LỜI NÓI ĐẦU
Đô thị hóa là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà còn
đối với các nước trên thế giới, nhất là các nước châu Á. Nền kinh tế càng phát
triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Đô thị hóa
góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội của khu vực, nâng cao đời sống
nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát
sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như: vấn đề việc làm cho nông dân bị mất
đất, phương pháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, dãn
dân… Nếu không có một chiến lược và giải pháp cụ thể, chung ta sẽ gặp
nhiều vướng mắc và lúng túng trong quá trình giải quyết, đôi khi làm nảy sinh
những vấn đề ngày càng phức tạp.
Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa ở nước ta diễn ra khá nhanh.
Vì vậy, việc đánh giá những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa, từ đó
đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết vấn đề một cách cơ bản là việc làm
cần thiết. Đó là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu hoạch định chính sách
phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu, vấn đề đô thị hóa theo quan điểm của
triết học là công việc vô cùng thiết thực và cần thiết, có ý nghĩa to lớn đối với
mỗi nhà nghiên cứu hoạch định phát triển kinh tế trong thời đại hiện nay.
Xuất phát từ tầm quan trọng đó nên tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu:
” ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến nông thôn ở Việt Nam” .
Đây là một đề tài rất rộng mang tính khái quát cao, mặc dù rất cố gắng,
song bài viết của tôi sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót về nội dung
cũng như hình thức. Kính mong các thầy cô xem xét và góp ý để bài viết của
tôi được hoàn thiện hơn.
1
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA
1 . Đô thị và vai trò của đô thị trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc
dân
1.1. Khái niệm về đô thị hóa theo quan điểm quản lý
và hạ tầng kĩ thuật (giao thông, thông tin – liên lạc, cấp thoát nước, vệ sinh
môi trường). Mỗi loại phải đạt được tiêu chuẩn tối thiểu từ 70% trở lên so với
quy định của quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị.
Thứ tư, quy mô dân số đô thị.
Quy mô dân số đô thị bao gồm số dân thường trú và số dân tạm trú trên 6
tháng tại khu vực nội thành phố, nội thị xã và thị trấn.
Thứ năm, mật độ dân số.
Mật độ dân số là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của đô thị
được xác định trên cơ sở quy mô dân số đô thị và diện tích đất đô thị.
Mật độ dân số được xác định theo công thức sau:
D = N/S
Trong đó: D: Mật độ dân số (người/km2)
N: dân số đô thị (người)
S: diện tích đất đô thị (km2)
1.3. Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
- Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia là sản
phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn
hóa.
- Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế xã hội của cả nước.
- Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cả nước.
2. Đô thị hóa và sự hình thành các đô thị mới ở Việt Nam
2.1 . Đô thị hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa
a. Khái niệm về đô thị hóa
- Trên quan điểm một vùng, đô thị hóa là một quá trình hình thành, phát triển
các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị.
- Trên quan điểm kinh tế quốc dân, đô thị hóa là một quá trình biến đổi về
phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư
3
trong quá trình đô thị hóa. Bởi vì nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính.
Để xây dựng, nâng cấp hay cải tạo đô thị đòi hỏi phải có nguồn tài chính lớn.
- Tình hình chính trị: ở Việt Nam từ sau 1975, tốc độ đô thị hóa ngày càng
cao, các đô thị mới mọc lên nhanh chóng… Đặc biệt trong thời kì đổi mới,
với các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần thì đô thị hóa đã tạo ra sự phát triển kinh tế vượt
bậc.
4
2.2 . Hình thái biểu hiện của đô thị hóa
- Mở rộng quy mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thành các khu
đô thị mới, các quận, phường mới.
- Hiện đại hóa và nâng cao trình độ các đô thị hiện có.
2.3.Xu hướng đô thị hóa ở Việt Nam
- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ trong các đô
thị lớn: sự hình thành trung tâm có tính chất chuyên ngành trong các đô thị
lớn là xu thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đô thị, là biểu hiện của
tính chuyên môn hóa cao trong sản xuất.
- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các vùng
ngoại ô: sự hình thành các trung tâm của mỗi vùng có tính khách quan đáp
ứng những nhu cầu của sản xuất và đời sống ngày càng tăng lên của chính
vùng đó. Đó là biểu hiện của tính tập trung hóa trong sản xuất.
- Mở rộng các đô thị hiện có: góp phần tạo sự ổn định tương đối và giải
quyết các vấn đề quá tải do đô thị hiện có.
- Chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị: đây là một xu hướng hiện đại
được thực hiện trong điều kiện có sự đầu tư lớn của Nhà nước. Vấn đề cơ
bản là tạo nguồn tài chính để cải tạo đất, xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại.
3. Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến nông thôn
nghề miễn phí cho con em nông dân, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu lao
động.
3.3. Ả nh hưởng của đô thị hoá đến sự phát triển hạ tầng kỹ thuật
a) Tác động tích cực
- Quá trình đô thị hoá tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và hệ
thống kinh tế vùng nông thôn ngoại thành
+ Thús đẩy đầu tu xây dựng các tuyến đường từ liên thôn, liên xã, liên
Huyện và Tỉnh. Nên thuận lợi cho phát triển snả xuất và lưu thông hàng
hoá.
+ Phát triển nhanh mạng lưới điện .
+ Cung cấp nguồn nước sách.
b) Những vấn đề đặt ra
6
- Tuy cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng nông thôn đã được đầu tư
nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu.
- Với đầu tư cho công trình hạn tầng của nông thôn hầu hết là từ ngân sách,
việc huy động vốn của các thành phần kinh tế còn bị hạn chế.
- Việc quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội ở các xã, các làng nghề truyền
thống chưa được chú trọng đúng mức.
- Hệ thống hạ tầng kinh tế đô thị còn lạc hậu
3.4. Ảnh hưởng của đô thị hoá đến môi trường sinh thái vùng nông
thôn
a) Ô nhiễm nước
- Quá trình đô thị hóa cùng với việc hình thành nhiều khu công nghiệp dẫn
đến lượng nước thải từ các khu công nghiệp này tăng lên.
- Ngoài ra dân số tăng dẫn đến nguồn nước thải sinh hoạt cũng tăng, hầu hết
được thải xuống sông , hồ.
- Do tình trạng khai thác nước ngầm một cách bừa bãi và nước bẩn ngấm
xuống mạch nước ngầm dẫn đến làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước
ngầm.