TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2013
Tên công trình
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG RỦI RO
TÍN DỤNG CỦA HIỆP ƯỚC BASEL II TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội
HÀ NỘI, 2013
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
WB Ngân hàng thế giới (World Bank)
BIS Ngân hàng thanh toán quốc tế (Bank for International
Settlements)
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế (The International Monetary Fund)
ECB Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (The European Central Bank)
CAR Hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio)
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
TMCP Thương mại cổ phần
RRTD Rủi ro tín dụng
CIC Trung tâm thông tin tín dụng (Credit Information Center)
MIS Hệ thống thông tin quản lý (Management Information System)
BIDV NHTHCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
VCB NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
nhuận, chiếm lĩnh thị phần, đồng thời quản lý rủi ro thật tốt.
Rủi ro trong hoạt động của ngân hàng là hết sức phức tạp, tiềm ẩn
trong mọi nghiệp vụ với mức độ nghiêm trọng cũng như tầm ảnh hưởng
khác nhau. Trong các hoạt động của ngân hàng, hoạt động tín dụng là hoạt
động chiếm tỷ trọng cao nhất, mang lại cho ngân hàng nhiều lợi nhuận nhất,
đồng thời, cũng là lĩnh vực có nhiều rủi ro nhất. Do vậy, lựa chọn một
phương pháp đo lường rủi ro tín dụng chính xác, từ đó có những biện pháp
xử lý, giải quyết kịp thời, hiệu quả đảm bảo cho sự phát triển bền vững,
đang là một vấn đề lớn hiện nay của các NHTM Việt Nam.
Rủi ro tín dụng được phản ánh chủ yếu thông qua tỷ lệ nợ xấu, đó là
các khoản nợ không còn khả năng sinh lời và khả năng được khách hàng
thanh toán thấp. Thời điểm ngày 31/06/2012, Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam chính thức công bố tỷ lệ nợ xấu theo tính toán của NHNN lên tới 8.6%,
tương đương 202 nghìn tỷ đồng. Còn tổ chức quốc tế Fitch Rating lại nhận
định con số nợ xấu hiện tại của hệ thống ngân hàng Việt Nam là khoảng
13%. Các NHTM Việt Nam hiện nay đang áp dụng phương pháp đo lường
nợ xấu theo Điều 6 hoặc Điều 7 của Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN ngày
22/04/2005 của NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử
lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (TCTD),
đã dẫn đến không có sự đồng nhất về phương pháp đo lường giữa các ngân
hàng, có sự khác biệt lớn giữa tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo của các ngân hàng
và theo sự đánh giá của các tổ chức bên ngoài.
2
Quý IV năm 2006, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát
triển Việt Nam (BIDV) đã chính thức được NHNN cho phép đo lường nợ
xấu theo Điều 7 của Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN. Giai đoạn từ năm
2011 đến hết quý III năm 2012, theo những báo cáo của BIDV, tỷ lệ nợ xấu
của BIDV đã gia tăng lên tới 2,77%. Đối với các NHTM, tỷ lệ nợ xấu được
xác định chính xác sẽ giúp cho chính sách xử lý nợ xấu được thực thi một
cách hiệu quả, đồng thời giúp cho các ngân hàng xác định được đúng mức
nghiên cứu khoa học của tác giả Nguyễn Phương Lam Thy (2011).
Đề tài nghiên cứu các quy định trong hiệp ước Basel II, từ đó thực
hiện việc phân tích và đánh giá tình hình ứng dụng Basel II tại Ngân hàng
Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB). Tìm hiểu các nguyên nhân
và khó khăn trong quá trình ứng dụng hiệp ước Basel II vào công tác quản
trị rủi ro của ngân hàng MHB. Đề xuất những giải pháp giúp nâng cao khả
năng ứng dụng hiệp ước Basel II trong việc xây dựng hệ thống quản trị rủi
ro, tính toán nhu cầu vốn tối thiểu cần thiết với những rủi ro cơ bản trong
ngân hàng MHB.
“Xây dựng quy trình áp dụng Basel II vào quản trị rủi ro trong hệ
thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ kinh
tế của tác giả Trần Thị San (2010).
Đề tài nghiên cứu và chỉ ra các quan niệm về rủi ro của hệ thống ngân
hàng. Những quy định của Basel II trong công tác quản trị rủi ro của các
ngân hàng thương mại.
Đề tài cũng nghiên cứu và phân tích thực trạng về quản lý rủi ro của
BIDV, thông qua việc đánh giá hiệu quả kinh doanh, quy mô vốn chủ sở
hữu, mức độ rủi ro của các công cụ tín dụng, của thị trường. Từ đó đánh giá
các điều kiện thực hiện hiệp ước Basel II tại BIDV: xây dựng hệ thống xếp
hạng tín dụng nội bộ, phân loại nợ, thực hiện chuẩn mực kế toán quốc tế,
đào tạo nhân lực. Đề tài còn nêu ra kinh nghiệm áp dụng Basel II tại các
quốc gia trên thế giới.
Cuối cùng, đề tài đi sâu vào quy trình áp dụng hiệp ước Basel II vào
BIDV. Bao gồm: xây dựng quy trình quản trị rủi ro tại BIDV, nêu ra các giải
pháp thực thi về hệ thống thông tin, đảm bảo an toàn vốn, hoàn thiện hệ
thống kiểm tra nội bộ, quản lý nhân lực.
“Ứng dụng hiệp ước Basel II vào hệ thống quản trị rủi ro tại các
4
ngân hàng thương mại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả
Chu Thị Hương Giang (2009).
có để một ngân hàng thương mại có thể áp dụng phương pháp đo lường rủi
ro tín dụng của hiệp ước Basel II.
Thứ hai, đề tài nghiên cứu phương pháp đo lường nợ xấu hiện tại của
BIDV: (i) Phương pháp đo lường nợ xấu tại BIDV (ii) Thực trạng nợ xấu tại
BIDV (iii) Đánh giá phương pháp đo lường nợ xấu tại BIDV.
Thứ ba, xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện các điều kiện để áp
dụng phương pháp đo lường rủi ro tín dụng của hiệp ước Basel II cho BIDV.
Các kiến nghị để áp dụng phương pháp đo lường rủi ro tín dụng này cho hệ
thống ngân hàng thương mại của Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Phương pháp đo lường rủi ro tín dụng
tại BIDV.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Do còn nhiều khó khăn trong việc thu thập số liệu và thông tin nên
nhóm nghiên cứu lấy Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển
Việt Nam làm điểm nghiên cứu cho việc ứng dụng phương pháp đo lường
rủi ro tín dụng của hiệp ước Basell II vào hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam. Số liệu tập trung là giai đoạn 2006 – 2012.
5. Phương pháp nghiên cứu
Với một đề tài nghiên cứu về kinh tế và cụ thể là trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng thì đề tài sẽ kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác
nhau, trong đó các phương pháp nghiên cứu về tài chính, mô hình toán kinh
tế và quản lý học đóng vai trò quan trọng. Cụ thể:
Thứ nhất, đề tài sẽ vận dụng phương pháp tổng quan nhất để nghiên
cứu khoa học đó là lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm duy vật
biện chứng, và nhất là học thuyết kinh tế chính trị của Mác.
Thứ hai, đề tài sẽ vận dụng các phương pháp định tính và định lượng
trong nghiên cứu kinh tế. Về định lượng đó là các phương pháp thu thập và
6
xử lý số liệu thông qua các bảng biểu, mô hình toán kinh tế,… Về định tính,
thức vô cùng quan trọng, cấp phần lớn tín dụng cho các doanh nghiệp và các
chủ thể khác trong nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng có hai đặc trưng cơ bản:
• Một là, sự tin tưởng, tín nhiệm giữa ngân hàng và khách hàng
• Hai là, tính thời hạn và hoàn trả.
“Sự tin tưởng” giữa ngân hàng và khách hàng đòi hỏi mức độ tin
tường cao, bởi trong quan hệ tín dụng nếu như không có sự tin tưởng cao thì
độ rủi ro tín dụng sẽ cao và có ảnh hưởng xấu. Khách hàng không chỉ là
người đáng tin cậy theo những tiêu chuẩn đạo đức xã hội mà điều quan trọng
hơn họ phải chứng minh được khả năng trả nợ và ý chí trả nợ của mình.
“Tính thời hạn và hoàn trả” quan hệ tín dụng là sự vận động độc lập
tương đối giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn. Khách hàng phải có
trách nhiệm hoàn trả khoản vay theo cam kết: đúng hạn cả gốc và lãi cho
ngân hàng.
8
Do đó, khi một trong hai đặc trưng trên bị vi phạm sẽ dẫn tới rủi ro tín
dụng (RRTD) cho ngân hàng. “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong
quá trình cho vay của ngân hàng, biểu hiện thực tế qua việc khách hàng
không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng”.
Như vậy, khi đến hạn mà khách hàng trả chậm, trả không đúng hạn
hoặc không trả có nghĩa là rủi ro tín dụng đã xảy ra.
Ngoài khái niệm trên, theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thì
RRTD lại được hiểu là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên
đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối
với ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là
nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn.
Theo Joel Bessis (Risk management in Banking 2001) rủi ro tín
dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc đó
là sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay.
Theo khoản 1 điều 1 Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN của Ngân
1.1.2.4. Nợ xấu
Nợ xấu chính là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà xuất hiện khả
năng không thu hồi được. Các khoản này phát sinh là do ngân hàng thẩm
định thiếu chính xác, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản, doanh nghiệp
mất khả năng thanh toán hoặc cố ý không trả nợ… Nợ xấu sẽ phản ánh một
cách rõ nét RRTD của ngân hàng thông qua việc đánh giá cả thời hạn quá
hạn của khoản vay và tiêu chí đánh giá rủi ro của khoản vay. Nợ xấu được
phản ánh rõ nhất qua các chỉ tiêu:
(i) Tỷ lệ nợ xấu = nợ xấu / tổng dư nợ
(ii) Tỷ lệ nợ xấu / vốn chủ sở hữu
(iii) Tỷ lệ nợ xấu / quỹ dự phòng tổn thất
(iv) Tỷ lệ nợ xấu / tổng giá trị tài sản đảm bảo
1.1.2.5. Dự phòng rủi ro tín dụng (DPRRTD)
Dự phòng rủi ro (DPRR) đánh giá khả năng chi trả của ngân hàng khi
10
rủi ro xảy ra. Mục đích của việc sử dụng DPRR là nhằm bù đắp những tổn
thất đối với những khoản nợ của ngân hàng xảy ra trong trường hợp khách
hàng không có khả năng chi trả hoặc do giải thể, phá sản, chết, mất tích.
DPRRTD được tính trên số dư nợ gốc của khách hàng bao gồm:
• Dự phòng cụ thể: bảo hiểm rủi ro cụ thể cho từng khoản vay
• Dự phòng chung: bảo hiểm rủi ro chung không xác định trong danh
mục tín dụng và toàn bộ dự phòng được tính vào chi phí hoạt động
của ngân hàng. Các chỉ số thể hiện DPRRTD:
(i) Tỷ lệ DPRRTD = DPRRTD được trích lập / tổng dư nợ cho
kì báo cáo
(ii) Hệ số khả năng bù đắp các khoản cho vay bị mất =
DPRRTD được trích lập / dư nợ bị xóa
Trong số các chỉ tiêu phản ánh RRTD được trình bày phần trên, nợ
xấu được coi là chỉ tiêu đánh giá quan trọng nhất, phản ánh được RRTD
đang ở mức cao.
• Khoản cho vay được đảm bảo bằng tài sản nhà ở
• Khoản cho vay được đảm bảo bằng bất động sản thương mại
• Khoản cho vay được đảm bảo bằng tài sản khác
Việc phân loại các khoản cho vay theo cách nêu trên phù hợp với các
thông lệ đã được phổ biến rộng rãi trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, một
số ngân hàng có thể sử dụng các định nghĩa khác trong hệ thống quản lý và
đo lường rủi ro của mình. Mặc dù Uỷ ban không bắt buộc các ngân hàng
phải thay đổi cách quản lý hoạt động kinh doanh và cách quản lý rủi ro của
họ, các ngân hàng sẽ buộc phải có cách quản lý phù hợp đối với từng loại
hình tài sản có nhằm đảm bảo rằng họ đáp ứng được yêu cầu về vốn tối
thiểu.
Đối với mỗi nhóm tài sản được quản lý theo IRB, có ba yếu tố chính
là:
• Thành tố rủi ro: là các ước lượng của ngân hàng về các yếu tố rủi
ro, trong đó có một số giá trị là ước lượng của các cơ quan quản lý.
• Hàm số rủi ro: là cách thức mà các thành tố rủi ro chuyển hoá
12
thành giá trị tài sản được điều chỉnh theo rủi ro và cũng như để xác định yêu
cầu về vốn.
• Các yêu cầu tối thiểu: là các chuẩn mực tối thiểu mà ngân hàng bắt
buộc phải đạt được để có thể áp dụng được IRB cho một loại hình tài sản có
nào đó.
Đối với rất nhiều loại hình tài sản có, Uỷ ban đã đưa ra hai phương
pháp tiếp cận chính là: phương pháp tiếp cận cơ bản và phương pháp tiếp
nâng cao. Theo phương pháp tiếp cận xếp hạng nội bộ cơ bản F – IRB
(Founded – Internal Ratings Based), như một thông lệ chung, ngân hàng
sẽ chủ yếu dùng các ước lượng của mình để xác định PD (xác suất khách
hàng không trả được nợ) và sau đó dựa thêm vào các ước lượng của các cơ
quan chủ quản để xác định các thành tố rủi ro khác. Theo phương pháp tiếp
cận xếp hạng nội bộ nâng cao A – IRB (Advanced Internal Ratings
lập dự phòng khắc phục tổn thất cho từng khoản vay, từng khách hàng.
Như vậy để có thể đưa ra một chính sách vốn như thế nào là cần thiết
để đối mặt với rủi ro thì các ngân hàng sẽ phải ước lượng mức độ tổn thất
không dự tính trong một khoảng thời nhất định, từ đó ngân hàng sẽ ước
lượng được mức vốn kinh tế đủ đề bù đắp được mức độ tổn thất không dự
tính được.
14
1.2.2.1. PD (Probability of Default – xác suất khách hàng không trả được
nợ)
PD là tham số đo lường khả năng xảy ra rủi ro tín dụng tương ứng
trong một khoảng thời gian, thường là một năm. Cơ sở của xác suất này là
các số liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản
nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được. Theo yêu
cầu của Basel II, để tính toán được nợ trong vòng một năm của khách hàng,
ngân hàng phải căn cứ vào số liệu dư nợ của khách hàng trong vòng ít nhất
là 5 năm trước đó. Những dữ liệu được phân theo 3 nhóm sau:
• Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách
hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng
• Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý,
khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng
tăng trưởng của ngành,…
• Những dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng
báo hiệu khả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn
mức thấu chi…
Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ
đó tính được xác xuất không trả được nợ của khách hàng. Đó có thể là mô
hình tuyến tính, mô hình probit… và thường được xây dựng bởi các tổ chức
tư vấn chuyên nghiệp.
1.2.2.2. LGD (Losses Given Default – Tỷ lệ mất vốn dự kiến)
LGD là những tốn thất phát sinh trên cơ sở vỡ nợ của khách hàng,
như sau:
EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng
bình quân
Trong đó, LEQ – Loan Equivalent Exposure là tỷ trọng phần vốn chưa
sử dụng có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không
trả được nợ. LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân chính là
phần dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức
dư nợ bình quân.
16
Ngoài 3 cấu thành trong công thức tính xác suất rủi ro thu hồi được
(EL) đã trình bày ở những mục trên, khi đưa vào sử dụng công thức tính EL,
các ngân hàng cần phải tính toán kỳ hạn hiệu lực của các khoản tiền trả theo
các hợp đồng tín dụng.
Đối với các ngân hàng sử dụng tiếp cận cơ sở (F-IRB) cho tín dụng
công ty, kỳ hạn hiệu lực (M) là 2,5 năm - ngoại trừ các giao dịch repo thì M
là 6 tháng. Các cơ quan quản lý nhà nước có thể quyết định bắt buộc tất cả
các ngân hàng thuộc thẩm quyền quản lý của mình (tức là các ngân hàng áp
dụng các phương pháp tiếp cận cơ bản và tiếp cận nâng cao) đo lường M cho
mỗi khoản tín dụng sử dụng các định nghĩa được nêu dưới đây.
Kỳ đáo hạn hiệu dụng M được xác định là giá trị lớn hơn giữa một
năm và kỳ hạn có hiệu lực còn lại tính bằng năm. Trong tất cả các trường
hợp, M sẽ không lớn hơn 5 năm.
Đối với một công cụ phụ thuộc vào một lịch trình đã xác định của các
dòng tiền, kỳ hạn hiệu lực M được xác định như sau:
Kỳ hạn hiệu lực M = /
Trong đó CF
t
chỉ dòng tiền (gốc, lãi và phí) mà bên vay theo hợp đồng
sẽ phải trả vào kỳ thứ t.
1.3. Điều kiện áp dụng phương pháp đo lường RRTD của hiệp ước Basel
riêng biệt: (a) rủi ro không trả được nợ của người vay, và (b) các yếu tố đặc
trưng của giao dịch.
• Tiêu chuẩn thứ nhất cần được định hướng đến rủi ro không trả
được nợ của người vay. Các rủi ro đối với cùng một người vay sẽ được quy
định thành một mức đánh giá người vay, bất kể sự khác biệt về bản chất của
từng giao dịch cụ thể. Tùy vào từng khoản cho vay như cho vay đối với
doanh nghiệp, ngân hàng, nhà nước hay cho vay bán lẻ mà mỗi một ngân
hàng sẽ chia thành các nhóm riêng biệt ý nghĩa về rủi ro, một nhóm các rủi
ro đồng đều phù hợp và cho phép đánh giá đúng và thống thất về các đặc
trưng của tổn thất ở mức nhóm. Do đó trong chính sách tín dụng, Ngân hàng
cần làm rõ mối quan hệ giữa các cấp độ đánh giá người vay về mặt mức độ
18
rủi ro mà mỗi cấp độ đánh giá phải miêu tả xác suất không trả được nợ đặc
trưng đối với những người vay đã được đánh giá theo các cấp độ cũng như
về mặt các tiêu chuẩn sử dụng để phân biệt các cấp độ rủi ro tín dụng.
• Tiêu chuẩn thứ hai cần được định hướng đến các yếu tố giao dịch.
Đối với các ngân hàng bước đầu dựa vào đánh giá nội bộ, yêu cầu này có thể
được thực hiện bằng một tiêu chuẩn tài trợ phản ánh cả người vay lẫn các
đặc tính giao dịch cụ thể như tài sản ký quỹ, sản phẩm, ngành nghề và mục
đích. Các đặc tính của người vay có thể được coi như là tiêu chuẩn đánh giá
tổn thất khi khách hàng không trả được nợ nhưng chỉ khi các đặc tính này có
thể giúp dự đoán được tổn thất khi khách hàng không trả được nợ.
Trên cơ sở sự phụ thuộc lẫn nhau giữa người vay và các đặc trưng của
giao dịch trong các món vay đặc biệt, ngân hàng có thể đáp ứng được các
yêu cầu này thông qua một tiêu chuẩn đánh giá đơn nhất phản ánh tổn thất
dự kiến bằng cách phối hợp cân nhắc năng lực của người vay (PD-xác suất
không trả được nợ) và mức độ nghiêm trọng của tổn thất (LGD-tổn thất khi
khách hàng không trả được nợ).
1.3.1.2. Cấu trúc đánh giá
Ngân hàng cần có một sự phân loại có ý nghĩa về các rủi ro theo các
Ngân hàng càng có ít thông tin thì càng cần thận trọng hơn trong việc xác
định rủi ro đối với các cấp độ người vay và tài trợ hoặc nhóm. Đánh giá bên
ngoài có thể là một nhân tố chủ chốt trong việc quyết định một quy định
đánh giá nội bộ.
1.3.1.4. Phạm vi đánh giá
Mặc dù phạm vi thời gian được sử dụng trong đánh giá xác suất không
trả được nợ là một năm, ngân hàng cần phải sử dụng phạm vi thời gian dài
hơn để quy định việc đánh giá. Một đánh giá về người vay cần có đánh giá
của ngân hàng về khả năng và mong muốn thực hiện hợp đồng cho dù những
điều kiện về kinh tế không thuận lợi do xảy ra những việc không mong
muốn.
Ngân hàng có thể đáp ứng yêu cầu này bằng cách quy định việc đánh
giá dựa vào dự đoán nhấn mạnh cụ thể và thích hợp. Ngoài ra, ngân hàng có
thể đáp ứng yêu cầu này bằng cách cân nhắc một cách phù hợp các đặc trưng
của người vay phản ánh khả năng thích ứng của người vay trước những điều
20
kiện kinh tế bất lợi do xảy ra các sự việc không dự đoán được mà không cần
đưa ra các dự đoán cụ thể. Các điều kiện kinh tế được cân nhắc khi thực
hiện đánh giá sẽ phải thống nhất với các điều kiện hiện tại và các điều kiện
kinh tế có thể sẽ xuất hiện trong một chu kỳ kinh doanh của ngành công
nghiệp/vùng địa lý tương ứng.
Mặc dù có những khó khăn khi dự đoán các sự kiện trong tương lai và
các ảnh hưởng của chúng lên khả năng tài chính của một người vay riêng lẻ,
ngân hàng vẫn cần có một quan điểm chắc chắn về các thông tin được dự
đoán. Hơn nữa, nếu chỉ có lượng giới hạn thông tin, ngân hàng cần thực hiện
phân tích một cách thận trọng.
1.3.1.5. Ứng dụng mô hình
Các yêu cầu trong phần này áp dụng đối với các mô hình thống kê và
các phương pháp kỹ thật khác được sử dụng để quy định các đánh giá người
vay hoặc tài trợ hoặc trong khi ước lượng xác suất không trả được nợ, tổn
tài liệu về những thay đổi lớn trong lịch sử của quá trình đánh giá rủi ro, và
việc đưa ra các tài liệu như vậy cần cung cấp việc nhận biết về các thay đổi
đối với kết quả của quá trình đánh giá tiếp theo sau việc xem xét lại lần
cuối.
Nếu ngân hàng sử dụng mô hình thống kê trong quy trình đánh giá,
ngân hàng cần quy định bằng văn bản phương pháp luận của mình. Các tài
liệu này cần:
- Đưa ra được đề cương chi tiết về lý thuyết, giả thiết và/hoặc cơ sở
toán học, kinh nghiệm của việc phân bổ các ước lượng vào các cấp độ,
khách hàng cá nhân, các rủi ro, hoặc các mức, và các nguồn dữ liệu được sử
dụng để ước lượng mô hình.
- Thiết lập một quy trình thống kê chính xác (bao gồm các kiểm tra
năng lực không theo mẫu mà thời gian) để xác nhận tính hợp lệ của mô hình.
Việc sử dụng mô hình có được từ một bên bán thứ 3 mà đòi hỏi bản
quyền công nghệ không phải là một sự bào chữa cho việc không tuân thủ tài
liệu hoặc bất cứ yêu cầu đối với hệ thống đánh giá nội bộ. Gánh nặng thuộc
về mô hình của bên bán hàng và ngân hàng để đáp ứng các nhà giám sát.
1.3.2. Quản trị điều hành và kiểm soát doanh nghiệp