Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khoáng sản vùng Trung du miền núi phía Bắc
Khoáng sản là nguồn nguyên nhiên liệu có nguồn gốc hữu cơ hoặc vô cơ,
tuyệt đại bộ phận nằm trong lòng đất. Quá trình hình thành có liên quan mật
thiết tới quá trình lịch sử phát triển của vỏ trái đất trong thời gian dài hay hàng
nghìn năm, có khi là triệu năm.
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, từ giai đoạn mông muội
ban đầu đến giai đoạn văn minh hiện đại. Thì sự hiểu biết, sử dụng khoáng sản
của con người ngày càng nhiều và đa dạng hơn.
I. KHÁI NIỆM
1. Một số khái niệm
a. Khoáng sản
Khoáng sản là các thành tạo hoá lý tự nhiên được sử dụng trực tiếp trong
công nghiệp hoặc có thể lấy ra từ chính kim loại hoặc khoáng vật dùng cho các
ngành công nghiệp. Khoáng sản có thể tồn tại ở các trạng thái: lỏng (dầu, nước
khoáng); rắn (quặng, đá); khí (khí đốt).
b. Quặng:
Là tập hợp các khoáng sản trong đó hàm lượng các thành phần có ích
(kim loại, hợp chất của kim loại) đạt yêu cầu công nghiệp có thể khai thác sử
dụng cho hiệu quả kinh tế.
c. Mỏ:
Là một bộ phận của vỏ trái đất nơi tập trung tự nhiên các khoáng sản do
kết quả của một quá trình địa chất nhất định tạo nên.
2. Phân loại khoáng sản
a. Khoáng sản kim loại.
- Kim loại đen: là những khoáng sản chứa chất sắt (sắt, măng gan, ti tan) .
- Kim loại màu: đồng, vàng, thiếc, chì, kẽm.
b. Phi kim loại
- Apatit, phophorit, pirit.
c. Khoáng sản vật liệu xây dựng:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
III. HIỆN TRẠNG KHOÁNG SẢN VÙNG TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA
BẮC
Trung du miền núi phía Bắc là vùng có cấu trúc địa tầng phức tạp và được
đánh giá là có tiềm năng về khoáng sản lớn nhất cả nước với nhiều loại khoáng
sản khác nhau: than, sắt, Apatit, thiếc, đồng, chì, vàng, kẽm, đá vôi, cao lanh,
sét… Trong đó than, sắt, thiếc, Apatit là những loại có trữ lượng lớn và giá trị
kinh tế cao không chỉ với bản thân vùng mà còn so với cả nước.
1. Các loại khoáng sản chính
a. Than.
Trữ lượng toàn Việt Nam được xác định là từ 3 - 3,5 tỉ tấn (trong đó trữ
lượng của trung du miền núi phía Bắc chiếm hơn 90% trữ lượng cả nước).
Vùng than lớn nhất cả nước là Quảng Ninh, phân bố ở đây chủ yếu là than
Antraxit của than Antraxit là 8200 - 8600 kcal/kg - cao nhất trong các loại than)
do đó giá trị sử dụng và xuất khẩu rất cao.
Ngoài ra còn có than mỡ ở Thái Nguyên (Núi Hồng) - trữ lượng 2500
triệu tấn, Lạng Sơn - than nâu. Sản lượng khai thác than cả nước là hơn 10 triệu
trong đó lượng than xuất khẩu đạt hơn 3 triệu tấn (1998).
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
b. Sắt:
Tính chung cả Việt Nam có 240 mở và điểm quặng sắt. Hai mỏ lớn nhất là
Thạch Khê (Hà Tĩnh). Trữ lượng 544 triệu tấn là mở cấp lớn theo sự phân chia
của thế giới.
Quỹ xạ (Lào Cai) trữ lượng 118,75 triệu tấn chất lượng tốt (Fe = 54 -
55%). (tr 41-TNKS).
Mõ Quỹ xạ trong vùng còn có một số mỏ sắt có trữ lượng nhỏ khác như:
Trại Cau (Thái Nguyên), Tòng Bá (Hà Giang), Hà Quảng (Cao bằng).