Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
1
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
2
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong bất kể nền kinh tế nào, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường như
hiện nay, dù là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp thương mại muốn
sản xuất kinh doanh luôn luôn cần một lượng vật tư hàng hóa dự trữ tồn kho
để đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra bình thường. Để hoạt động
sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường và có hiệu quả, tạo ra được lợi nhuận
thì quản lý tốt hàng tồn kho được doanh nghiệp chú trọng hàng đầu.
Quản lý vật tư hàng hóa dự trữ tồn kho rất quan trọng vì vật tư hàng hóa
dự trữ tồn kho là một trong những bước đệm cần thiết và quan trọng cho quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
muốn hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra suôn sẻ, không bị gián đoạn thì
luôn phải đảm bảo đủ vật tư, nguyên vật liệu, hàng hóa cho các quá trình, các
công đoạn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không thể
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đến đâu, mua hàng đến đó mà phải
có dự trữ. Vì vậy việc đảm bảo tồn kho dự trữ hợp lý là rất quan trọng. Dự trữ
tồn kho hợp lý đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra
bình thường, tránh gây lãng phí cho việc bảo quản bảo quản và quản lý hàng
tồn kho.
Vật tư hàng hóa tồn kho tồn tại ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp và bao gồm nhiều loại. Vì vậy mà quản lý hàng
tồn kho là một công việc rất phức tạp. Nhà quản lý luôn luôn phải tính toán kỹ
càng để có được một lượng tồn kho hợp lý.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp, phân loại doanh nghiệp:
1.1.1.1. Khái niệm:
Đi từ khái niệm xí nghiệp:
Khái niệm doanh nghiệp thường được làm rõ thông qua phạm trù xí
nghiệp. Người ta hiểu “xí nghiệp là một đơn vị kinh tế được tổ chức một cách
có kế hoạch để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm (dịch vụ)”. Xí nghiệp được coi
là một hệ thống có các đặc trưng cơ bản là vừa phụ thuộc, lại vừa không phụ
thuộc vào cơ chế kinh tế.
Với tư cách là hệ thống không phụ thuộc vào cơ chế kinh tế cụ thể, xí
nghiệp mang ba đặc trưng cơ bản: sự kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra sản
phẩm (dịch vụ), nguyên tắc cân bằng tài chính và nguyên tắc hiệu quả.
Với tư cách là hệ thống phụ thuộc vào cơ chế kinh tế cụ thể sẽ có xí
nghiệp hoạt động trong cơ chế kế hoạch hóa tập chung và trong cơ chế thị
trường.
Từ đó định nghĩa “Doanh nghiệp là một xí nghiệp hoạt động trong cơ chế
thị trường”
Đi từ khái niệm tổ chức:
Tổ chức là một nhóm có tối thiểu từ 2 người trở lên, cùng hoạt động với nhau
một cách quy củ theo những nguyên tắc, thể chế và các tiêu chuẩn nhất định
nhằm đặt ra và thực hiện các mục tiêu chung.
5
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
Chuyên đề tốt nghiệp
Từ đó có thể hiểu doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt động trong cơ
chế thị trường.
Đi từ luật doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
1.1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp:
Công ty trách nhiệm hữu hạn:
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong
đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng không vượt quá năm
mươi. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của công ty trong phạm vi số vốn cam kết đóng góp. Phần vốn góp của thành
viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định công ty trách nhiệm hữu hạn có
tư cách pháp nhân và không được quyền phát hành cổ phần.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp có một tổ
chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu của công ty chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và các tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn
điều lệ của công ty. Công ty có tư các pháp nhân và không có quyền phát
hành cổ phần. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoạt động theo
luật doanh nghiệp.
Công ty cổ phần:
7
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
Chuyên đề tốt nghiệp
Công ty cổ phần là doanh nghiệp . Trong đó, vốn điều lệ được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông có thể là cá nhân hay tổ chức
với số lượng tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. Cổ đông chỉ
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong
phạm vi số vốn họ đã góp. Cổ dông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần
cho người khác. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và có quyền phát hành
chứng khoán các loại để huy động vốn.
Công ty hợp danh:
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là
chủ sở hữu chung, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành
viên hợp danh), ngoài ra còn có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp
danh là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa
vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
Doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ là doanh nghiệp vừa thực hiện chức năng
sản xuất vừa thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ.
1.1.2. Tài sản của doanh nghiệp:
1.1.2.1. Khái niệm:
Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng. Tài
sản là các nguồn lực được kiểm soát bởi đơn vị như là kết quả của các sự kiện
trong quá khứ và từ các lợi ích tiềm tang mà đơn vị có thể thu được.
Trên thực tế tài sản tồn tại ở nhiều dạng khác nhau. Mỗi loại tài sản lại có
một đặc tính, đặc điểm riêng biệt.
1.1.2.2. Phân loại:
1. Tài sản ngắn hạn:
9
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
Chuyên đề tốt nghiệp
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu
và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn
trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh
nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng
đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
bao gồm: vốn bằng tiền; các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn; các khoản phải
thu; hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh sản xuất thì giá trị của các tài sản ngắn
hạn thường chiếm tỷ trọng lớn từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản của doanh
nghiệp.
Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên đáp ứng khả năng thanh toán
nhanh của doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn là một bộ phận của vốn sản xuất nên nó vận động và luân
chuyển không ngừng trong mọi giai doaanj của quá trình sản xuất kinh doanh.
Tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên
trong tương lai. Bất kỳ lúc nào ở đầu vào hay đầu ra của một doanh nghiệp có
các nguồn không sử dụng ngay khi nó sẵn sang thì đó tồn kho sẽ xuất hiện.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 thì hàng tồn kho là những tài sản:
- Được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kỳ kinh doanh bình thường.
- Đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang.
- Nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất,
kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ.
11
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
Chuyên đề tốt nghiệp
Tùy từng loại hình doanh nghiệp mà các dạng tồn kho sẽ khác nhau và có
nội dung hoạch định, kiểm soát hàng tồn kho cũng khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp làm công tác dịch vụ, sản phẩm của họ là vô
hình như dịch vụ của các công ty tư vấn, các công ty giải trí… thì hàng tồn
kho chủ yếu là các dụng cụ, phụ tùng và phương tiện kỹ thuật dùng vào hoạt
động của họ. Đối với lĩnh vực này, nguyên vật liệu và sản phẩm tồn kho có
tính chất tiềm tàng và có thể nằm trong kiến thức tích tụ tích lũy trong năng
lực và kiến thức của nhân viên làm công việc đó.
Đối với lĩnh vực thương mại, doanh nghiệp mua hàng hóa để bán kiếm lời
thì hàng tồn kho của họ chủ yếu là hàng hóa mua về, hàng chuẩn bị đến tay
người tiêu dùng. Trong lĩnh vực này doanh nghiệp hầu như không có dự trữ là
bán thành phẩm trên dây chuyền như trong lĩnh vực sản xuất.
Đối với doanh nghiệp sản xuất chế tạo, sản phẩm của họ phải trải qua một
quá trình chế biến lâu dài để biến nguyên vật liệu thành sản phẩm làm ra cuối
cùng thì hàng tồn kho bào gồm hầu hết các loại từ nguyên vật liệu đến bán
thành phẩm trên dây chuyền sản xuất và bán thành phẩm cuối cùng trước khi
đến tay người tiêu dùng.
1.2.2. Đặc điểm của hàng tồn kho:
Hàng tồn kho của doanh nghiệp thường bao gồm nhiều loại, có vai trò,
công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, đòi hỏi
Đối với doanh nghiệp hàng tồn kho giữ một vị trí quan trọng trong công
tác quản trị doanh nghiệp. Tồn kho xuất phát từ chính yêu cầu sản xuất và lưu
thông hàng hóa. Hàng hóa tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của
13
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh nghiệp (thường chiếm 40%-50%). Trong sản xuất bất kỳ doanh nghiệp
nào cũng phải có một lượng hàng tồn kho tương ứng (tư liệu sản xuất, tư liệu
tiêu dùng, hàng hóa thành phẩm, hàng hóa dở dang…) mà bất kỳ thời điểm
nào cũng cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy việc quản
lý, kiểm soát hàng tồn kho vô cùng quan trọng, nó góp phần đảm bảo cho quá
trình sản xuất được diễn ra bình thường, liên tục, đều đặn, có hiệu quả và lực
lượng vật chất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách thường
xuyên liên tục và đồng bộ. Lượng tồn kho và trình độ quản lý có ảnh hưởng
trực tiếp đến tất cả các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy để nâng
cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải
nghiên cứu các biện pháp, tìm phương án xác định điểm cân bằng giữa mức
độ đầu tư cho hàng tồn kho và lợi ích thu được do thỏa mãn nhu cầu sản xuất
và nhu cầu tiêu dùng với chi phí thấp nhất.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, quản lý hàng tồn kho đóng vai trò
quan trọng, với đặc điểm có tính cơ động cao, quản lý hàng tồn kho đảm bảo
cho quá trình kinh doanh thương mại được tiến hành liên tục, thông suốt và có
hiệu quả, đồng thời góp phần làm ổn định thị trường hàng hóa. Lượng tồn kho
trong lưu thông được kết hợp với lượng tồn kho quốc gia góp phần điều tiết vĩ
mô nền kinh tế.
1.2.4. Phân loại hàng tồn kho:
Hàng tồn kho trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, đa dạng về chủng
loại, khác nhau về đặc điểm, tính chất thương phẩm, điều kiện bảo quản,
nguồn hình thành có vai trò công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất
kinh doanh. Vì vậy, quản lý tốt hàng tồn kho, tính đúng, tính đủ giá gốc hàng
15
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
Chuyên đề tốt nghiệp
Hàng tồn kho được nhập từ các nguồn khác như hàng tồn kho được nhập từ
liên doanh, liên kết, hàng tồn kho được biếu tặng ….
Cách phân loại này giúp cho việc xác định các yếu tố cấu thành trong giá
gốc hàng tồn kho, nhằm tính đúng, tính đủ giá gốc hàng tồn kho theo từng
nguồn hình thành. Qua đó giúp doanh nghiệp đánh giá được mức độ ổn định
của nguồn hàng trong quá trình xây dựng kế hoạch, dự toán về hàng tồn kho.
Đồng thời việc phân loại chi tiết hàng tồn kho được mua từ bên ngoài và hàng
tồn kho mua nội bộ giúp cho việc xác định chính xác giá trị hàng tồn kho của
doanh nghiệp khi lập báo cáo tài chính hợp nhất.
1.2.4.3. Phân loại theo yêu cầu sử dụng:
Theo tiêu thức này hàng tồn kho được chia thành:
Hàng tồn kho sử dụng cho sản xuất kinh doanh phản ánh giá trị hàng tồn kho
được dự trữ hợp lý đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến
hành bình thường.
Hàng tồn kho chưa cần sử dụng phản ánh giá trị của hàng tồn kho được dự trữ
cao hơn mức hợp lý.
Hàng tồn kho không cần sử dụng phản ánh giá trị hàng tồn kho kém hoặc mất
phẩm chất không được doanh nghiệp sử dụng cho mục đích sản xuất.
Cách phân loại này giúp đánh giá mức độ hợp lý cảu hàng tồn kho, xác
định đối tượng cần lập dự phòng và mức giảm giá hàng tồn kho cần lập.
1.2.4.4. Phân loại hàng tồn kho theo kế hoạch dự trữ, sản xuất và tiêu thụ:
Theo tiêu thức này, hàng tồn kho được chia thành:
Hàng tồn kho dự trữ an toàn phản ánh hàng tồn kho dự trữ an toàn để hoạt
động kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục.
Hàng tồn kho dự trữ thực tế
16
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
Chuyên đề tốt nghiệp
- Nguyên liệu, vật liệu chính: Đặc điểm chủ yếu của nguyên liệu, vật liệu chính
là khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ cấu thành nên thực thể
sản phẩm. Toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu được chuyển vào giá trị sản
phẩm mới.
- Vật liệu phụ: là các loại vật liệu được sử dụng trong sản xuất để tăng chất
lượng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc phục vụ cho công việc quản lý
sản xuất, bao gói sản phẩm…. Các loại vật liệu này không cấu thành nên thực
thể sản phẩm.
- Nhiên liệu: là những thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản
xuất kinh doanh, phục vụ cho công nghệ sản xuất, phương tiện vận tải, công tác
quản lý … Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn, hay thể khí.
- Phụ tùng thay thế: là những vật tư dùng để thay thế, sửa chữa máy móc, thiết
bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ.
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: là những vật tư được sử dụng cho công
việc xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị
cần lắp và thiết bị không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp
đặt cho công trình xây dựng cơ bản.
- Vật liệu khác loại vật liệu khô: là các ng được xếp vào các loại trên. Các loại
vật liệu này do quá trình sản xuất loại ra như phế liệu, vật liệu thu hồi do
thanh lý TSCĐ….
Căn cứ vào nguồn gốc, nguyên liệu, vật liệu được chia thành:
- Nguyên liệu, vật liệu mua ngoài.
- Nguyên liệu, vật liệu tự chế biến gia công.
Căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng, nguyên liệu, vật liệu được chia
thành:
- Nguyên liệu, vật liệu trực tiếp dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh.
- Nguyên liệu, vật liệu dùng cho công tác quản lý.
- Nguyên liệu, vật liệu dùng cho các mục đích khác.
bán, hàng hóa gửi đi gia công chế biến.
Để đảm bảo thuận tiện, tránh nhầm lẫn cho công tác quản lý và hạch toán
số lượng, giá trị của mỗi loại nguyên vật liệu, dựa trên vai trò và công dụng
của nguyên vật liệu, các doanh nghiệp phải tiếp tục chi tiết từng loại nguyên
vật liệu. Từ đó hình thành nên “Sổ danh điểm nguyên vật liệu”. Sổ này xác
19
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
Chuyên đề tốt nghiệp
định thống nhất tên gọi, mã hiệu, quy cách, số hiệu, đơn vị tính, giá hạch toán
của từng danh điểm nguyên vật liệu.
Bảng 1: Mẫu “Sổ danh điểm nguyên vật liệu”
Kí hiệu Tên, nhãn hiệu,
quy cách NVL
Đơn vị
tính
Đơn giá
hạch
toán
Ghi chú
Nhó
m
Danh điểm
NVL
Nguyên vật liệu được nhập xuất kho thường xuyên nên đã phát sinh yêu
cầu quản lý nguyên vật liệu xuất nhập kho ở các doanh nghiệp. Mỗi daonh
nghiệp lại có phương thức kiểm kê khác nhau. Dưới đây là hai phương pháp
tổng hợp để kiểm kê nguyên liệu, vật liệu:
Phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX): là phương pháp theo dõi,
phản ánh thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho vật
tư hàng hóa trên sổ sách kế toán. Tình hình biến động tăng giảm vật tư hàng
hóa mua và nhập kho được phản ánh trên tài khoản “mua hàng”.
Phương pháp này thường áp dụng đối với các doanh nghiệp có nhiều
chủng loại nguyên vật liệu với quy cách, mẫu mã khác nhau, giá trị thấp và
được xuất thường xuyên. Phương pháp này có ưu điểm là giảm bớt công việc
hạch toán, nhưng độ chính xác về nguyên vật liệu xuất dùng cho các mục đích
khác nhau phụ thuộc và chất lượng của công tác quản lý tại kho, bến bãi.
1.3. Quản lý hàng tồn kho trong doanh nghiệp:
1.3.1. Khái niệm quản lý hàng tồn kho:
Quản lý hàng tồn kho là việc thực hiện các chức năng quản lý để lập kế
hoạch, tiếp nhận, cất trữ, vận chuyển, kiểm soát và cấp phát vật tư nhằm sử
dụng tốt nhất các nguồn lực phục vụ cho khách hàng, đáp ứng mục tiêu của
doanh nghiệp.
Quản lý hàng tồn kho là hoạt động kiểm soát sự luân chuyển hàng tồn kho
thông qua chuỗi giá trị từ việc xử lý trong sản xuất đến phân phối.
1.3.2. Vai trò, ý nghĩa của công tác quản lý hàng tồn kho:
Vai trò của công tác quản lý hàng tồn kho:
Đảm bảo cung ứng, dự trữ, dử dụng tiết kiệm các loại vật tư có tác động mạnh
mẽ đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được
diễn ra bình thường, theo đúng kế hoạch.
21
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
Chuyên đề tốt nghiệp
Thúc đẩy quá trình luân chuyển nhanh vật tư, sử dụng vốn hợp lý, có hiệu quả
và tiết kiệm chi phí.
Kiểm tra tình hình thực hiện cung cấp vật tư, đối chiếu với tình hình sản xuất,
kinh doanh và tình hình kho tang để kịp thời báo cáo cho bộ phận hu mua có
biện pháp khắc phục kịp thời.
Đảm bảo có đủ hàng hóa, thành phẩm để cung ứng cho thị trường.
Ý nghĩa của công tác quản lý hàng tồn kho:
- Trình độ tổ chức quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
Đối với mức dự trữ thành phẩm thường chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố:
- Sự phối hợp giữa khâu tiêu thụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp và khách hàng.
- Khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp.
1.3.4. Nội dung của quản lý hàng tồn kho:
Quản lý hàng tồn kho là tính lượng tồn kho tối ưu sao cho chi phí tồn kho
là nhỏ nhất. Vì vậy hoạt động quản lý hàng tồn kho được đặt trên cơ sở bốn
câu hỏi lớn:
Lượng đặt hàng là bao nhiêu vào thời điểm quy định;
Vào thời điểm nào thì bắt đầu đặt hàng;
Loại tồn kho nào được chú ý;
Có thể thay đổi chi phí tồn kho hay không.
Để trả lời được bốn câu hỏi này chúng ta cần hiểu rõ luồng dịch chuyển
vật chất trong hệ thống sản xuất của doanh nghiệp, đặc điểm của từng loại vật
tư, hàng hóa, các chi phí tồn kho liên quan. Đồng thời sử dụng các mô hình
quản lý hàng tồn kho để nghiên cứu và tìm ra giải pháp.
1.3.4.1. Luồng dịch chuyển vật chất trong hệ thống sản xuất:
Hàng tồn kho thường xuất hiện trong mọi công đoạn sản xuất nên nghiên
cứu luồng dịch chuyển vật chất trong hệ thống sản xuất, kinh doanh để thấy
được sự hiện diện của hàng tồn kho và các loại hàng tồn kho trong từng công
đoạn của quy trình sản xuất kinh doanh.
23
SV: Đặng Thị Thơ - MSV: 13122826
Chuyên đề tốt nghiệp
Hệ thống sản xuất được diễn tả như là sự chuyển hóa của các đầu vào qua
các phương tiện kỹ thuật chuyển hóa thành đầu ra. Xét trong hệ thống sản
xuất chế tạo, các đầu vào sản phẩm hữu hình, quá trình chuyển hóa có thể
biểu hiện ra như một quá trình dịch chuyển vật chất từ đầu vào đến đầu ra. Cụ