tử được ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, hiện nay các ngân hàng
trên thế giới đã và đang phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ của ngân hàng điện
tử. Đối với nước ta đây là lĩnh vực hoàn toàn mới và chỉ mới phát triển ở một mức
độ nhất định.
Lợi ích đem lại của ngân hàng điện tử là rất lớn nhờ tính tiện ích, nhanh
chóng, chính xác và bảo mật. Đối với khách hàng, sử dụng dịch vụ ngân hàng điện
tử đem lại sự tiện nghi, tiết kiệm được thời gian và chi phí; đối với ngân hàng, phát
triển dịch vụ ngân hàng điện tử không những tiết kiệm chi phí và đem lại lợi nhuận
mà còn giúp ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn; như vậy đối với nền kinh tế nó góp phần làm tăng quá trình lưu thông tiền tệ
và hàng hóa, hiện đại hóa hệ thống thanh toán và góp phần thúc đẩy sự phát triển
của thương mại, đặc biệt là thương mại điện tử
Thực tế hiện nay cho thấy dịch vụ ngân hàng điện tử ở các ngân hàng Việt
Nam nói chung cũng như ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV còn hạn
Ngoài phần mở đầu, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng, biểu
đồ, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm có ba chương:
- Chương I: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử
- Chương II: Thực trạng dịch vụ ngân hàng điện tử ở ngân hàng BIDV
- Chương III: Một số kiến nghị nhằm góp phần phát triển dịch vụ ngân hàng
điện tử tại Ngân hàng BIDV
2
CHƯƠNG 1: DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với kinh tế. Các
NHTM được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ và vai trò mà chúng thực
hiện trong nền kinh tế. Với một cách tiếp cận khác nhau ta sẽ có khái niệm ngân
hàng khác nhau.
Luật Ngân hàng Pháp 1941 định nghĩa NHTM căn cứ vào mục đích và tính
chất hoạt động. Ngân hàng được coi là “những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề
thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các
số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chứng khoán, tín dụng hay dịch
vụ tài chính”.
Nếu xét trên phương diện những loại hình dịch vụ cung cấp có thể hiểu: “Ngân
hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng
nhất, đặc biệt là tín dung, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Xem xét trên các hoạt động chủ yếu Luật các tổ chức tín dụng của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi và sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Với nội dung của đề tài nguyên cứu, luận văn sẽ đi theo khái niệm về NHTM
dựa trên những loại hình dịch vụ cung cấp và trên các hoạt động chủ yếu của nó.
doanh tiền tệ và các nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của một trung gian tài chính
(huy động tiền gửi, cho vay), theo đó dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt
động ngoại bảng, thu phí như chuyển tiền, bảo lãnh, kinh doanh ngoại hối, thanh toán
quốc tế. Thứ hai, theo nghĩa rộng, dịch vụ ngân hàng bao gồm toàn bộ những hoạt
động tiền tệ, tìn dụng, thanh toán, ngoại hối,… của hệ thống ngân hàng.
4
Dịch vụ tài chính là một khái niệm mới do Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) đưa ra nhằm hình thành các quy tắc ứng xử giữa các nước thành viên WTO
trong hoạt động thương mại dịch vụ. Theo WTO: “Một dịch vụ tài chính chính là bất
kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung
cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo
hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)”. Như
vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành của dịch vụ tài chính nói chung.
Theo Thỏa thuận chung về Thương mại – dịch vụ (GATS): Các dịch vụ ngân
hàng là nhận tiền gửi, cho vay, cho thuê tài chính, chuyển tiền và thanh toán thẻ,
séc, bảo lãnh và cam kết, mua bán các công cụ thị trường tài chính, phát hành chứng
khoán, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, dịch vụ thanh toán và bù trừ, cung cấp và
chuyển giao thông tin tài chính, dịch vụ tư vấn và trung gian, hỗ trợ tài chính.
Theo luật các tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành,
dịch vụ ngân hàng cũng không được định nghĩa và giải thích một cách cụ thể. Tại
khoản 1 và khoản 7, điều 20 thì hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
bao gồm cả ba nội dung: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán
nhưng không phân biệt cụ thể lĩnh vực nào trong kinh doanh tiền tệ, lĩnh vực nào là
dịch vụ ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng có hai đặc điểm nổi bật:
Thứ nhất, đó là các dịch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ưu thế của nó
mới có thể thực hiện một cách trọn vẹn và đầy đủ.
Thứ hai, đó là các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng.
Như vậy, chúng ta có thể cho rằng toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh
toán, ngoại hối,… của hệ thống ngân hàng đều là hoạt động cung cấp dịch vụ tài
điều kiện bình thường các ngân hàng vẫn cho phép khách hàng được rút tiền trước
kỳ hạn). Đối với vốn huy động định kỳ, người gửi tiền có mục đích xác định là
hưởng lãi, vì vậy họ sẽ chọn ngân hàng nào có lãi suất cao hơn để gửi tiền vào. Với
lý do đó, các ngân hàng thường sử dụng công cụ lãi suất để thu hút nguồn vốn này.
Cạnh tranh lãi suất trở thành một trong những loại cạnh tranh hợp lý và gay gắt
6
trong giai đoạn hội nhập hiện nay, ngân hàng nào có lãi suất cao hơn, khuyến mại
nhiều hơn, tiếp thị tốt hơn thì sẽ có lợi thế trong việc hút tiền gửi của khách hàng.
Dịch vụ chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá: Việc ngân hàng mua
các thương phiếu và chứng từ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán gọi là chiết
khấu. Nghiệp vụ chiết khấu giúp các chủ sở hữu chứng từ khôi phục năng lực thanh
toán. Đây là nghiệp vụ được ưa chuộng không những đối với khách hàng mà còn cả
ngân hàng, vì đây là nghiệp vụ cho vay có đảm bảo bằng chứng từ có giá, rủi ro tính
dụng ở mức độ thấp.
Dịch vụ cho vay: Hoạt động cho vay bao gồm cho vay thương mại, cho vay
tiêu dung, cho vay chiết khấu giấy tờ có giá,… Tùy theo nhu cầu về thời gian vay
vốn của khách hàng mà ngân hàng áp dụng các hình thức cho vay ngắn hạn, trung
hạn và dài hạn. Lãi suất cho vay áp dụng theo nhu cầu trên thị trường hoặc theo
quan hệ tín nhiệm lẫn nhau để áp dụng mức lãi suất cho vay phù hợp với từng đối
tượng cho vay.
Dịch vụ thanh toán: Hầu hết các giao dịch thanh toán giữa các khách hàng
trong nước và nước ngoài đề được thực hiện qua ngân hàng. Nhờ việc nắm giữ tài
khoản của khách hàng, đồng thời thông qua việc kiểm soát chứng từ thanh toán mà
các ngân hàng hoàn toàn có khả năng thực hiện các dịch vụ thanh toán theo yêu cầu
của khách hàng. Hiện nay, các NHTM ở Việt Nam sử dụng các dịch vụ thanh toán
như: thanh toán séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thư tín dụng, hối phiếu, lệnh
phiếu, thẻ thanh toán,…
Dịch vụ trao đổi ngoại tệ: dịch vụ này rất phát triển trong giai đoạn hiện
nay, nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi mua bán trong hoạt động ngoại thương. Ngân
hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này để lấy một loại tiền khác nhằm mục đích
Dịch vụ ngân hàng tại nhà: Với dịch vụ ATM và dịch vụ chuyển tiền điện
tử là hai dịch vụ ngân hàng điện tử có những ưu thế tại điểm giao dịch thì dịch vụ
ngân hàng tại nhà có những lợi thế khác. Đó là: bằng những công cụ hỗ trợ như điện
thoại, máy vi tính chúng ta có thể hoạt động giao dịch thanh toán, xem thông tin tại
nhà mà không cần phải đến ngân hàng. Mỗi khách hàng có một mã số riêng và một
8
mật khẩu riêng do ngân hàng cung cấp và được giữ bí mật nhằm bảo đảm an toàn
nhất cho các hoạt động giao dịch của mình.
Dịch vụ bảo quản và ký gửi: Ngân hàng nhận bảo quản các cổ phiếu, chứng
chỉ quỹ đầu tư, các hợp đồng bảo hiểm, các chứng thư tài sản, di chúc và các tài sản
có giá khác. Những thứ này có thể được bảo quản theo phương thức “mở” trong đó
biên lai sẽ ghi chi tiết những gì được lưu giữ, hoặc theo phương thức “kín” được lưu
giữ trong những chiếc hộp khóa kín hay những phong bì dán kín.
Dịch vụ cho thuê tài chính: Đây là phương thức mà các doanh nghiệp nhờ
đó mà có những cấu kiện máy, thiết bị, xe cộ,… mà không cần đầu tư vốn. Các
doanh nghiệp thiếu vốn cần mua tài sản phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh,
họ có thể đến các công ty thuê mua để thuê tài sản và trả một khoản phí theo thương
lượng giữa hai bên, tài sản này vẫn thuộc quền sở hữu của công ty cho thuê trong
thời gian doanh nghiệp thuê tài sản.
Dịch vụ thư bảo đảm thực hiện đấu thầu: Các khách hàng của ngân hàng
hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng, khi tham gia đấu thầu phải cung
cấp một thư bảo lãnh dự thầu trước khi cho phép đấu thầu một hơn đồng. Thư bảo
lãnh dự thầu cho biết rằng công ty sẽ thực hiện những cam kết thi công khi trúng
thầu. Một ngân hàng thường được yêu cầu cung cấp một thư đảm bảo như vậy và
khi cấp thư thường có cam kết đền bù những thiệt hại trong trường hợp khách hàng
trúng thầu không thực hiện hợp đồng và ngân hàng bị yêu cầu thanh toán theo các
điều khoản của thư. Ngoài ra, còn có loại thư bảo đảm khác như: thư bảo đảm thực
hiện hợp đồng, thư bảo đảm thanh toán trước,…
Dịch vụ tư vấn tài chính: Một số ngân hàng đã tập trung vào cung cấp dịch vụ
tư vấn để đáp ứng nhu cầu tư vấn tài chính và quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
phương tiện kỹ thuật điện tử, khách hàng không cần đến trực tiếp tại các chi nhánh
của ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện các giao dịch và nắm bắt thông tin của mình
Dịch vụ ngân hàng điện tử được giải thích như là khả năng của một khách
hàng có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm: thu nhập các thông tin, thực
hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng
10
đó, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới. Đây là một khái niệm rộng dựa trên khả
năng của từng ngân hàng trong việc ứng dụng công nghệ tin học vào các sản phẩm
dịch vụ của mình.
Dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm tinh vi cho phép khách
hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua nối mạng vi tính của mình với
ngân hàng.
Các khái niệm trên đều khái niệm Ngân hàng điện tử thông qua các dịch vụ
cung cấp hoặc qua kênh phân phối điện tử. Khái niệm này có thể đúng ở từng thời
điểm, nhưng không thể khái quát hết cả quá trình lịch sử phát triển cũng như tương
lai phát triển của Ngân hàng điện tử. Do vậy, nếu coi Ngân hàng cũng như một
thành phần của nền kinh tế điện tử, một khái niệm tổng quát nhất về Ngân hàng
điện tử có thể được diễn đạt như sau: “Ngân hàng điện tử là Ngân hàng mà tất cả
các giao dịch giữa Ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ chức) dựa trên quá trình
xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ Ngân hàng”
1.2.1.2. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử
Dịch vụ ngân hàng điện tử bao gồm những đặc điểm sau:
- Là dịch vụ chỉ các ngân hàng với những ưu thế của nó mới có thể thực
hiện một cách trọn vẹn và đầy đủ. Các ưu thế của NHTM là mạng lưới chi nhánh
rộng khắp; có quen hệ với nhiều công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh doanh,…; có trang
bị hệ thống thông tin hiện đại.
- Các dịch vụ ngân hàng điện tử gắn liền với hoạt động ngân hàng, nó
cho phép NHTM thực hiện tốt các yêu cầu của khách hàng, đồng thời hỗ trợ tích
cực cho chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán
- Tính không hiện hữu: Nó không tồn tại dưới dạng vật thể, nó là kết quả
cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu. Hoạt động nà gắn liền với sự phát triển của công
nghệ hiện đại trong lĩnh vực ngân hàng.
Như vậy dịch vụ ngân hàng điện tử trước hết mang những đặc điểm chung
của hoạt động dịch vụ như vô hình (phi vật chất). Tính vô hình là đặc điểm để phân
biệt sản phẩm dịch vụ với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chật khác trong nền
12
kinh tế. Vì là vô hình nên sản xuất và cung ứng diễn ra đồng thời, nhưng lại không
thể sản xuất hàng loạt và lưu trữ trong kho để sau đó tiêu thụ. Ngoài ra, dịch vụ
ngân hàng điện tử có những đặc điểm sau:
- Hoạt động dịch vụ không đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải sử
dụng nguồn vốn của mình: Đây là một thuận lợi lớn cho các NHTM có vốn tự có
hạn hẹp. Do đó, việc mở rộng và phát triển các hoạt động dịch vụ trở thành vấn đề
rất cần các NHTM quan tâm và triển khai nhanh chóng.
- Trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng thu nhập: Thu nhập của ngân hàng sẽ
được hình thành từ phí dịch vụ, chênh lệch giá, hoa hồng,… Có những dịch vụ ngân
hàng điện tử không đem lại nguồn thu trực tiếp cho ngân hàng nhưng lại thúc đẩy
sự phát triển dịch vụ khác hoặc làm tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong
việc thu hút khách hàng. Đây được coi là một lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả
thu hút các NHTM hiện đại trên thế giới
- Hàm lượng công nghệ cao: Dịch vụ ngân hàng điện tử là những dịch vụ
mới ra đời khi khoa học công nghệ thông tin bắt đầu phát triển. Do vậy, dịch vụ này
chứa đựng hàm lượng công nghệ cao, nên đòi hỏi phải có sự phát triển của công
nghệ thông tin một cách tương ứng. Cần phải có máy móc thiết bị hiện đại hỗ trợ,
giảm bớt lao động thử công.
- Tỷ trọng nhỏ: Dịch vụ ngân hàng điện tử chiếm tỷ trọng nhỏ trong hoạt
động ngân hàng, chủ yếu là các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động tín dụng, bổ sung thu
nhập, thu hút thêm khách hàng cho ngân hàng.
- Tính rủi ro thấp: Do dịch vụ ngân hàng điện tử đa dạng, nên phân tán
được rủi ro, tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Chính
vì vậy, phát triển hoạt động dịch vụ sẽ giúp các ngân hàng hạn chế được những rủi
- Quản lý điện tử: Trong hình thái này, các xử lý cơ bản của Ngân hàng cả
ở phía khách hàng và phía người quản lý đều được tích hợp với Internet và các kênh
phân phối khác. Giai đoạn này được phân biệt bới sự gia tăng về sản phẩm và chức
năng của Ngân hàng với sự phân biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan hệ của khách
hàng đối với ngân hàng. Hơn thế nữa, sự phối hợp, chia sẽ dữ liệu giữa hội sở chính
14
và các kênh phân phối như chi nhánh, mạng Internet, mạng không dây,… giúp cho
việc xử lý yêu cầu và phục vụ khánh hàng được nhanh chóng và chính xác hơn.
Internet và khoa học công nghệ đã tăng sự liên kết, chia sẽ thông tin giữa ngân
hàng, đối tác, khánh hàng, cơ quan quản lý,… Một vài ngân hàng tiên tiến trên thế
giới đã xây dựng được mô hình này, và hướng tới xây dựng được một Ngân hàng
điện tử hoàn chỉnh.
- Ngân hàng điện tử: Đây là môt hình lý tưởng của một ngân hàng trực
tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sự thay đổi hoàn toàn trong mô hình kinh
doanh và phong cách quản lý. Những ngân hàng sẽ tận dụng sức mạnh thực sự của
mạng toàn cầu nhằm cung cấp toàn bộ giải pháp tài chính cho khánh hàng với chất
lượng tốt nhất. Từ những bước ban đầu là cung cấp sản phẩm và dịch vụ hiện hữu
thông qua nhiều kênh riêng biệt, ngân hàng có thể sủ dụng nhiều kênh liên lạc nhằm
cung cấp nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối tượng khách hàng chuyên biệt.
1.2.1.4. Phân loại dịch vụ ngân hàng điện tử
Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin trong những năm gần đây
đã ảnh hưởng khá rõ nét đến sự phát triển của công nghệ ngân hàng. Hiện nay ở
nhiều nước trên thế giới, dịch vụ ngân hàng điện tử đã phát triển khá phổ biến, đa
dạng về loại hình sản phẩm và dịch vụ. Nhìn chung, các dịch vụ ngân hàng điện tử
bao gồm các loại sau:
- Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại: Đây là loại dịch vụ cung cấp thông tin
ngân hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động. Do tự động nên các loại thông tin được
ấn định trước, bao gồm thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá chứng khoán, thông
tin cá nhân cho khách hàng như số dư tài khoản, liệt kê năm giao dịch cuối cùng
trên tài khoản, các thông báo mới nhất,… Hệ thống cũng tự động gửi fax khi khách
Khách hàng cũng không còn phải lo lắng về nạn kẹt xe cũng như các loại giấy tờ sổ
sách phức tạp. Để sử dụng được dịch vụ Home banking khách hàng chỉ cần có máy
tính (tại nhà hoặc trụ sở) kết nối với hệ thống máy tính của Ngân hàng mạng thông
qua modem – đường điện thoại quay số, đồng thời khách hàng phải qua đăng ký số
điện thoại và chỉ những số điện thoại này mới được kết nối với hệ thống ngân hàng
tại nhà của Ngân hàng.
16
- Dịch vụ ngân hàng qua mạng máy tính toàn cầu (internet banking): là
một loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại. Dịch vụ cho phép khách hàng có thể giao
dịch ngân hàng thông qua mạng internet vào bất cứ lúc nào, ở bấy cứ đâu mà khách
hàng cảm thấy phù hợp nhất. Sự ra đời của Internet Banking thực sự là một cuộc
cách mạng, dịch vụ này đã thúc đẩy các giao dịch xảy ra nhanh hơn, tiết kiệm được
nhiều thời gian và tiền bạc cho khách hàng, ngân hàng và cho cả xã hội. Dịch vụ
Internet banking giúp khách hàng chuyển tiền trên mạng thông qua các tài khoản
cũng như kiểm soát hoạt động của các tài khoản này. Để tham gia, khách hàng truy
cập vào website của ngân hàng và thực hiện giao dịch tài chính, truy cập thông tin
cần thiết. Thông tin rất phong phú, đến từng chi tiết giao dịch của khách hàng cũng
như thông tin khác về ngân hàng. Khách hàng cũng có thể truy cập vào Website
khác để mua hàng và thực hiện thanh toán với ngân hàng. Tuy nhiên, khi kết nối
internet thì ngân hàng phải có hệ thống bảo mật đủ mạnh để đối phó với rủi ro trên
phạm vi toàn cầu. Đây là trở ngại lớn vì đầu tư hệ thống bảo mất rất tốn kém.
1.2.2. Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thương mại
1.2.2.1. Khái niệm sự phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng
thương mại
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là việc mở rộng số lượng và nâng cao
chất lượng các dịch vụ ngân hàng điện tử nhằm thoải mãn ngày càng tốt hơn nhu
cầu của khách hàng trên cơ sở đảm bảo các mục tiêu của ngân hàng.
Chính sách phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử hướng tới mở rộng khả năng
cung dịch vụ ngân hàng điện tử, đồng thời góp phần kích cầu về dịch vụ ngân hàng
của nền kinh tế. Việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là một trong những
Mạng thông tin điện tử giúp cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
chặt chẽ hơn, đảm bảo an toàn hệ thống. Việc quản lý in ấn tiền, điều hành văn
phòng, hồ sơ nhân sự, đào tạo nghiệp vụ,… đều có thể thực hiện qua những ứng
dụng của mạng thông tin giúp giảm thiểu chi phí và tiết kiệm thời gian.
Với nguồn dữ liệu điện tử được truy nhập kịp thời, chính xác qua hệ thống
mạng, NHTW có thể phân tích, lựa chọn các công cụ kiểm soát, điều tiết chính sách
18