Tác động của quản lý hàng tồn kho đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp - Pdf 27

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.1.Tổng quan nghiên cứu 3
1.2.Cơ sở lý luận 7
1.2.1.Quản lý hàng tồn kho 7
1.2.1.1.Khái niệm quản lý hàng tồn kho 7
1.2.1.2.Các mô hình quản lý hàng tồn kho 8
1.2.2.Khả năng sinh lời của doanh nghiệp 23
1.2.2.1.Khái niệm khả năng sinh lời của doanh nghiệp: 23
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
1.3.Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 25
1.3.1. Mô hình nghiên cứu 25
1.3.2.Giả thuyết nghiên cứu 25
1.4.Thu thập số liệu: 25
1.5.Phương pháp xử lý dữ liệu 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
1.6.Thống kê mô tả 27
Thước đo khả năng sinh lời dùng trong nghiên cứu này là doanh lợi doanh
thu (ROS) có giá trị trung bình là 6.133% với tối thiều là -83.285% và tối đa
là 75.917%. Một biến khác được sử dụng đó là tỷ suất lợi nhuận gộp (GrPoS)
với giá trị trung bình là 16.316%, tối đa là 69.504% và tối thiểu là -1.208%.27
1.7.Kết quả nghiên cứu 28
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 33
1.8.Kết luận 33
1.9.Đề xuất một số giải pháp cho các doanh nghiệp 33
1.9.1.Trong ngắn hạn 33
1.9.2.Trong dài hạn 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
LỜI MỞ ĐẦU
Hàng tồn kho là một khoản mục quan trọng trong danh mục tài sản của

tế lượng để nghiên cứu tác động của việc quản lý hàng tồn kho tới khả năng
sinh lời của doanh nghiệp thông qua phân tích mô hình hồi quy tương quan
gồm các biến: vòng quay hàng tồn kho, số ngày hàng tồn kho, tỷ suất sinh lợi
trên tài sản, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất sinh lợi trên doanh
thu và tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu.
2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan nghiên cứu
Năm 2003, Fullerton và các đồng sự phát hiện một tác động tích cực
đáng kể mức tồn kho thấp hơn trên ROA và ROS trong cuộc khảo sát của họ.
Trong khi Vastag và Whybark (2005) tìm thấy mối quan hệ giữa doanh thu
hàng tồn kho và hiệu suất công ty là không đáng kể. Nghiên cứu gần đây nhất
của hàng tồn kho đã quan tâm đến mối liên hệ giữa hàng tồn kho và sự thực
thi của hãng.
Chen và các đồng sự (2005) phân tích mối quan hệ này từ góc độ thị
trường vốn và tạo ra các danh mục đầu tư của các công ty dựa trên hiệu suất
hàng tồn kho tương đối, việc tìm kiếm hàng tồn kho cao khác thường liên
quan đến thị trường chứng khoán hoạt động kém hiệu quả. Tuy nhiên, họ
cũng tìm ra được các công ty có hàng tồn kho trung bình thấp hơn có lợi
nhuận cổ phiếu tốt trong khi các doanh nghiệp có hàng tồn kho thấp nhất chỉ
có lợi nhuận bình thường.
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào các công ty của Mỹ
trong lĩnh vực sản xuất vì những cuộc cách mạng trong chính sách hàng tồn
kho trong những năm 1970 và 1980. Chel và các đồng sự (2005) quan sát thấy
mức độ chú trọng vào hàng tồn kho tới thị trường tài chính giữa các công ty
Mỹ, trong đó có các quy định sẽ thưởng cho các công ty cắt giảm hàng tồn
kho và phạt những doanh nghiệp không làm như vậy. Điều này là bởi vì trong
những năm 1970, những công ty sản xuất của Nhật Bản đã tăng thị phần đáng
kể tại thị trường Mỹ trong một loạt các ngành công nghiệp, đáng chú ý nhất là
bao gồm cả ngành công nghiệp ô tô là một ngành thế mạnh của Mỹ.

kể tồn tại giữa các doanh nghiệp có liên quan đến cải thiện doanh thu và hiệu
quả hiệu suất của nó, với một số cải thiện doanh thu kết hợp với ROA tăng và
cải thiện doanh thu khác liên quan đến ROA giảm.
4
Capkun những đồng sự của mình (2009) tiếp dòng này của các nghiên
cứu hoạt động hàng tồn kho cho các công ty sản xuất của Mỹ. Qua 26 năm, từ
năm 1980 đến 2005, họ tìm thấy một mối quan hệ đáng kể giữa tỷ lệ doanh
thu hàng tồn kho giảm và khả năng sinh lời của các công ty trên hàng loạt các
ngành công nghiệp.
Phù hợp với nghiên cứu của Cannon năm 2008, một nghiên cứu khác
của Kolias và các đồng sự năm 2011 tìm thấy rằng, tỷ lệ doanh thu hàng tồn
kho (như là một phép đo của quản lý hàng tồn kho) tỷ lệ nghịch với tỷ suất lợi
nhuận gộp. Kolias và các đồng sự (2011) dựa trên một phân tích kinh tế được
thực hiện trên một mẫu dữ liệu tài chính Hy Lạp cho các công ty bán lẻ trong
giai đoạn 2000- 2005. Họ tìm thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa tỷ suất lợi
nhuận gộp và doanh thu hàng tồn kho. Điều này có nghĩa rằng các nhà bán lẻ
thương mại giảm tỷ suất lợi nhuận gộp cho vòng quay hàng tồn kho để đạt
được lợi nhuận tương tự như trên kể từ khi đầu tư hàng tồn kho, nếu tỷ lệ
doanh thu hàng tồn kho thấp hơn nhằm mục tiêu cho mức tổng lợi nhuận, quản
lý sau đó cần được báo động với sự không hiệu quả này. Do đó, nó có khả năng
rằng các hệ số tổng lợi nhuận khác nhau giữa các ngành.
Một nghiên cứu khác của Eroglu và Hofer năm 2011 đã cho thấy giữa
quản lý hàng tồn kho và hiệu suất có mối quan hệ tỷ lệ thuận, trong đó sử
dụng chỉ số kiểm kê thực nghiệm (Empirical Leanness Indicator- ELI) là một
thước đo để quản lý hàng tồn kho. Họ lập luận rằng kiểm kê hàng tồn kho là
công cụ quản lý hàng tồn kho tốt nhất. Nghiên cứu của họ được thực hiện dựa
trên các công ty sản xuất của Mỹ giai đoạn 2003- 2008 cho thấy kiểm kê có
ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận. Theo Eroglu và Hofer (2011), các doanh
nghiệp có kiểm kê nhiều hơn so với mức trung bình của ngành công nghiệp
nói chung nhìn thấy lợi nhuận tích cực. Họ phát hiện ra rằng tác động của

tăng nhanh đã chôn vùi không biết bao nhiêu tiền của các doanh nghiệp, ngân
hàng. Ảm đạm, trì trệ, đóng băng, bất động … là những từ được nhắc đến để
nói về thực trạng bất động sản 2012. Vì vậy, cần phải xem xét có cách nào đó
để người dân vay được tiền mua đất, vay tiền làm nhà để có thể tiêu thụ các
6
sản phẩm tồn kho như sắt thép, xi măng,… nhằm kích cầu tiêu dùng giải
quyết hàng tồn kho, tăng vốn. Tại Việt Nam, thị trường bất động sản phát
triển thiếu quy hoạch chiến lược và điều tra nhu cầu, đầu tư theo tâm lý đám
đông, phong trào dẫn đến cung vượt quá cầu, quá khả năng thanh toán của
nền kinh tế. Các doanh nghiệp hầu như chưa đặt công tác quản lý hàng tồn
kho vào đúng vị trí vai trò của nó, các khâu quản lý hàng tồn kho còn bị coi
nhẹ nên đã dẫn đến những hệ lụy như hiện nay. Do vậy, nghiên cứu quản lý
hàng tồn kho có ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sinh lời của doanh
nghiệp là một vấn đề quan trọng hiện nay tại Việt Nam. Từ đó, các doanh
nghiệp nhận thức đúng vai trò của quản lý hàng tồn kho để có chiến lược cụ
thể, hiệu quả nhằm giải quyết hàng tồn kho, không những tự cứu mình, không
bị động chờ Nhà nước cứu mà còn khơi thông nguồn vốn và cứu nền kinh tế.
Như vậy, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu tác động của hàng tồn
kho đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Đối với Việt Nam, đây là vấn
đề mới cần được quan tâm nghiên cứu bởi thực tế đã cho thấy việc quản lý
hàng tồn kho kém hiệu quả dẫn đến tình trạng tồn kho cao, bế tắc của các
doanh nghiệp như hiện nay. Trong nghiên cứu này, tôi sẽ đo lường mối quan
hệ giữa quản lý hàng tồn kho và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Từ đó
thấy được tầm quan trọng của quản lý hàng tồn kho đối với sự tồn tại của
doanh nghiệp.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Quản lý hàng tồn kho
1.2.1.1. Khái niệm quản lý hàng tồn kho
Quản lý hàng tồn kho là một khâu quan trọng trong quản trị doanh
nghiệp nhằm đảm bảo đầu ra và đầu vào cho quá trình sản xuất và hạn chế tối

được xác định bằng cách lấy nhu cầu hàng năm của từng loại hàng tồn kho
8
nhân với chi phí tồn kho đơn vị. Tiêu chuẩn để xếp các loại hàng tồn kho vào
các nhóm là:
Nhóm A: Gồm các loại hàng có giá trị hàng năm từ 70- 80% tổng giá trị
tồn kho nhưng số lượng chỉ chiếm 15- 20% tổng số hàng tồn kho;
Nhóm B: Gồm các loại hàng có giá trị hàng năm từ 25- 30% tổng giá trị
hàng tồn kho nhưng về sản lượng chiếm từ 30- 35% tổng số hàng tồn kho;
Nhóm C: Gồm những loại hàng có giá trị hàng năm nhỏ, giá trị hàng
năm chỉ chiếm 5- 10% tổng giá trị tồn kho nhưng số lượng lại chiếm khoảng
50- 55% tổng số hàng tồn kho.
Các nhóm hàng tồn kho phân bố theo biểu đồ Pareto
Tác dụng của kỹ thuật phân tích A- B- C:
(1)Đầu tư có trọng tâm khi mua hàng.
(2)Xác định các chu kỳ kiểm toán khác nhau cho các nhóm khác
nhau.
Đối với loại hàng tồn kho thuộc nhóm A, việc tính toán phải được thực
hiện thường xuyên, thường là mỗi tháng một lần;
Đối với loại hàng tồn kho thuộc nhóm B sẽ tính toán trong chu kỳ dài
hơn, thường là mỗi quý một lần;
Đối với loại hàng tồn kho thuộc nhóm C thường tính toán 6 tháng 1 lần.
Mô hình lượng đặt hàng hiệu quả (EOQ- The Basic Economic Order
Quantity Model)
9
Mô hình này là một trong những kỹ thuật kiểm soát tồn kho phổ biến
và lâu đời nhất, nó được nghiên cứu và đề xuất từ năm 1915 do
Ford.W.Harris đề xuất nhưng đến nay nó vẫn được hầu hết các doanh nghiệp
sử dụng. Khi sử dụng mô hình này, người ta phải tuân theo các giả định quan
trọng sau đây:
(1) Nhu cầu vật tư trong 1 năm được biết trước và ổn định;

hóa. Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường ổn định không phụ thuộc
vào số lượng hàng hóa được mua.
Nếu gọi D là toàn bộ lượng hàng hóa cần sử dụng trong một đơn vị thời
gian (năm, quý, tháng) thì số lượng lần cung ứng hàng hóa sẽ là D/Q.
Gọi C
2
là chi phí mỗi lần đặt hàng thì tổng chi phí đặt hàng sẽ là:
C
2 =
Tổng chi phí đặt hàng tăng nếu số lượng mỗi lần cung ứng giảm.
Gọi TC là tổng chi phí tồn trữ hàng hóa có:
TC = C
1
+ C
2
Công thức trên được thể hiện qua đồ thị sau:
11
Như vậy, mục tiêu của mô hình này là nhằm làm tối thiều hóa tổng chi
phí đặt hàng và chi phí lưu kho. Hai chi phí này phản ứng ngược chiều nhau.
Khi quy mô đơn hàng tăng lên, ít đơn hàng hơn được yêu cầu làm cho chi phí
đặt hàng giảm, trong mức dự trữ bình quân tăng lên, đưa đến tăng chi phí lưu
kho. Do đó mà trên thực tế số lượng đặt hàng tối ưu là kết quả của một sự
dung hòa giữa hai chi phí có liên hệ nghịch nhau này.
Qua đồ thị trên ta thấy khối lượng hàng cung ứng mỗi lần là Q
*
thì tổng
chi phí dự trữ là thấp nhất. Tổng chi phí nhỏ nhất tại điểm đường cong chi phí
lưu kho và chi phí đặt hàng cắt nhau. Do đó, lượng đặt hàng tối ưu sẽ được xác
định như sau:
C

thời vụ hoặc sản xuất những hàng hóa nhạy cảm với thị trường. Do đó, để
đảm bảo cho sự ổn định của sản xuất, doanh nghiệp cần phải duy trì một
lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn. Lượng dự trữ an toàn tùy thuộc vào tình
hình cụ thể của doanh nghiệp.
Lượng dự trữ an toàn là lượng hàng hóa dự trữ thêm vào lượng dự trữ
tại thời điểm đặt hàng.
Mô hình lượng đặt hàng theo lô sản xuất (POQ- Production Order
Quantity Model)
Trong mô hình EOQ, chúng ta đã giả định toàn bộ lượng hàng của một
đơn hàng được nhận ngay trong một chuyến hàng. Tuy nhiên, có những
trường hợp doanh nghiệp nhận hàng dần dần trong một thời gian nhất định.
Trong trường hợp như vậy chúng ta phải tìm kiếm một mô hình đặt hàng khác
với EOQ.
Một biến thể của mô hình EOQ cơ bản là mô hình lượng đặt hàng theo
lô sản xuất (POQ). Mô hình lượng đặt hàng theo lô sản xuất được áp dụng
trong trường hợp lượng hàng được đưa đến một cách liên tục, hàng được tích
lũy dần cho đến khi lượng đặt hàng được tập kết hết. Mô hình này cũng được
áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp vừa sản xuất vừa bán hoặc doanh
nghiệp tự sản xuất lấy vật liệu để dùng. Trong những trường hợp này cẩn phải
13
quan tâm đến mức sản xuất hàng ngày của nhà sản xuất hoặc mức cung ứng
của nhà cung ứng.
Trong mô hình POQ, cơ bản giống như mô hình EOQ, điểm khác biệt
duy nhất là hàng được đưa đến nhiều chuyến. Bằng phương pháp giống như
EOQ có thể tính được lượng hàng tối ưu Q*.
Nếu ta gọi:
p: Mức cung ứng (hay mức sản xuất) hàng ngày
d: Nhu cầu sử dụng hàng ngày;
t: Thời gian cung ứng.
Ta có:

và do đó chi phí lưu kho sẽ tăng. Xét về mức chi phí đặt hàng thì lượng đặt
14
hàng tăng lên, sẽ dẫn đến chi phí đặt hàng giảm đi. Mục tiêu đặt ra là chọn
mức đặt hàng sao cho tổng chi phí về hàng dự trữ hàng năm là bé nhất.
Trường hợp này ta áp dụng mô hình khấu trừ theo số lượng QDM. Tổng
chi phí về hàng tồn kho được tính như sau:
TC = C
1
+ C
2
+ P.D
Trong đó: Chi phí mua hàng = P.D
Để xác định được lượng hàng tối ưu (Q*) trong một đơn hàng, ta tiến
hành 4 bước sau đây:
Bước 1: Xác định các mức sản lượng đătj hàng tối ưu theo các mức
đơn giá khác nhau theo công thức:
(Q
*
)
2
= 2DC
2
/ IP
Trong đó:
I: Tỷ lệ % chi phí tồn kho tính theo giá mua một đơn vị hàng
P: Giá mua 1 đơn vị hàng
Chi phí lưu kho C
1
= I.P (vì giá cả của hàng hóa là 1 biến số
trong tổng chi phí lưu kho).

Suy ra: P × MP ≥ ML – P × ML
P(MP + ML) ≥ ML
P ≥
Từ biểu thức cuối cùng này, ta có thể định ra chính sách tồn kho: chỉ
tăng thêm 1 đơn vị tồn kho nếu xác suất bán được cao hơn hoặc bằng tỷ số
giữa tổn thất cận biên và tổng lợi nhuận cận biên với tổn thất cận biên.
Mô hình JIT (Just In Time):
JIT là một hình thức quản lý dựa trên sự cải tiến không ngừng và giảm
thiểu tối đa sự lãng phí trong tất cả các bộ phận của công ty, hay hiểu một
cách đơn giản hơn thì JIT là hệ thống sản xuất chỉ sản xuất đúng sản phẩm
với đúng số lượng tại đúng nơi và đúng thời điểm.
Mục tiêu quan trọng nhất của JIT là hệ thống cân bằng. Đó là kết quả
của việc vận hành nhanh chóng và liên tục các đối tượng lao động thông qua
hệ thống trên cơ sở sử dụng tài nguyên hiệu quả với thời gian sản xuất là ngắn
nhất. Để đạt mục tiêu trên cần các mục tiêu hỗ trợ sau:
Hạn chế gián đoạn trong vận hành.
Thực hiện hệ thống linh động.
Giảm thời gian hiệu chỉnh và thời gian gia công.
16
Tối thiều hóa hàng tồn kho.
Loại bỏ lãng phí.
Để hoàn thành mục tiêu trên, hệ thống JIT được thiết kế và vận hành
dựa vào các nền tảng sau:
1. Thiết kế sản phẩm
2. Thiết kế quá trình
3. Hoạch định và kiểm soát sản xuất
4. Các yếu tố về tổ chức nhân sự
- Các nền tảng của hệ thống JIT:
Thiết kế sản phẩm: Có 3 yếu tố thiết kế sản phẩm chủ yếu đối với hệ
thống JIT, đó là:

Thông thường thời gian sản xuất chủ yếu bao gồm: thời gian tác
nghiệp, thời gian phục vụ, thời gian điều chỉnh, thời gian di chuyển và thời
gian chờ đợi. Trong đó thời gian tác nghiệp là yếu tố thời gian chủ đạo quyết
định hiệu quả sản xuất. Sản xuất loạt nhỏ sẽ rút ngắn thời gian sản xuất chủ
yếu bằng cách: giảm thời gian tác nghiệp do việc giảm số chi tiết gia công
trong một loạt, đồng thời tăng hiệu suất làm việc của máy hay công nhân. Có
thể giảm bớt thời gian chờ đợi bằng cách điều độ tốt nguyên liệu, công nhân
và máy móc thiết bị. Riêng thời gian điều chỉnh là yếu tố thời gian xuất hiện
thường xuyên trong sản xuất loạt nhỏ do việc thay đổi chủng loại, mẫu mã sản
phẩm sau mỗi loạt gia công.
Giảm thời gian hiệu chỉnh:
Các nguyên lý sau đây có thể áp dụng cho bất kỳ kiểu hiệu chỉnh nào:
Tách riêng hiệu chỉnh trong ra khỏi hiệu chỉnh ngoài. “Hiệu chỉnh
trong” được tiến hành khi máy đã ngừng hẳn. “Hiệu chỉnh ngoài” thì ngược
lại, ta có thể thực hiện khi máy đang chạy.
Chuyển hiệu chỉnh trong thành hiệu chỉnh ngoài càng nhiều càng tốt,
bằng cách đảm bảo điều kiện tác nghiệp như tập hợp dụng cụ, chuẩn bị đồ gá
lắp hiệu chỉnh… Tất cả đều được chuẩn bị trước.
Sắp xếp hợp lý công việc hiệu chỉnh. Có thể giảm thiều các hoạt động
hiệu chỉnh ngoài bằng cách bố trí chỗ làm việc hợp lý, đặt dụng cụ và khuôn
gá gần nơi sử dụng, bảo dưỡng máy và dụng cụ gá lắp ở trạng thái tốt. Có thể
giảm thiểu các hoạt động hiệu chỉnh trong bằng cách đơn giản hoặc bỏ hẳn
việc hiệu chỉnh bằng cơ cấu bắt nhanh và chốt định vị, giúp công nhân có thể
18
hiệu chỉnh ngay quy cách khác nhau trong từng loạt gia công. Tránh dùng các
dụng cụ ảnh hưởng đến việc dao động của máy.
Thực hiện việc hiệu chỉnh song hành bằng cách tăng cường nhân sự
cho việc điều chỉnh để rút ngắn thời gian, hoặc giao nhiệm vụ hiệu chỉnh cho
một nhóm công nhân chuyên môn đảm trách.
Mặt bằng sản xuất- hạn chế sản phẩm dở dang:

bằng và những bất lợi khác nữa.
Hoạch định và kiểm soát sản xuất:
5 yếu tố đặc biệt quan trọng cho hệ thống JIT:
Sản xuất đều đặn:
Ngoài mục tiêu giảm các lãng phí, hệ thống JIT còn cố gắng duy trì
mức sản xuất đều đặn nhằm dễ dàng đáp ứng các yêu cầu sản xuất trên dây
chuyền lắp ráp sản phẩm. Để thực hiện sản xuất đều đặn, ta phải biết nhu cầu
lượng hàng cần sản xuất theo kế hoạch. Phương thức giảm biến động nhu cầu
là cần dự báo chính xác kết hợp với kế hoạch sản xuất phải được lập cụ thể
cho từng tháng, thậm chí cho từng 10 ngày hoặc theo đơn hàng. Một cách tiếp
cận sản xuất đều đặn nữa là san bằng nhu cầu quy hoạch dài hạn. Nhu cầu
được chia thành những số lượng nhỏ theo thời gian và trải càng đều càng tốt
trong suốt giai đoạn lập kế hoạch.
Hệ thống kéo:
Áp dụng hệ thống này vào trong sản xuất đòi hỏi một sự đảo lộn trong
quá trình bình thường gọi là hệ thống đẩy. Trong hệ thống đẩy, người ta đặt ra
một kế hoạch trước cho một loạt các chỗ làm việc và mỗi chỗ làm việc sẽ đẩy
các chi tiết sản phẩm vừa hoàn thành sang chỗ làm việc kế đó. Ngược lại, với
hệ thống kéo, công nhân đi đến chỗ làm việc đứng trước và chỉ lấy các chi
tiết, sản phẩm và nguyên vật liệu cần thiết đủ để gia công mà thôi. Khi đầu ra
của mình được lấy đi, công nhân ở chỗ làm việc trước đó biết là đã đến lúc
phải sản xuất thêm và họ sản xuất đủ để điền đầy số lượng vừa được lấy đi.
Còn nếu đầu ra chưa được lấy đi thì công nhân ở chỗ làm việc đó chỉ việc
ngưng sản xuất, không làm quá mức cần thiết. Mặc dù khái niệm về sản xuất
kéo là đơn giản nhưng khó thực hiện vì nó khác với phương thức lập kế hoạch
từ trước tới nay. Sau nhiều năm áp dụng hệ thống kéo, Ohno thấy cần phải
đưa hệ thống Kanban vào để tăng cường kiểm soát quá trình kéo tại nơi làm
việc.
Hệ thống kiểm soát sản xuất Kanban:
20

sự hỗ trợ về công nghệ, thiết bị và quản trị. Hệ thống JIT đã thực sự thay đổi lề
lối làm việc trong giao nhận hàng của nhà cung cấp với nhà sản xuất. Khuynh
hướng về sách lược của nhà cung cấp từ khi có triết lý JIT như sau:
21
1. Đóng gần khách hàng, địa bàn của nhà sản xuất.
2. Bố trí các kho hàng gần nơi sản xuất; thậm chí các nhà cung cấp khác
nhau hợp lại dùng chung một kho. Các kho hợp nhất được dùng làm
điểm chuyển hàng của nhà cung cấp khi khoảng cách địa lý quá xa với
địa bàn của nhà sản xuất, không thể cung cấp hàng hằng ngày hoặc
thường xuyên. Sử dụng các kho hàng nhỏ để cung cấp các chi tiết thường
xuyên.
3. Sử dụng các container tiêu chuẩn hóa và cung cấp hàng theo đúng kế
hoạch định trước.
4. Sử dụng hệ thống tổ chức giao hàng chứng nhận: là đơn vị trung gian có
uy tín nhận trách nhiệm giao hàng thường xuyên cho nhà sản xuất. Nhờ
vậy giảm được thủ tục giấy tờ, nhất là đối với hàng hóa xuất nhập khẩu,
và hạn chế việc kiểm tra chất lượng khi giao hàng.
Các yếu tố về tổ chức nhân sự:
Gồm 3 yếu tố đặc biệt quan trọng sau:
(1)Tận dụng khả năng công nhân
(2)Cải tiến liên tục
(3) Nhấn mạnh vai trò của nhà quản lý cấp trung
22
Bảng tóm tắt các mục tiêu và nền tảng chủ yếu của JIT
Hệ thống JIT đem lại những lợi ích quan trọng thu hút sự chú ý của
các công ty như:
1. Giảm mức tồn kho nguyên liệu, bán thành phẩm cũng như thành
phẩm.
2. Giảm các yêu cầu về không gian
3. Tang chất lượng sản phẩm, giảm phế phẩm

cho biết lợi nhuận sau thuế chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu.
ROS = × 100(%)
Tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu (Gross Margins)
Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
sau thuế nếu không tính đến chi phí tài chính, chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu = × 100 (%) = ×100 (%)
Do đề tài của nghiên cứu này là: “Tác động của quản lý hàng tồn kho
đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp”. Mà hàng tồn kho chỉ ảnh hưởng đến
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp còn ROA và ROE lại phụ thuộc vào lợi
nhuận sau thuế bao gồm cả ba hoạt động chính của doanh nghiệp. Do vậy,
trong nghiên cứu này tôi sử dụng hai chỉ tiêu để đo khả năng sinh lời của
doanh nghiệp đó là doanh lợi doanh thu (ROS) và tỷ suất lợi nhận gộp.
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status