Mục lục
1
Danh mục các từ viết tắt
MNC
(Các MNC)
Multinational
corporation
Công ty đa quốc gia
MNE Multinational
Enterprises
Công ty đa quốc gia
VND Việt Nam Đồng
USD United States Dollar Đô-la Mỹ
JPY Japanese Yen Đồng Yên Nhật
TTHC Thủ tục hành chính
NHNN Ngân hàng Nhà Nước
DNNN
(SOEs)
Doanh nghiệp nhà nước
UNCTAD United Nations
Conference on Trade and
Development.
Hội nghị Liên Hiệp
Quốc về Thương mại và Phát
triển
2
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
1.1 Khái niệm công ty đa quốc gia
Khái niệm Công ty đa quốc gia cho đến nay vẫn chưa đạt được sự thống nhất, các khái
niệm sau đây chỉ mang tính chất tham khảo:
Khái niệm 1: Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational
Công ty Số Tổng Doanh thu Lợi
3
đa quốc
gia
nhân viên
(người)
tài sản (tỷ
USD)
năm 2010 (tỷ
USD)
nhuận (tỷ
USD)
Wal-
Mart
(Mỹ)
2.100.0
00
180,66
3
421,849
16,38
9
Royal
Dutch Shell (Hà
Lan)
97.000 322,56 378,152
20,12
7
Toyota
Motor (Nhật)
Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện sản
xuất:
Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” là các công ty sản xuất các sản phẩm
cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau. (McDonalds).
Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” là các công ty có các cơ sở sản xuất ở
một số quốc gia sản xuất ra sản phẩm đầu vào dành cho việc hoàn thành sản phẩm này
ở một số quốc gia khác. (Adidas).
Công ty đa quốc gia “nhiều chiều” là các công ty có các cơ sở sản xuất ở các
quốc gia khác nhau mà chúng hợp tác theo cả “chiều ngang” và “chiều dọc”
(Microsoft).
Các công ty đa quốc gia còn thường tồn tại dưới hai dạng:
Concern: liên kết ngang giữa ít nhất hai công ty lớn kinh doanh độc lập, có tư
cách pháp nhân trong một ngành sản xuất hoặc giữa các ngành có mối quan hệ chặt chẽ
về kinh tế và kỹ thuật.
Conglomerate: là kết quả của quá trình liên kết công ty theo chiều dọc, tức là
công ty lớn thâm nhập vào các xí nghiệp của các ngành sản xuất khác nhau không có
sự liên kết ràng buộc hoặc quy định về kỹ thuật, sản xuất kinh doanh. Mối liên hệ giữa
công ty mẹ với các công ty chi nhánh chủ yếu là quan hệ tài chính.
1.4 Đặc điểm công ty đa quốc gia
1.4.1 Quy mô hoạt động
Một bản báo cáo của Liên Hiệp Quốc cho biết 53/100 tổ chức kinh tế lớn nhất thế giới
là các công ty đa quốc gia. Tuy nhiên cũng có không ít công ty đa quốc gia có số nhân viên ít
hơn 250 người, một số hãng dịch vụ thậm chí có số nhân viên còn ít hơn.
Các công ty đa quốc gia thường sở hữu các yếu tố có tính cốt lõi và quyết định
đối với quy trình sản xuất như: vốn đầu tư, bí quyết công nghệ, các kỹ năng quản trị và
mạng lưới hoạt động toàn cầu. Do đó, tạo khả năng sinh lợi rất lớn và mang tính tiên
phong nhằm tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các đối thủ.
5
Về lao động, các công ty đa quốc gia thường thu hút một lượng lớn lao động ở
nước chủ nhà và các quốc gia khác. Ví dụ, tập đoàn Air France (Pháp) gồm 16 công ty
của kinh tế thế giới. Năm 2006, các công ty đa quốc gia chiếm đến 2/3 trị giá thương
mại quốc tế, chiếm 4/5 tổng giá trị đầu tư FDI; 9/10 thành quả nghiên cứu khoa học và
chuyển giao kĩ thuật của thế giới; chiếm 95% hoạt động XNK lao động quốc tế…
[10]
và
các công ty đa quốc gia đóng vai trò trọng yếu trong đẩy nhanh quốc tế hóa đời sống
kinh tế toàn cầu, biến mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của kinh tế thế giới.
1.5.1 Ảnh hưởng tích cực
Một trong những vai trò nổi bật của công ty đa quốc gia là thúc đẩy thương mại
quốc tế phát triển, thúc đẩy nhanh quá trình nhất thể hóa nền kinh tế thế giới. Công ty
đa quốc gia chi phối hầu hết chu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia bởi các kênh lưu
thông xuyên quốc gia của mình; trao đổi giữa các chi nhánh trong nội bộ công ty đa
quốc gia của các quốc gia ngày càng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá
trị thương mại của nhiều quốc gia.
Các công ty ĐQG có vai trò lớn đối với các quốc gia mà nó đầu tư vào, cho dù
có bị xem là “lợi nhuận là trên hết”, vẫn mang lại lợi ích cho nước sở tại như đóng
thuế, tạo việc làm, cung cấp những hàng hóa và dịch vụ trước đó không có, và trên hết
thảy là mang đến vốn, công nghệ và kiến thức quản trị.
Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua kênh
đẩu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia. Các công ty đa quốc gia hiện chi phối
trên 90% tổng FDI trên toàn thế giới. Chỉ tính riêng công ty đa quốc gia của tam giác
kinh tế (Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu) đã chiếm 1/3 lượng FDI toàn cầu. Với tư cách là chủ
thể của hoạt động đầu tư trên thế giới công ty đa quốc gia là nhân tố đặc biệt quan
trọng có ảnh hưởng mang tính quyết định tới toàn bộ hoạt động đầu tư quốc tế.
Hơn nữa, các công ty đa quốc gia làm thay đổi xu hướng đầu tư giữa các quốc
gia. Khác với hai cuộc bùng nổ trước (lần 1: 1979-1981 đầu tư vào các quốc gia sản
xuất dầu mỏ, lần 2: 1987-1990: đầu tư giữa các quốc gia công nghiệp phát triển) cuộc
bùng nổ đầu tư lần 3 (1995-1996) có sự tham gia đáng kể của các nước đang phát triển.
Bảng 1.2: Tỷ trọng vốn FDI tại các khu vực giai đoạn 1978 – 2005
[10]
những năm gần đây, tỷ suất lợi nhuận trong ngành dịch vụ tăng cao còn trong ngành
nông nghiệp và công nghiệp giảm dần. Do đó, các công ty nói chung và các công ty đa
quốc gia nói riêng cũng chuyển mạnh sang đầu tư vào các ngành dịch vụ và thúc đẩy
giá trị xuất khẩu của hàng hoá dịch vụ tăng cao.
Bên cạnh đó, hiện nay giao dịch trên thế giới đang thay đổi theo chiều hướng
tăng tỉ trọng hàng hoá có hàm lượng vốn hoặc kỹ thuật cao và giảm dần tỉ trọng hàng
sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu. Nguyên nhân của xu hướng này xuất phát từ
chiến lược tập trung phát triển các ngành có trình độ công nghệ cao của công ty đa
quốc gia nhằm duy trì khả năng cạnh tranh cao và thu lợi nhuận tối đa. Điều này được
thể hiện qua tỉ trọng hàng xuất khẩu của hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao trong
nội bộ công ty đa quốc gia chiếm tới 43,1% tổng gía trị hàng hoá xuất khẩu. Như vậy,
8
sự thay đổi trong chiến lược toàn cầu của công ty đa quốc gia tác động trực tiếp tới cơ
cấu hàng hoá xuất khẩu của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia hướng
về xuất khẩu.
Cùng với sự thay đổi trong cơ cấu hàng hoá thì cơ cấu đối tác trong thương mại
thế giới hiện nay cũng đang dần thay đổi. Tỷ trọng của hàng hoá xuất khẩu của các
nước đang phát triển ngày càng cao, đặc biệt là các nước công nghiệp mới. Sự thay đổi
chiến lược của các công ty đa quốc gia và hệ thống sản xuất quốc tế của chúng mở ra
nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi tham gia vào
các hoạt động hướng về xuất khẩu. Theo báo cáo của UNCTAD năm 2005, trong cơ
cấu thương mại thế giới, tỷ trọng thương mại của các nước đang phát triển chiếm
33,6% trong khi năm 1985 là 30.3%. Mặc dù các nước phát triển vẫn chiếm tỉ trọng lớn
trong thương mại thế giới (63.5%) song tỉ trọng thương mại của các nước đang phát
triển ngày càng tăng lên. Xét một cách riêng rẽ thì bên cạnh các nền kinh tế phát triển
(Mỹ, Nhật Bản, Đức) thì chính những nền kinh tế đang phát triển (Trung Quốc,
Singapore, Ấn Độ, Đài Loan…) lại chiếm thị phần xuất khẩu lớn trong thương mại thế
giới.
1.5.2 Ảnh hưởng tiêu cực
Bên cạnh những tác động có lợi thì hoạt động của công ty đa quốc gia cũng có
gây ô nhiễm môi trường cho các nước đang phát triển. VD: Người dân ở Ilo, Peru bị
mắc bệnh về đường hô hấp và nhiều vấn đề sức khỏe khác do ô nhiễm không khí và
nguồn nước từ một nhà máy đúc đồng thuộc 3 tập đoàn lớn của Mỹ, mỗi ngày nhà máy
này thải vào không khí 2000 tấn Sunphuadioxit, gấp 10 – 15 lần so với mức cho phép ở
Mỹ.
[15]
1.6 Các nhân tố tác động đến MNC
Môi trường kinh doanh của một công ty đa quốc gia bao gồm: môi trường trong nước
(nơi đặt trụ sở chính), môi trường ngoài nước (những quốc gia mà công ty hoạt động) và các
yếu tố quốc tế. Trong môi trường kinh doanh toàn cầu có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt
động của công ty đa quốc gia, đặc biệt là các rủi ro trong hoạt động kinh doanh như Rủi ro
quốc gia (Chương 2); Rủi ro tỷ giá.(Chương 3).
10
CHƯƠNG 2: RỦI RO QUỐC GIA
Với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ
như hiện nay thì rủi ro không chỉ đơn thuần được xem xét trong phạm vi một lĩnh vực
mà nó được mở rộng ra phạm vi một quốc gia và lớn hơn đó là phạm vi toàn cầu.
Chính vì vậy các MNC cần phải xem xét rủi ro ở tầm quốc gia, tức là rủi ro quốc gia
khi tiến hành hoạt động đầu tư.
2.1 Khái niệm về rủi ro quốc gia
2.1.1 Định nghĩa
Rủi ro quốc gia đề cập đến rủi ro mà một quốc gia sẽ không thể thực hiện hay
không sẵn sàng thực hiện các cam kết tài chính, nghĩa vụ nợ của mình đối với người
cho vay hoặc nhà đầu tư nước ngoài. Khi mà một quốc gia không hoàn thành được mục
tiêu đề ra thì nó sẽ gây hại đến hoạt động của tất cả các công cụ tài chính khác trong
quốc gia đó như cổ phiếu, trái phiếu, quỹ tương hỗ, quyền chọn và hợp đồng tương lai.
Loại rủi ro này hầu hết thường được thấy tại các thị trường mới nổi hay các quốc gia bị
thâm hụt cán cân thương mại nghiêm trọng.
Rủi ro quốc gia là một định nghĩa rộng hơn của rủi ro tín dụng và cho vay xuyên
biên giới. Nếu rủi ro này được xem xét từ khía cạnh một danh mục cho vay thì nó bao
hoạt động hiệu quả và ngược lại hậu quả của một hệ thống ngân hàng yếu kém là làm
cho quốc gia đó trở nên dễ dàng tổn thương khi xảy ra khủng hoảng và khó phục hồi.
Thứ ba, quy mô của các khoản vay mượn trực tiếp từ chính phủ hay sự can thiệp
của chính phủ có thể tác động bất lợi đến hệ thống ngân hàng, hay cơ cấu và khả năng
cạnh tranh của các ngành công nghiệp hay các điều khoản ưu đãi.
Thứ tư, viễn cảnh kinh tế của ngành công nghiệp mục tiêu của quốc gia sẽ tác
động đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia, từ đó ảnh hưởng đến rủi ro quốc gia. Viễn
cảnh kinh tế của các ngành công nghiệp mục tiêu tốt đẹp tất nhiên sẽ mang lại triển
vọng tăng trưởng kinh tế cao, từ đó mức độ rủi ro của quốc gia dưới con mắt các nhà
đầu tư sẽ giảm đi.
2.1.3 Vai trò và tác động của hoạt động đánh giá rủi ro quốc gia
Đánh giá rủi ro quốc gia là việc sử dụng các dữ liệu thống kê quốc gia hay các
phân tích định tính hoặc kết hợp cả hai theo một mô hình cụ thể nhằm đưa ra một xếp
12
hạng hoặc phân loại cho từng quốc gia ứng với mức độ rủi ro quốc gia của quốc gia đó.
Đánh giá rủi ro quốc gia thường được dùng để dự báo các điều kiện tương lai đối với
việc đầu tư vào một quốc gia. Đánh giá rủi ro quốc gia đo lường các nhân tố kinh tế, tài
chính, chính trị và các tác động qua lại giữa các nhân tố này nhằm xác định rủi ro gắn
liền với một quốc gia cụ thể. Việc đánh giá rủi ro quốc gia ảnh hưởng đến nhu cầu vay
của các MNC cũng như các chính sách hoạt động của nó.
Thông qua việc đánh giá rủi ro quốc gia mà các chính phủ tự đánh giá hay thông
qua các cơ quan xếp hạng tín nhiệm thì các chính phủ có thể nhận biết được thực trạng
nền kinh tế, những yếu kém và triển vọng của quốc gia mình. Từ đó, các nhà lãnh đạo
MNC có thể đề ra các chính sách, biện pháp mang tính vĩ mô nhằm khắc phục những
rủi ro đó để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Đánh giá rủi ro quốc gia được thực hiện bởi nhiều phương pháp, trong đó
phương pháp Xếp hạng rủi ro quốc gia được sử dụng thường xuyên vì phương pháp
này dễ tạo ra ảnh hưởng trực quan tức thời đối với người sử dụng báo cáo nhất đồng
thời cũng tương đối đơn giản và dễ so sánh độ rủi ro giữa các quốc gia với nhau. Việc
đánh giá rủi ro quốc gia thông qua xếp hạng rủi ro quốc gia đem lại những tác động rất
D
ec
2010
J
an
2011
F
eb
2011
M
ar
2011
Sovereign risk scorea 6
2
6
1
6
1
6
1
6
1
6
0
6
2
Sovereign risk rating C
CC
C
CC
C
CC
C
CC
C
CC
C
CC
Banking sector risk score 6
6
6
7
6
7
6
8
6
8
6
9
6
9
Banking sector risk rating C
CC
C
CC
C
CC
C
CC
6
3
6
3
6
3
6
3
6
3
6
3
6
3
Economic structure risk
rating
C
CC
C
CC
C
CC
C
CC
C
CC
C
CC
C
CC
82-69 = CC
72-59 = CCC
62-49 = B
52-39 = BB
42-29 = BBB
32-19 = A
22-9 = AA
12-0 =
AAA
Nguồn:The Economist Intelligence Unit Limited (2011)
Trên đây là bảng đánh giá rủi ro quốc gia, rủi ro về tỷ giá cùng các tiêu chí đánh
giá về Việt Nam của Moody theo The Economist Intelligence Unit Limited năm 2011.
Cách xếp hạng của họ khác với cách định lường rủi ro của ICRG (International country
14
risk guide - tổ chức đánh giá rủi ro quốc gia rất có uy tín, tính điểm và cập nhật hàng
tháng).
Ở bảng sau ta có thể thấy mức độ rủi ro của các quốc gia được đánh giá tương
ứng với số thứ tự càng cao nghĩa là rủi ro quốc gia càng cao. Moody cũng dựa trên mô
hình này để đánh giá rủi ro quốc gia.
Bảng 2.2: Thứ tự xếp hạng rủi ro của một số quốc gia năm 2007 của Moody
Thứ
hạng
Quốc gia
Thứ
hạng
Quốc gia
20 Singapore 77 Algeria
41 Hungary 79 Iran
42 Poland 85 Indonesia
54 China 178 Congo
thế độc quyền, liên kết độc quyền để quy định, nâng giá gây thiệt hại cho người tiêu
dùng hoặc gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân khác. Các hoạt động đầu cơ, tăng giá
bất hợp lý; các tin đồn thất thiệt, thông tin không chính xác và kể cả các điều kiện bất
thường khác gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân
cũng có thể dẫn tới những biến động bất thường của thị trường. Những biến động này
khiến tiêu dùng cá nhân sụt giảm cùng với sự sụt sụt giảm về nguồn đầu vào là nguyên
nhân gây ra một trong những khó khăn mà các MNC phải đối mặt.
Trong những ngày đầu tháng 8/2011, thị trường dầu thô đã chịu tác động tiêu
cực từ thông tin kinh tế Mỹ. Cả 4 phiên đầu tuần giá dầu lao dốc, xóa hết sự gia tăng về
giá kể từ đầu năm 2011 và đánh dấu mức sụt giảm mạnh nhất kể từ tháng 5. Tăng
trưởng sản xuất tháng 7 cũng chạm đáy 24 tháng. Chi tiêu dùng cá nhân tháng 6 sụt
giảm lần đầu tiên kể từ năm 2009. Chỉ số kinh doanh phi sản xuất tháng 7 cũng tăng
với tốc độ chậm nhất kể từ tháng 2/2010. Bên cạnh đó, những báo cáo kinh tế không
tốt về Mỹ đã gây lo ngại cho thị trường về một sự suy yếu trong nhu cầu về hàng hóa,
trong đó có nhiên liệu của quốc gia này trong tương lai không xa. Điều này làm gia
tăng những tác động xấu đến các công ty đa quốc gia, do tiêu dùng cá nhân sụt giảm
cùng với sự suy giảm về nguồn nhiên liệu – đầu vào sản xuất của công ty.
[14]
Biểu đồ 2.1 Diễn biến giá dầu thô đầu tháng 8/2011
Nguồn: Công ty cổ phần chứng khoán Sao Việt
2.2.1.2 Rủi ro về cấu trúc nền kinh tế
16
Cấu trúc nền kinh tế là một tổng thể kinh tế bao gồm nhiều yếu tố quan hệ, tác
động qua lại với nhau trong một không gian và thời gian nhất định. Cấu trúc kinh tế
gồm ba phương diện hợp thành: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu
thành phần kinh tế.
Cấu trúc nền kinh tế phù hợp sẽ đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động xuất nhập
khẩu của một quốc gia. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khuyến khích các
MNC tích cực đầu tư hơn nữa vào quốc gia đó.
Cấu trúc nền kinh tế chiếm tỉ trọng hầu hết là doanh nghiệp nhà nước thì sẽ gây
Biểu đồ 2.2 Biểu đồ phân tích tình trạng lạm phát tại Việt Nam 1/2008 –
4/2011
Nguồn: Bloomberg, ANZ Research
Tại Việt Nam, chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu sụt giảm cho
thấy các doanh nghiệp này đang tỏ ra thận trọng hơn khi đưa ra đánh giá về triển vọng
kinh doanh. Đánh giá về môi trường kinh doanh tại Việt Nam, lạm phát cao vẫn là mối
quan tâm lớn đối với các doanh nghiệp châu Âu. Trong bối cảnh lạm phát đang tăng rất
mạnh, có 6% MNC cho rằng lạm phát thực tế đe dọa công việc kinh doanh của họ tại
Việt Nam; 37% cho rằng họ bị tác động bằng nhiều cách và 56% MNC cho rằng lạm
phát có ảnh hưởng căn bản đến công việc kinh doanh của họ.
18
“Phần lớn do lo ngại về tình hình lạm phát và sự yếu kém của đồng Việt Nam”,
ông Alain Cany, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham)
nhân xét từ kết quả của cuộc khảo sát về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu
Âu (BCI), do tổ chức này thực hiện vào đầu tháng 7 năm 2011
.[13]
2.2.1.4 Thâm hụt tiết kiệm
Với đặc tính của nền kinh tế Việt Nam, chúng ta có thể nhận định rủi ro chính
trong nền kinh tế là thâm hụt tiết kiệm – đầu tư lớn, trong đó có thâm hụt ngân sách
cao, khiến lãi suất bị giữ ở mức cao làm cản trở tăng trưởng và tích tụ rủi ro tài chính,
đặc biệt trong hệ thống ngân hàng. Đồng thời, thâm hụt ngân sách và lãi suất cao thu
hẹp dư địa của cả hai công cụ tài khóa và tiền tệ, khiến chính sách kinh tế vĩ mô khó
phản ứng trước những cú sốc của nền kinh tế, hoặc nếu phản ứng thì gây chi phí cao.
Sự thâm hụt tiết kiệm – đầu tư trong nền kinh tế chỉ có thể được đáp ứng thông qua
dòng vốn nước ngoài, nghĩa là đòi hỏi cán cân vốn luôn ở trạng thái thặng dư. Đồng
thời, cán cân vãng lai thường xuyên thâm hụt bằng mức thâm hụt tiết kiệm – đầu tư.
Trong trường hợp dòng vốn chảy vào lớn hơn mức thâm hụt vãng lai, giá trị VND
không bị sức ép mất giá, có thể mở đường cho việc giảm lãi suất VND trong nước. Tuy
nhiên, rủi ro sẽ lớn khi dòng vốn chững lại hoặc đảo chiều, khiến VND mất giá. Để
chống đỡ, lãi suất có thể phải tăng mạnh trở lại, tạo ra rủi ro lớn cho hệ thống Ngân
chồng chất khiến cho chính phủ nước sở tại buộc phải đưa ra biện pháp cấm thanh toán
hoặc chuyển ngoại tệ ngoại hối ra nước ngoài. Điều này gây khó khăn cho việc đưa lợi
nhuận của các MNC ở nước sở tại về MNC mẹ, ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn, tổng
kết doanh thu,…
2.2.3 Nhận định về rủi ro chính trị
Rủi ro chính trị là rủi ro mà các nhà đầu tư phải đối diện do những biến động
trong thành phần chính phủ; các sự kiện chính trị; những thay đổi trong luật lệ, chính
sách của chính phủ; khả năng chuyển đổi của đồng nội tệ; chiến tranh, bạo loạn… Loại
rủi ro này trở chiếm phần lớn trong các loại rủi ro mà nhà đầu tư gặp phải khi đầu tư
vào các nước đang phát triển.
2.2.3.1 Tham nhũng
20
Rủi ro về chính trị cũng xuất phát từ tình trạng tham nhũng và mức độ trong
sạch của bộ máy cầm quyền. Một môi trường kinh doanh tốt thì cần phải có một môi
trường cạnh tranh công bằng lành mạnh.
Tham nhũng là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế kém phát triển, quản lý lỏng
lẻo, yếu kém tạo ra nhiều sơ hở cho các hành vi tiêu cực, hiện tượng tham nhũng và
các tệ nạn có điều kiện phát triển và tại đó một phần quyền lực chính trị được biến
thành quyền lực kinh tế. Tham nhũng làm chậm sự phát triển kinh tế-xã hội, làm giảm
lòng tin của công dân vào nhà nước, đến chừng mực nào đó nó gây mất ổn định chính
trị, kinh tế - xã hội.Tham nhũng có thể làm tăng chi phí của hoạt động kinh doanh và
giảm doanh thu.
Cơ quan Tham Vấn Kinh Tế và Rủi Ro Chính Trị, PERC trụ sở tại Hồng Kông
vào ngày 08/04/2009 đã công bố bảng xếp hạng hàng năm về tình trạng tham nhũng tại
16 quốc gia và lãnh thổ vùng Châu Á Thái Bình Dương. Trong bảng xếp hạng này, Việt
Nam vẫn nằm trong diện các quốc gia có tệ nạn tham nhũng nặng nề nhất
[16]
. Dự án đại
lộ Đông Tây là một ví dụ điển hình cho tình trạng này. Biết được thực trạng tham
nhũng của nước ta, tập đoàn PIC đã phải đút tiền cho quan chức của Việt Nam để dành
xuyên quốc gia vào đầu tư sản xuất… Cũng như vậy, khi chiến tranh xung đột xảy ra ở
một quốc gia thì các công ty tập đoàn đang đầu tư trong đất nước này cũng sẽ tìm mọi
cách thu hồi vốn và rút vốn đầu tư ra khỏi nước sở tại. Có thể nói bất cứ một sự biến
động về chính trị nào cũng sẽ ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh.
Mô hình sau được sử dụng để đánh giá rủi ro chính trị của từng quốc gia. Mô
hình này cũng được chúng tôi sử dụng trong phần đánh giá xếp hạng rủi ro quốc gia
của Việt Nam.
Bảng 2. Các yếu tố rủi ro chính trị
[19]
Sequence Component Points (max.)
A Goverment Stability 12
B Socioeconomic Conditions 12
C Investment Profile 12
22
Sequence Component Points (max.)
D Internal Conflict 12
E External Conflict 12
F Corruption 6
G Military in Politics 6
H Religious Tensions 6
I Law and Order 6
J Ethnic Tensions 6
K Democratic Accountability 6
L Bureaucracy Quality 4
Total 100
Nguồn: ICRG
2.3 Biện pháp kiểm soát rủi ro quốc gia
2.3.1 Nhóm giải pháp đề xuất cho rủi ro tài chính
Các MNC cần theo dõi thường xuyên các chính sách tài chính mà nước sở tại
đưa ra như chính sách thuế, chính sách tài khóa để dự báo và đưa ra những biện pháp
một chính sách bồi thường cho họ nếu một sự kiện bất lợi xảy ra. Bởi vì mức phí bảo
hiểm phụ thuộc vào quốc gia, ngành công nghiệp, số lượng các rủi ro bảo hiểm và các
yếu tố khác, chi phí kinh doanh ở một nước. Tuy nhiên, mua bảo hiểm rủi ro chính trị
không đảm bảo rằng một công ty sẽ nhận được bồi thường ngay lập tức sau khi xảy ra
sự cố, có khi phải chờ nhiều tháng trước khi nhận được bất kì sự bồi thường nào.
[20]
1.7
24
CHƯƠNG 3: RỦI RO TỶ GIÁ
3.1 Rủi ro tỷ giá là gì?
Mọi hoạt động mà dòng tiền thu vào phát sinh bằng một loại đồng tiền trong khi
dòng tiền chi ra lại phát sinh bằng một loại đồng tiền khác đều chứa đựng nguy cơ rủi
ro tỷ giá. Xét về định tính, rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá
gây ra làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai.Về định lượng, rủi ro tỷ giá là
sự sai biệt giữa tỷ giá quan sát trên thực tế với tỷ giá kỳ vọng.
[1]
Về cơ bản rủi ro tỷ giá phát sinh trong ba hoạt động chủ yếu của MNC là hoạt
động đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động tín dụng.
3.1.1 Rủi ro tỷ giá trong hoạt động đầu tư
Rủi ro tỷ giá trong hoạt động đầu tư thường phát sinh đối với công ty đa quốc
gia hoặc đối với các nhà đầu tư tài chính có danh mục đầu tư đa dạng hoá trên bình
diện quốc tế. Lý do là vốn đầu tư và doanh thu được tính bằng các loại đồng tiền khác
nhau.
Ví dụ: Một công ty nước ngoài đầu tư sản xuất nước giải khát tại Việt Nam có
vốn đầu tư bỏ ra bằng ngoại tệ để xây dựng nhà máy và nhập khẩu nguyên vật liệu sản
xuất, như vậy phần lớn các chi phí của công ty này đều phát sinh từ ngoại tệ. Hàng hóa
sản xuất ra chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nước sở tại, do đó doanh thu lại chủ yếu bằng
VND. Nếu tỷ giá tăng thì chi phí sản xuất cũng gia tăng tương đối so với doanh thu
làm cho lợi nhuận giảm đi thậm chí còn có thể làm đảo lộn kết quả kinh doanh.
Biểu đồ 3.1: Tỷ giá VND/USD bình quân liên ngân hàng thời điểm cuối năm.