TIỂU LUẬN
MÔI TRƯỜNG HỌC CƠ BẢN
Lớp: ĐHMT3B
SVTH: Lê Thị Thanh Thảo
MSSV: 07710421
GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 07/2009
…………
Tiểu luận: Môi Trường Học Cơ Bản GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
TÓM TẮT NỘI DUNG
Vùng ĐBSCL có diện tích tự nhiên khoảng 39.747 km
2
, chiếm 12% diện tích cả nước,
diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 360.000 km
2
, chiếm 37% tổng diện tích
vùng đặc quyền kinh tế của cả nước và hàng trăm đảo lớn nhỏ thuộc hai ngư trường trọng
điểm là Đông và Tây Nam Bộ.
Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng đất ngập nước điển hình với trên 90% diện tích
ngập nước theo mùa mưa lũ và sự chi phối ngập mặn do thủy triều ở các vùng ven biển.
Với lợi thế tiềm năng đất ngập nước, những năm gần đây nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL
phát triển rất nhanh chóng. Kéo theo đó là vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Điển
hình là môi trường nước trên sông Tiền, sông Hậu và các kênh rạch vùng ngọt hóa đã có
dấu hiệu nhiễm bẩn hữu cơ, các vi sinh trong nước, độ đục, Amoni trong nước Môi
trường nước ở vùng mặn hóa ven biển hàm lượng sắt trong nước tăng cao do quá trình
phèn hóa mạnh.
An Giang
Bến Tre
Bạc Liêu
Cà Mau
Thành phố Cần Thơ
Đồng Tháp
Hậu Giang
Kiên Giang
Long An
Sóc Trăng
Tiền Giang
Trà Vinh
Vĩnh Long
Với diện tích tự nhiên khoảng 39.747 km
2
,
chiếm 12% diện tích cả nước Diện tích vùng
biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 360.000
km
2
, chiếm 37% tổng diện tích vùng đặc
quyền kinh tế của cả nước
- Hàng trăm đảo lớn nhỏ thuộc hai ngư trường
trọng điểm là Đông và Tây Nam Bộ.
Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông. Có vị trí nằm
liền kề với vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái
Lan, phía Đông Nam là Biển Đông. Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được
hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước
biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển. Những
_4_
công nghiệp tập trung mật độ cao. Những hoạt động nuôi trồng thủy sản ở khu vực
ĐBSCL đó hàng năm đã thải ra môi trường 456,6 triệu m
3
/ bùn thải và chất thải nuôi trồng
thủy sản. Hậu quả là thủy sản bị dịch bệnh, ô nhiễm môi trường chết hàng loạt đã diễn ra
nhiều năm. Nhiều hộ nông dân, trang trại nuôi trồng thủy sản, một số doanh nghiệp quy
mô lớn đã phải lâm vào cảnh điêu đứng do nợ nần. Một số nơi diện tích nuôi thủy sản
phải bỏ hoang do bị ô nhiễm môi trường .
Hiện nay, vấn đề quản lý và xử lý nguồn bùn thải, chất thải nuôi trồng thủy sản hạn chế,
chưa đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, đây là vấn đề hết sức bức xúc trong nuôi trồng
thủy sản ở khu vực ÐBSCL. Điều đó đã làm mất cân bằng sinh thái trong nuôi trồng thủy
sản thể hiện rõ nét ở dịch bệnh phát sinh trên diện rộng do ô nhiễm môi trường từ các mô
hình nuôi thâm canh cá tra, cá ba sa
_6_
Tiểu luận: Môi Trường Học Cơ Bản GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
Điển hình là môi trường nước trên sông Tiền, sông Hậu và các kênh rạch vùng ngọt hóa
đã có dấu hiệu nhiễm bẩn hữu cơ, các vi sinh trong nước, độ đục, Amoni trong nước ảnh
hưởng chất lượng môi trường nước. Môi trường nước ở vùng mặn hóa ven biển hàm lượng
sắt trong nước tăng cao do quá trình phèn hóa mạnh, độ đục môi trường cao do nước phù
sa và quá trình đào đắp nạo vét ao nuôi tôm phát sinh. Quá trình chuyển dịch nuôi trồng
thủy sản diễn ra quy mô lớn ở vùng mặn hóa ven biển làm gia tăng xâm nhập mặn ở các
vùng ven biển chưa kiểm soát được chặt chẽ, tác động các hệ sinh thái nước ngọt trong khu
vực.
Vì vậy, việc tiếp cận sinh thái trong phát triển nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL là một vấn
đề hết sức quan trọng để phát triển bền vững hệ canh tác nuôi trồng thủy sản. Trong đó,
vấn đề cơ bản là tạo ra hệ thống cân bằng giữa chất lượng nước đầu vào, quản lý nguồn
nước nuôi trồng và chất lượng nước đầu ra của cả hệ thống.
3. BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ CÂN BẰNG SINH THÁI TRONG NUÔI
TRỒNG THUỶ SẢN:
Đứng trước những vấn đề bức xúc về ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản ở
nghiệpvà bằng cách tháo nước qua cống và thu tôm
lớn đối với đất rừng. Năng suất thu hoạch bình quân khoảng 150-200kg/ha/vụ.
Nuôi tôm sinh thái chủ yếu dựa vào
thức ăn tự nhiên nên không thể thả tôm
nuôi với mật độ dày. Nuôi tôm sinh thái
sử dụng thức ăn tự nhiên và sử dụng ít
phân hữu cơ gây màu hạn chế làm ô
nhiễm môi trường. Do đó, không cần xử
lý nước thải ra. Thực vật phù du trong
ruộng và đầm nuôi không phong phú về
thành phần loài và sinh khối. Nuôi tôm sinh thái trong ruộng lúa cho năng suất ổn
định và cao hơn so với đầm quảng canh do quản lý môi trường nước dễ dàng hơn.
_8_
Mô hình nuôi tôm lúa ở Thới Bình,
tỉnh Cà Mau
Mô hình tôm rừng ở Lâm ngư trường 184, tỉnh
Cà Mau
Tiểu luận: Môi Trường Học Cơ Bản GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
3.1.2. Nuôi cá sinh thái:
3.1.2.1. Mô hình nuôi cá ven sông:
Mô hình nuôi cá ven sông là mô hình nuôi cá sạch hoàn
toàn. Hiện nay mô hình này được thực hiện tại xã Mỹ Hoà
Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. An Giang là
tỉnh luôn đứng đầu cả nước về sản lượng cá tra, cá basa nuôi
ở lồng bè và ao hầm. Tuy nhiên, thời gian gần đây việc áp
dụng một số quy định cấm nhập cá có nhiễm chất Malachite Green và dư lượng cùng danh
mục 16 chất kháng sinh đối với cá tra cá basa xuất khẩu của Việt Nam đã gây nhiều tác
động tiêu cực trong lĩnh vực xuất khẩu cá.
Trước nhu cầu tiêu thụ cá sạch trên thị trường thế giới ngày càng tăng thì mô hình "cá
tra nuôi sinh thái" (Organic Pangasius) ra đời. Đây là một mô hình nuôi cá hoàn toàn mới
Không cần đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải
Chi phí đầu tư thấp – Gía bán cao
3.2.2. Một số tồn tại về mặt xã hội:
Sự quan tâm của Nhà nước và các ngành, các cấp chưa cao.
Người dân chưa nhận thức đầy đủ về vấn đề bảo vệ và khôi phục vốn rừng, nhằm
đáp ứng các tiêu chí nuôi tôm sinh thái
Người sản xuất chưa tuân thủ các quy trình sản xuất, đồng thời các nhà thu mua,
chế biến cũng không có nguyên tắc chặt chẽ, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng
cũng như giá trị xuất khẩu của thuỷ sản sinh thái Việt Nam trên thương trường quốc tế.
3.3. Các biện pháp sinh thái để xử lý nước thải:
3.3.1. Bằng các chế phẩm sinh học:
Việc nghiên cứu các chế phẩm sinh học trong việc xử lí môi trường được các trung tâm
nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Trên thị trường và trong ứng dụng sản xuất, được sử dụng
phổ biến nhất là chế phẩm EM. Tác dụng của EM về bản chất là một oxy hoá mạnh, tạo ra
khả năng cộng hưởng sống do các vi sinh vật hoạt động.Đối với các loại sản phẩm thuỷ
sản có thể làm giảm tỉ lệ bệnh tật của các loài tôm cá và các vật nuôi thuỷ sản khác.
Có rất nhiều phương pháp sinh học đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong xử lý ô
nhiễm môi trường nứơc thải trong ao nuôi thủy sản. Tiêu biểu là việc sử dụng hệ sinh vật
để phân huỷ hoặc hấp thụ các chất ônhiễm hữu cơ, vô cơ từ nước thải bằng cách sử sụng
_10_
Tiểu luận: Môi Trường Học Cơ Bản GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
các loài vi sinh vật có khả năng sử dụng các chất hữu cơ và một số chất khoáng làm nguồn
dinh dưỡng và tạo năng lượng, sinh trưởng và nhờ vậy sinh khối của chúng tăng lên. Các
vi sinh vật này được sử dụng để phân huỷ các chất ô nhiễm hữu cơ và vô cơ có trong nước
thải từ NTTS và sau đó trở thành thức ăn của thủy sản nuôi trong ao nuôi. Hay là sử dụng
hệ động thực vật để loại bỏ các chất ô nhiễm dựa trên cơ sở quá trình chuyển hoá vật chất
trong hệ sinh thái thông qua chuỗi thức ăn.
Trên thị trường hiện nay cũng có các loại chế phẩm được ứng dụng để xử lý khí thải,
nước thải, chất thải rắn, trong các ngành nuôi trồng và chế biến thủy hải sản xử lí nước
thải trong ao nuôi thủy sản như:
trên mặt đất (free surface flow) và loại chảy ngầm trong đất (subsurface flow). Loại chảy
tự do thì ít tốn kém và tạo sự điều hòa nhiệt độ khu vực cao hơn loại chảy ngầm nhưng
hiệu quả xử lý thì kém hơn, tốn diện tích đất nhiều hơn và có thể phải giải quyết thêm vấn
đề muỗi và côn trùng phát triển. Đất ngập nước kiến tạo kiểu chảy ngầm lại phân ra hai
kiểu chảy: chảy ngang (horizontal flow) và chảy thẳng đứng (vertical flow). Việc chọn lựa
kiểu hình tùy thuộc vào địa hình và năng lượng máy bơm. Đôi khi người ta phối hợp cả hai
hình thức xử lý này.
Hình 1: Sơ đồ đất ngập nước kiến tạo chảy ngầm theo chiều ngang
(vẽ lại theo Vymazal, 1997).
_12_
Tiểu luận: Môi Trường Học Cơ Bản GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
Hình 2: Sơ đồ đất ngập nước kiến tạo chảy ngầm theo chiều đứng
(vẽ lại theo Cooper, 1996)
Đất ngập nước kiến tạo đã được thử nghiệm ở một số nơi Tp Cần Thơ như: huyện Ô
Môn, huyện Phong Điền và huyện Châu Thành.
Kết quả các nơi khảo nghiệm cho thấy, về mặt kỹ thuật, khả năng sử dụng đất ngập
nước kiến tạo cho kết quả khá tốt, vận hành đơn giản, nông dân dễ thực hiện và quản lý.
3.3.3. Một số khó khăn cần lưu ý:
Ở ĐBSCL, việc quy hoạch bố trí hệ thống kênh mương từ trước đến nay thường
cho mục đích sản xuất nông nghiệp, sự phân tách độc lập kênh tưới và kênh tiêu chưa
nhiều.
Việc sử dụng các kênh thủy nông cho mục đích thủy sản sẽ bất cập khi nguồn nước
lấy vào và xả ra cùng trong một hệ thống.
Việc ứng dụng xử lý nước phải làm đồng bộ. Một người thực hiện nhưng các cá
nhân khác không xử lý nước thì ô nhiễm và nguy cơ dịch bệnh vẫn ở mức cao.
Nhiều nông dân đã bị phá sản do dịch bệnh cá xảy ra liên tiếp.
Do giá đất ở ven đô và nông thôn những năm gần đây tăng nhanh khiến việc áp
dụng biện pháp xử lý nước qua đất bị hạn chế.
Các điểm nghiên cứu, dù bước đầu có kết quả khích lệ nhưng các hộ nông dân nơi
khảo nghiệm vẫn chưa muốn áp dụng vì họ muốn tận dụng tối đa nguồn đất cho nuôi cá,
_14_
Tiểu luận: Môi Trường Học Cơ Bản GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
qúy hiếm; đảm bảo cung cấp đủ, kịp thời giống tốt với giá hợp lý cho nuôi trồng thuỷ sản,
kể cả nhập khẩu giống và công nghệ sản xuất giống cần thiết.
Phát triển ổn định một hệ thống thuỷ lợi phục vụ NTTS (thuỷ ngư) ở vùng
ĐBSCL.
Giảm thiểu tác động của các hoạt động sản xuất thủy sản đến nguồn nước ngầm
và môi trường xung quanh, đặc biệt ở bán đảo Cà Mau.
Bảo vệ và phục hồi vốn rừng ngập mặn, các khu vực rừng tràm, đồng thời chú
trọng phát triển nuôi sinh thái: xen vụ lúa - tôm, con tôm ôm cây lúa… để duy trì độ che
phủ cho đất đai.
Chú trọng phát triển nghề cá cộng đồng để tận dụng các diện tích nhỏ lẻ, phân tán
và sinh thái mùa nước nổi đặc thù ở ĐBSCL.
Chính quyền địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn người
nuôi thủy sản về kĩ thuật xử lí nước thải đúng cách trong nuôi trồng thủy sản để phát triển
bền vững và ổn định hơn.
Tiến hành qui họach vùng nuôi trồng thủy sản để đáp ứng yêu cầu phát triển thủy
sản bền vững, từ đó có biện pháp xử lí nước thải đúng cách.
Các hộ nuôi cần quan tâm đến các biện pháp kĩ thuật như: lấy nước, thóat nước,
xử lí nước, liều lượng thức ăn của ao nuôi, kĩ thuật chăm sóc, …. để đảm bảo tốt nguồn
nước cho ao nuôi.
Tăng cường nghiên cứu khoa học, nhập khẩu công nghệ, trước hết tập trung vào
khâu sản xuất giống để cho đẻ nhân tạo được các giống nuôi chủ yếu, tiến tới cho đẻ nhân
tạo được một số giống đặc sản; nghiên cứu hoàn thiện công nghệ nuôi nước ngọt, lợ và
nuôi biển đối với các đối tượng nuôi chủ yếu; các biện pháp về phòng trừ dịch bệnh; công
nghệ sản xuất thức ăn, công nghệ bảo quản và chế biến sau thu hoạch.
Đầu tư nghiên cứu các kĩ thuật nuôi sinh thái mới trong sản xuất giống và nuôi
trồng thuỷ sản, hạn chế sử dụng các chất hoá học trong phòng trừ bệnh thuỷ sản.
Việc xây dựng các công trình công, nông nghiệp, thuỷ sản hay thuỷ lợi trên
ĐBSCL cần phải được đánh giá tác động môi trường thông qua việc sử dụng nguồn nước