Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn điều tra truy tố - Pdf 27

Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm, kiên quyết trừng trị tội phạm nhưng cùng với tiến
trình phát triển và hòa nhập của xã hội dẫn đến việc gia tăng không ngừng của các
loại tội phạm. Với thủ đoạn hết sức tinh vi của các đối tượng gây án cùng với tính
chất, mức độ phạm tội ngày càng quyết liệt hơn đã làm cho quá trình điều tra vụ án
gặp nhiều khó khăn, thử thách. Giai đoạn điều tra là một giai đoạn tố tụng quan
trọng đầu tiên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, giai đoạn này Cơ quan điều
tra tiến hành các hoạt động tố tụng để thu thập chứng cứ phục vụ cho việc chứng
minh, làm sáng rõ sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy, mọi hành vi và quyết định
của Cơ quan điều tra và Điều tra viên trong giai đoạn này là rất quan trọng.
Việc điều tra thu thập chứng cứ không đầy đủ hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng trong quá trình điều tra sẽ ảnh hưởng đến các giai đoạn tố tụng tiếp theo.
Viện kiểm sát với nhiệm vụ, chức năng thực hành quyền công tố và kiểm
sát các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra nhằm chứng minh người thực
hiện hành vi phạm tội là tội phạm, đảm bảo việc khởi tố, truy tố đúng
người, đúng tội và đúng theo trình tự tố tụng luật định. Bên cạnh đó, trong
quá trình nghiên cứu hồ sơ kết thúc điều tra của Cơ quan điều tra chuyển
sang, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra đối với vụ án phát
hiện thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự
mình bổ sung được; có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người
đồng phạm khác và có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì phải trả hồ sơ để Cơ
quan điều tra tiến hành điều tra bổ sung.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) và các văn bản hướng dẫn
thi hành đã thể hiện rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các Cơ quan tiến hành tố
tụng trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đặc biệt là trong giai đoạn điều
tra truy tố. Các quy định này đã điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội mới
phát sinh, cũng như tạo

tra bổ sung, đặc biệt trong giai đoạn điều tra truy tố là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình
cải cách tư pháp ở nước ta theo tinh thần của
Nghị quyết số 08-NQ/TW

ngày
02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian

tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính
trị về chiến lược cải cách tư

pháp đến năm 2020.
Qua đó, người viết đã tổng
hợp và tập trung phân tích để làm

hơn các khó khăn, vướng mắc, những
nguyên nhân khách quan và chủ quan của vấn đề áp dụng các quy định
của
pháp
luật này nhằm đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện hơn các quy
định này trong
luật
thực
định và góp phần giải quyết những khó khăn, vướng
mắc vừa nêu.
Với tất cả ý nghĩa và tầm quan trọng đó, người viết đã lựa chọn chuyên đề
"Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố" để nghiên cứu và thực hiện tiểu


trung nghiên cứu và phân
tích những cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng về hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ
sung trong giai đoạn điều tra truy tố

trong các quy định của pháp luật hiện hành
và các văn bản pháp lý chuyên ngành. Trên những

sở đó, người viết đề ra
một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp
luật
trong hệ thống pháp luật thực
định về công tác
trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai
đoạn điều tra truy tố

và tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn khi áp dụng các
quy định này vào thực tiễn đời sống xã hội
.
3. Phương pháp nghiên
cứu
Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề người viết chủ yếu sử dụng phương
pháp thu thập tài liệu, thông tin cần thiết có liên quan đến nội dung nghiên cứu của
chuyên đề chủ yếu là qua sách, báo, tạp chí, các nguồn tài liệu trên mạng và
phương pháp
phân
tích để làm sáng tỏ các vấn đề có liên quan. Đây là những
phương pháp mà người
viết
đã sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu
chuyên đề. Từ việc nêu ra vấn đề,

Chương 1. Cơ sở lý luận chung về chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung
trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chương 2. Kỹ năng của Kiểm sát viên trong công tác kiểm sát hoạt động
trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn điều tra truy tố.
Chương 3. Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hạn chế việc
trả hồ sơ điều
tra bổ sung trong giai đoạn điều tra truy tố
.
Đề tài nghiên cứu về "Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ
sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn điều tra truy tố" là một đề tài phức tạp, đòi
hỏi người viết phải có kiến thức
sâu
rộng và nắm bắt được những vấn đề cốt lõi
về lý luận cũng như về thực tiễn hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai
đoạn điều tra truy tố hiện nay. Có như vậy, người viết mới có thể làm sáng
tỏ

nổi bật lên những nội dung cần phân tích trong quá trình nghiên cứu chuyên đề,
từ đó
tìm
ra những khó khăn, bất cập trong luật thực định. Bên cạnh đó, đề ra
một số kiến nghị, giải pháp nhằm
hoàn
thiện hơn những khó khăn, bất cập đó.
Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề, không tránh khỏi được những sai sót,
người viết rất
mong nhận
được sự đánh giá và đóng góp ý kiến từ quý Thầy, Cô
để cũng cố và hoàn thiện hơn
nữa

phù hợp với thực tế trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. B
ằng
phương pháp phân tích, so sánh người viết đã đưa ra khái niệm ban đầu về chế
định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra truy
tố như sau: “
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn điều tra truy tố là
chế định của luật tố tụng hình sự quy định
Viện kiểm sát sau khi nghiên cứu hồ
sơ đã kết thúc điều tra của Cơ quan điều tra chuyển sang, quyết định trả lại
hồ sơ hình sự đó cho Cơ quan điều tra nơi tiến hành điều tra vụ án để điều tra
bổ sung nhằm khắc phục những thiếu sót trong quá trình điều tra và đảm bảo
cho việc giải quyết vụ án hình sự được khách quan, toàn diện, đúng theo các
quy

định của pháp luật”.
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là biện pháp tố tụng do Viện kiểm sát áp dụng
trong quá trình giải quyết vụ án nhằm yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra,
thu thập chứng cứ hoặc bổ sung tài liệu khác để
khắc phục lại những thiếu sót
trong quá trình điều tra,
đảm bảo việc xử lý vụ án khách quan, toàn diện và đúng
pháp luật.
5
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
Hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát trong giai đoạn
điều tra truy tố có những đặc điểm sau:
- Chủ thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp này là Viện
kiểm sát, cụ thể là thông qua vai trò của Kiểm sát viên được phân công tiến
hành thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với vụ án đó.

tiến hành tố tụng đánh giá những nguyên nhân của những vấn đề đã
làm được và những tồn tại.

Một mặt, vừa kịp thời sửa chữa, khắc phục những
tồn tại đó, mặt khác thâu lượm tích lũy thêm

được những kinh nghiệm thực
tiễn trong hoạt động điều tra, truy tố.
1.2. Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi trả hồ sơ để
điều tra bổ sung trong giai đoạn điều tra truy tố
Tố tụng hình sự Việt Nam được xây dựng dựa trên những đặc điểm về
1
Điều 168 BLTTHS năm 2003
2
Khoản 2 Điều 121 BLTTHS năm 2003
6
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức, phong tục tập quán cũng như hệ thống
pháp luật hiện hành. Những nguyên tắc được xác định trong tố tụng hình sự là tiền
đề và cơ sở để xây dựng nhiệm vụ cũng như mối quan hệ giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng. BLTTHS đã quy định cụ thể trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ
giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
3
. Mặc dù mỗi cơ quan tiến hành tố tụng đều
có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng đều có một trách nhiệm, mục đích chung
là: Xác định sự thật của vụ án
4
. Việc xác định sự thật của vụ án vừa là nội dung

điều tra, Kiểm sát viên phải nghiên cứu thật kỹ hồ sơ, kiểm tra việc tuân thủ các
thủ tục tố tụng, tính đầy đủ của các tài liệu, chứng cứ trong vụ án. Trong trường
hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp hỏi cung tổng hợp đối với từng bị can
trong vụ án. Nếu thấy còn thiếu chứng cứ, tài liệu hoặc có vi phạm thủ tục tố tụng
mà tự mình có thể bổ sung được thì Kiểm sát viên phối hợp với Điều tra viên để bổ
sung, khắc phục kịp thời; trường hợp không thể bổ sung được thì Kiểm sát viên
phải báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát hoặc Thủ trưởng đơn vị xem xét, quyết định
có trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay không.
Trong thời hạn truy tố, nếu thấy vụ án có những vấn đề phức tạp về chứng
cứ, tội danh, Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát hoặc Thủ trưởng đơn
vị để trao đổi thống nhất với Cơ quan điều tra, Tòa án về hướng giải quyết vụ án.
Trong trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp không thống nhất được
với nhau về việc điều tra bổ sung thì phải báo cáo lãnh đạo liên ngành cấp trên xin
ý kiến chỉ đạo về đường lối giải quyết vụ án.
8
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
CHƯƠNG 2. KỸ NĂNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG CÔNG TÁC
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA TRUY TỐ
2.1. Kỹ năng của Kiểm sát viên trong việc đánh giá các căn cứ áp dụng
để trả hồ sơ điều tra bổ sung
2.1.1. Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm
sát không thể tự mình bổ sung được
Căn cứ này được quy định tại khoản 1 Điều 168 BLTTHS. Chứng cứ trong
hồ sơ một vụ án hình sự là yếu tố quyết định để kết luận hành vi phạm tội của bị
can. Trên thực tế số vụ trả hồ sơ để điều tra bổ sung về chứng cứ chiếm tỷ lệ chủ
yếu. Vì vậy, hoạt động đánh giá chứng cứ là rất quan trọng và đó là hoạt động tư
duy của Điều tra viên, Kiểm sát viên sau khi đã nghiên cứu khách quan các tài
liệu trong vụ án để xác định tính hợp pháp, tính khách quan, tính liên quan của


phạm tội cũng như những tình tiết
khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
Chứng cứ quan trọng đối với vụ án là những chứng cứ mà thiếu nó thì
không thể xác

định được sự thật khách quan của vụ án như: Không xác định bị
9
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
can có tội hay không có tội, nếu có thì là tội gì,

theo điều khoản nào của Bộ
luật hình sự; các tài liệu có liên quan mà thiếu nó không thể xử lý được vật
chứng, không thể áp dụng hình phạt bổ sung, áp dụng các biện pháp tư pháp
cũng như quyết

định cho việc bồi thường thiệt hại.
Tại Điều 65 BLTTHS quy định: Để thu thập chứng cứ, Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án có quyền triệu tập

những người biết về vụ án để
hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án,

trưng cầu
giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác
theo quy

định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài
liệu, đồ vật, trình bày những


rất khó khăn nên ngay từ giai đoạn kiểm sát điều tra đối
với vụ án và khi nhận hồ sơ kết thúc điều tra của Cơ quan điều tra thì Kiểm sát
viên phải

nghiên cứu kỹ tính chất, nội dung của chứng cứ còn thiếu, trên cơ
sở đó xác định có thể bổ sung

được hay không nhằm làm sáng tỏ sự thật khách
quan của vụ án.
Trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, việc Kiểm sát viên đánh giá như thế
nào là còn thiếu chứng cứ quan trọng là rất cần thiết, có ý nghĩa then chốt trong
việc tìm ra sự thật của vụ án. Hiểu như thế nào là thiếu chứng cứ quan trọng đối
với vụ án, Kiểm sát viên phải dựa vào các quy định của luật đồng thời dựa vào
10
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
kinh nghiệm thực tiễn của mình. Theo quy định của pháp luật thì thiếu những
chứng cứ sau đây là trường hợp thiếu chứng cứ quan trọng đối với vụ án:
- Chứng cứ để chứng minh “Có hành vi phạm tội xảy ra hay không” là
chứng cứ để xác định hành vi xảy ra đó có đủ yếu tố của cấu thành tội phạm cụ thể
được quy định trong Bộ luật Hình sự hay thuộc các trường hợp không phải là hành
vi phạm tội (phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ, quan hệ dân
sự, kinh tế, vi phạm hành chính );
- Chứng cứ để chứng minh “Thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của
hành vi phạm tội” là chứng cứ xác định nếu có hành vi phạm tội xảy ra thì xảy ra
vào thời gian nào, ở đâu; phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện
tội phạm như thế nào;
- Chứng cứ để chứng minh “Ai là người thực hiện hành vi phạm tội” là
chứng cứ xác định một con người cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội đó;

của BLTTHS mà thiếu chứng cứ đó thì không có đủ căn cứ để giải quyết vụ án,
như: Chứng cứ để xác định chính xác tuổi của bị can là người chưa thành niên
hoặc xác định chính xác tuổi của người bị hại là trẻ em; chứng cứ để chứng minh
vị trí, vai trò của từng bị can trong trường hợp đồng phạm hoặc phạm tội có tổ
chức
5
.
Vì vậy, đòi hỏi Kiểm sát viên phải đánh giá chứng cứ một cách đầy đủ,
chính xác, khách quan dựa trên các cơ sở của pháp luật, ý thức pháp luật và niềm
tin nội tâm để xác định mức độ tin cậy, giá trị của từng chứng cứ cũng như giá trị
tổng hợp của các chứng cứ có trong vụ án, từ đó rút ra kết luận về vụ án. Đồng thời
phải xem chứng cứ đó có mối liên hệ như thế nào đối với các chứng cứ khác, liên
hệ trực tiếp hay gián tiếp, chúng có bổ sung hỗ trợ gì cho nhau không. Việc xác
định mối quan hệ giữa các chứng cứ là một nhiệm vụ quan trọng của những người
tiến hành tố tụng. Nó là điều kiện cần thiết để xác định sự thật khách quan của vụ
án và tránh việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn điều tra truy tố.
2.1.2. Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người
đồng phạm khác
Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác
Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra,
Kiểm sát viên phải nghiên cứu thật kỹ hồ sơ vụ án, kiểm tra các căn cứ để trả hồ sơ
điều tra bổ sung theo quy định tại Điều 168 BLTTHS, cụ thể cần lưu ý các căn cứ
để khởi tố bị can về một tội phạm khác mà chưa được làm rõ, khởi tố trước đó.
Theo quy định của pháp luật thì cụ thể là các trường hợp sau:
- Khởi tố và điều tra về một hay nhiều tội nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án
cho thấy hành vi của bị can đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác;
5
Điều 1 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010
12
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong


hành, người tổ chức, người xúi giục,
người giúp sức. Người thực hành là người trực tiếp thực hiện

tội phạm; người
tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm; người
xúi

giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm;
người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc
thực hiện tội phạm. Phạm tội có tổ chức cũng

là một hình thức đồng phạm
nhưng có sự câu kết chặt chẽ giữa những người thực hiện tội phạm
.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 168 BLTTHS thì chỉ khi nào xác định
có đồng

phạm khác thì Viện kiểm sát mới trả hồ sơ để Cơ quan điều tra tiến
hành điều tra bổ sung. Nhưng trong thực tiễn lại có

những trường hợp người
có hành vi phạm tội không phải là đồng phạm với người phạm tội mà Cơ
6
Khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010
13
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
quan điều tra đang tiến hành điều tra nhưng không thể tách ra điều tra, truy tố
bằng một vụ án khác nên nhất thiết phải

- Không giao các lệnh, quyết định tố tụng cho bị can theo đúng quy định của
pháp luật xâm phạm đến quyền bào chữa của bị can;
- Chưa điều tra, lập lý lịch của bị can; chưa xác định được những đặc điểm
quan trọng về nhân thân của người có hành vi phạm tội (tuổi, tiền án, tiền sự của bị
can);
14
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
- Không có người phiên dịch cho người tham gia tố tụng trong trường hợp
họ không sử dụng được tiếng Việt hoặc họ là người câm, điếc theo quy định tại
Điều 61 của BLTTHS;
- Không từ chối tiến hành tố tụng hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng
trong các trường hợp quy định tại Điều 42, Điều 60 và Điều 61 của BLTTHS;
- Việc điều tra, thu thập chứng cứ quan trọng đối với vụ án không đúng trình
tự, thủ tục quy định của BLTTHS nên không có giá trị chứng minh trong vụ án
hình sự;
- Chứng cứ, tài liệu quan trọng đối với vụ án đã được thu thập trong quá
trình điều tra, truy tố nhưng không đưa vào hồ sơ vụ án hoặc bị sửa chữa, thêm bớt
làm sai lệch hồ sơ vụ án;
- Việc điều tra, truy tố không đúng thẩm quyền, trừ trường hợp cơ quan có
thẩm quyền phân công điều tra vụ án cụ thể;
- Có căn cứ để xác định có việc mớm cung, bức cung, nhục hình trong quá
trình tiến hành tố tụng hình sự làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật;
- Khiếu nại, tố cáo của bị can và những người tham gia tố tụng khác không
được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật đã xâm phạm nghiêm trọng đến
quyền, lợi ích của họ;
- Và những trường hợp khác được xác định theo hướng dẫn của pháp luật
nhưng phải ghi rõ trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Tuy nhiên, Viện kiểm sát cần lưu ý là sẽ không trả hồ sơ để điều tra bổ sung
mặc dù “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” như đã nêu trên khi thuộc một

và lần trả hồ sơ (thứ nhất hoặc thứ hai), đồng thời thì nội dung quyết định phải ghi
cụ thể các căn cứ Viện kiểm sát áp dụng để trả hồ sơ điều tra bổ sung theo quy
định tại một trong các khoản 1, 2 và 3 Điều 168 của BLTTHS
8
.
Trong trường hợp tiếp tục phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thì trong Quyết
định trả hồ sơ của Viện kiểm sát phải nêu rõ những vấn đề yêu cầu điều tra bổ sung
lần trước chưa được điều tra bổ sung hoặc đã tiến hành điều tra bổ sung nhưng
chưa đạt yêu cầu hoặc từ kết quả điều tra bổ sung làm phát sinh vấn đề mới cần
điều tra
9
.
Khi nhận được quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát,
Cơ quan điều tra có trách nhiệm phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu nêu trong quyết
định đó theo quy định tại Điều 114 của BLTTHS; nếu Cơ quan điều tra nhận thấy
quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát không có căn cứ theo
hướng dẫn tại các điều 1, 2 và 4 của Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-
VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010 thì sau khi nhận hồ sơ vụ án Cơ quan
7
Điểm g khoản 2 Điều 6, Điều 7, Điều 9 Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự.
8
Khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010
9
Khoản 3 Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010
16
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
điều tra phải có văn bản nêu rõ lý do, quan điểm đối với việc giải quyết vụ án và
chuyển lại hồ sơ cho Viện kiểm sát

hai lần. Do đó, nếu sau khi đã trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung lần thứ
hai nhưng Cơ quan điều tra vẫn không điều tra theo yêu cầu của Viện kiểm sát
thì Kiểm sát viên phải xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Viện kiểm sát về đường
lối xử lý vụ án.
Trong trường hợp Cơ quan điều tra đã thực hiện đúng, đầy đủ các
yêu cầu của Viện kiểm sát trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Kiểm
sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra đối với vụ án
đó sau khi nhận lại hồ sơ hoàn điều tra bổ sung thì phải nghiên cứu, đánh giá toàn
diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và hoàn tất các thủ tục tố tụng cần
thiết để truy tố bị can ra trước Tòa án, đảm bảo đúng, đầy đủ theo các quy định của
pháp luật.
10
Khoản 1 ĐIều 7 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010
11
Khoản 3 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010
17
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ VIỆC
TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA TRUY
TỐ
3.1. Thực trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn điều tra truy
tố
3.1.1. Những thuận lợi, khó khăn
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là quyền của Viện kiểm sát được quy định tại
Điều 168 BLTTHS, việc trả hồ sơ được thực hiện trong giai đoạn kết thúc điều tra
nhằm đảm bảo cho việc điều tra vụ án được khách quan, toàn diện, loại bỏ mọi vi
phạm pháp luật trong quá trình tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, củng cố
xác định chứng cứ để quyết định xử lý đối với người phạm tội theo đúng quy định
của pháp luật.

không cần quyết định đến tình trạng tài sản của người bị kết án. Do vậy trong thực
tiễn có những bản án phạt tiền không thi hành được, nhiều trường hợp phạt tiền chỉ
được tuyên cho có, không có tính khả thi. Có cơ quan cho rằng cần phải xác minh
tình trạng tài sản, có cơ quan cho rằng đây không phải là chứng cứ quan trọng để
quyết định việc truy tố hay không có tội, tội phạm gì và theo điều khoản nào của
Bộ luật hình sự.
Bên cạnh đó, vẫn còn trường hợp lạm dụng việc trả hồ sơ để điều tra bổ
sung để hợp lý hóa về thời hạn tố tụng; Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung không
có căn cứ hoặc yêu cầu điều tra bổ sung không khả thi, dẫn đến việc điều tra bổ
sung không thực hiện được làm kéo dài thời hạn giải quyết vụ án và thực hiện
việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung không đúng hướng, không triệt để, không đáp
ứng được yêu cầu điều tra bổ sung của các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm
quyền.
3.1.2. Nguyên nhân
Nguyên nhân khách quan
Tính chất thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, quy mô phạm tội mở rộng, có
nhiều bị can tham gia và hành vi phạm tội xảy ra ở nhiều địa phương, gây khó
khăn cho việc thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm; lợi dụng chính sách mở
cửa, hội nhập của nước ta, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện, nhiều thủ đoạn phạm
tội mới được thực hiện, nhiều vụ án liên quan đến các hoạt động kinh tế, chuyên
ngành rất phức tạp hoặc có liên quan đến nước ngoài trong khi hoạt động giám
định ở các lĩnh vực chuyên ngành chưa đồng bộ, chưa đáp ứng đòi hỏi của thực
tiễn.
Quan điểm đánh giá về chứng cứ, tội danh, đường lối xử lý còn thiếu thống
nhất giữa những người tiến hành tố tụng và giữa các cơ quan tiến hành tố tụng,
nhất là đối với nhữmg vụ án lớn phức tạp.
19
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
Quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự có nhiều vấn đề còn bất

thực hiện mà Kiểm sát viên không phát hiện kịp thời để ban hành yêu cầu điều tra
20
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
hoặc việc xác định những vấn đề quan trọng về nhân thân của bị can hoặc độ tuổi
của bị hại trong một số loại án đây là lỗi chủ quan của Kiểm sát viên.
Một số đơn vị phân công Kiểm sát viên kiểm sát điều tra vụ án chưa phù hợp
với trình độ, năng lực và kinh nghiệm; Lãnh đạo Viện trực tiếp chỉ đạo giải quyết
án chưa sâu sát hoạt động của Kiểm sát viên kiểm sát điều tra vụ án đó, thiếu kiểm
tra tiến độ nên hiệu quả chỉ đạo còn hạn chế và không kịp thời, do vậy, vi phạm,
thiếu sót trong hoạt động điều tra chậm được khắc phục. Việc triển khai thực hiện
chuyên đề nghiệp vụ còn mang tính hình thức, kém hiệu quả; kiểm tra, xử lý vi
phạm không nghiêm, thiếu tác dụng giáo dục.
3.2. Trách nhiệm trong việc trả hồ sơ điều tra bổ sung
Trách nhiệm thuộc về Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong những trường
hợp Cơ quan điều tra chưa làm hết trách nhiệm của mình để bảo đảm việc điều tra
vụ án được khách quan, toàn diện và đúng thời hạn theo quy định của pháp luật; có
trường hợp điều tra còn phiến diện trong việc đánh giá chứng cứ hoặc chủ quan
thỏa mãn với những chứng cứ, tài liệu đã thu thập được; không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng, không đầy đủ, kịp thời yêu cầu điều tra hoặc quyết định trả hồ sơ
để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát dẫn đến vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ
sung đối với những vấn đề mà Viện kiểm sát đã yêu cầu điều tra; không cung cấp
đầy đủ, kịp thời chứng cứ, tài liệu liên quan theo quy định của pháp luật trong quá
trình điều tra vụ án theo yêu cầu của Kiểm sát viên làm cho Kiểm sát viên không
nắm được nội dung, tiến trình giải quyết vụ án để kịp thời đề ra yêu cầu điều tra
dẫn đến Viện kiểm sát phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với vụ án.
Trách nhiệm thuộc về Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong những trường hợp
Viện kiểm sát, Kiểm sát viên được phân công thụ lý vụ án chưa chủ động, tích cực
kiểm sát điều tra ngay từ đầu; chưa nắm chắc tiến độ, kết quả điều tra và việc lập
hồ sơ vụ án trong suốt quá trình điều tra để đề ra yêu cầu điều tra toàn diện, kịp

Cần xây dựng quy chế phối hợp và chế ước giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
trong việc giải quyết vụ án hình sự. Trong chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung,
quan hệ chế ước thể hiện trong việc xác định căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung,
nội dung cần điều tra bổ sung, quan hệ phối hợp thể hiện trong việc thực hiện trình
tự, thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung để quá trình tố tụng diễn ra được thuận lợi,
nhanh chóng, kịp thời.
- Đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự bằng việc tạo điều kiện
cho luật sư tham gia bào chữa. Đảm bảo cho bị can được mời luật sư bào chữa và
tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia trong các vụ án hình sự ngay từ giai
đoạn điều tra là một trong những biện pháp thực hành dân chủ, bảo đảm quyền con
người trong hoạt động tư pháp và hạn chế tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
22
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
Bên cạnh đó, với vai trò và trách nhiệm của Viện kiểm sát cần chú trọng
thực hiện một số biện pháp sau để hạn chế việc trả điều tra trong giai đoạn điều tra
truy tố, các biện pháp đó là:
- Một là, nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực và trình độ của Kiểm sát
viên; lựa chọn phân công Kiểm sát viên kiểm sát điều tra phù hợp; lưu ý khi phân
công các Kiểm sát viên chưa có kinh nghiệm (như mới bổ nhiệm hoặc luân chuyển
từ khâu công tác khác sang ), Lãnh đạo viện chỉ đạo giải quyết án cần quan tâm
sâu sát hơn để hạn chế vi phạm, thiếu sót, đối với các vụ án đặc biệt nghiêm trọng,
phức tạp, dư luận quan tâm cần phân công Kiểm sát viên có năng lực và kinh
nghiệm trực tiếp thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra ngay từ khi Cơ quan
điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bi can.
- Hai là, Kiểm sát viên được phân công phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, tài liệu để
kiểm sát chặt chẽ việc phê chuẩn và chủ động đề ra yêu cầu điều tra. Phải bám sát
tiến độ điều tra, đề ra yêu cầu điều tra nhằm khắc phục kịp thời những thiếu sót về
chứng cứ hoặc vi phạm tố tụng. Quá trình điều tra cần phối hợp với Cơ quan điều
tra để tiến hành sơ kết việc điều tra khi cần thiết. Trước khi kết thúc điều tra vụ án,

thiếu sót trong việc lập biên bản bắt quả tang; biên bản hiện trường không có Điều
tra viên, Kiểm sát viên tham gia; trong việc lấy lời khai của người tham gia tố tụng
không có sự tham gia của Điều tra viên được phân công điều tra vụ án; không mời
luật sư, người bào chữa trong các trường hợp pháp luật bắt buộc theo quy định tại
khoản 2 Điều 57 BLTTHS; không trưng cầu giám định trường hợp bắt buộc phải
trưng cầu giám định theo quy định tại khoản 3 Điều 55 BLTTHS; định giá tài sản
chiếm đoạt không đúng quy định, xử lý vật chứng không đúng quy định tại Điều
76 BLTTHS, vi phạm trong việc giám hộ; truy tố theo trình tự rút gọn khi không
đủ điều kiện Kiểm sát viên cần kiểm sát chặt chẽ quá trình điều tra; lập hồ sơ của
Điều tra viên nhằm kịp thời phát hiện vi phạm, thiếu sót để khắc phục.
+ Trong thực tiễn, một số Điều tra viên không trực tiếp đi xác minh lý lịch bị
can tại nơi cư trú mà dựa trên lời khai của bị can để ghi lý lịch sau đó xin xác nhận
(hoặc xác nhận trước ghi sau) dẫn đến sai sót thông tin về nhân thân hoặc bỏ sót
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can. Vì vậy khi kiểm sát
điều tra đối với vụ án mà bị can cư trú hoặc phạm tội tại nhiều địa phương khác
nhau thì Kiểm sát viên phải kiểm tra thận trọng, toàn diện để hạn chế và loại trừ sai
sót.
+ Hiện nay, việc giám định tư pháp phục vụ cho việc giải quyết vụ án hình
sự tốn kém về thời gian và tiền bạc, như giám định tài chính, giám định tâm thần
đối với bị can dẫn đến trường hợp mặc dù quá trình điều tra qua tiếp xúc với bị
can hoặc người nhà bị can, Điều tra viên biết trường hợp này cần thiết phải giám
định tâm thần cho bị can, tuy nhiên ngại khó khăn, tốn kém nên không trưng cầu
giám định và không thông báo cho Viện kiểm sát, Kiểm sát viên chỉ nghiên cứu hồ
24
Đề tài: Kỹ năng của Kiểm sát viên trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong
giai đoạn điều tra truy tố
sơ, không tiếp xúc với bị can sẽ không phát hiện được. Để hạn chế tình trạng này,
trong yêu cầu điều tra cần làm rõ có nghi ngờ về năng lực chịu trách nhiệm hình sự
của bị can không (có tiền sử bệnh tật, có biểu hiện không bình thường về thần kinh
hoặc phạm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của người khác như giết người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status