Tiểu luận môn luật ngân hàng MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI HỐI - Pdf 27

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI HỐI 3
1.1 Khái niệm về hoạt động ngoại hối 3
1.2 Khái niệm hoạt động ngoại hối và thị trường ngoại hối 3
1.2.1 Khái niệm về hoạt động ngoại hối 3
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của thị trường ngoại hối 4
2. PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ NGOẠI HỐI 4
2.1 Chủ thể có thẩm quyền quản lý Nhà nước về ngoại hối 4
2.2 Đối tượng quản lý Nhà nước về ngoại hối 6
2.3 Nội dung quản lý Nhà nước về ngoại hối 7
3. PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGOẠI HỐI 8
3.1 Pháp luật điều chỉnh đối với giao dịch vãng lai 8
3.1.1 Thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá dịch
vụ 9
3.1.2 Chuyển tiền một chiều 9
3.1.3 Mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam bằng tiền mặt và vàng khi xuất cảnh,
nhập cảnh 10
3.2 Pháp luật điều chỉnh đối với giao dịch vốn 11
3.2.1 Giao dịch đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam bằng vốn ngoại tệ.11
3.2.2 Giao dịch đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài bằng ngoại tệ 11
3.2.3 Giao dịch vay, cho vay nước ngoài bằng ngoại tệ 12
3.2.4 Giao dịch đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam 13
3.2.5 Giao dịch phát hành chứng khoán trong và ngoài nước 14
3.3 Pháp luật điều chỉnh đối với hành vi sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ
Việt Nam 14
3.4 Pháp luật điều chỉnh hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối 16
3.4.1 Hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các ngân hàng 16
3.4.2 Hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức tín dụng phi ngân
hàng 19

- Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ,
hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;
- Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công
ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
- Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư
trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi
lãnh thổ Việt Nam;
- Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp
chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán
quốc tế.
1.2Khái niệm hoạt động ngoại hối và thị trường ngoại hối
1.2.1 Khái niệm về hoạt động ngoại hối
Theo Khoản 8 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005, “hoạt động ngoại hối” được
hiểu như sau: Hoạt động ngoại hối là hoạt động của người cư trú, người không cư trú
trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt
động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối.
Như vậy, “hoạt động ngoại hối” bao gồm những đặc trưng cơ bản sau:
- Thứ nhất, chủ thể của hoạt động ngoại hối là người cư trú và người không cư trú,
trực tiếp tham gia vào các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh
thổ Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến
ngoại hối.
- Thứ hai, đối tượng của hoạt động ngoại hối chính là các loại ngoại hối được phép
lưu thông trên lãnh thổ Việt Nam và các dịch vụ về ngoại hối.
- Thứ ba, nội dung của hoạt động ngoại hối bao gồm giao dịch vãng lai, giao dịch
vốn, các hành vi sử dụng ngoại hối hay cung ứng dịch vụ về ngoại hối trên lãnh thổ Việt
Nam.
3
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của thị trường ngoại hối
Hầu hết các nước trên thế giới đều có đồng tiền riêng của mình. Các nước có áp
dụng đồng tiền khu vực cũng được hiểu tương tự. Giao lưu kinh tế giữa các nước hoặc

quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động ngoại hối. Như vậy, Chính
phủ là cơ quan hành pháp có thẩm quyền chung, chịu trách nhiệm trước Quốc hội trong
việc thực hiện vai trò thống nhất quản lý nhà nước về ngoại hối và các hoạt động liên
4
quan đến ngoại hối. Để thực hiện tốt và có hiệu quả hoạt đồng này, Chính phủ phải phân
cấp và phối hợp với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan, ban, ngành cùng với một số Bộ
có liên quan để thực hiện các hành vivề ngoại hối và các hoạt động liên quan đến ngoại
hối.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý
nhà nước về hoạt động ngoại hối, xây dựng và ban hành chính sách quản lý ngoại hối,
hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ chứng từ và thông tin báo cáo.
Như vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan chức năng của Chính phủ, được Nhà
nước trao quyền hạn thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước về ngoại hối trên lãnh thổ
Việt Nam. Ngoài ra, với vai trò là Ngân hàng truong ương, Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam còn có thẩm quyền thực hiện các nghiệp vụ ngoại hối, thông qua đó thực hiện chức
năng của mình là điểu hành chính sách tiền tệ quốc gia theo yêu cầu phát triển của kinh tế
xã hội.
Theo các quy định ở mục 5 của luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 về
quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối. cụ thể, Điều 31 quy định về nhiệm vụ, quyền
hạn của Ngân hàng Nhà nước về quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối như sau:
- Quản lý ngoại hối và sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định
của pháp luật.
- Tổ chức và phát triển thị trường ngoại tệ.
- Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối cho tổ chức tín dụng, các tổ chức
khác có hoạt động ngoại hối.
- Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định biện pháp hạn chế giao dịch ngoại hối để
bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia.
- Tổ chức, quản lý, tham gia thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
- Nhiệm vụ, quyền hạn khác về quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối theo quy

các quy định và thực thi các quy định về quản lý ngoại hối;
- Phát hiện, xử lý các vi phạm về ngoại hối, hoạt động ngoại hối thuộc thẩm
quyền.
2.2 Đối tượng quản lý Nhà nước về ngoại hối
Quản lý nhà nước về ngoại hối là nhà việc nhà nước thông qua nhiều cách thức,
biện pháp và công cụ khác nhau để tác động đến hành vi xử sự của những chủ thể có
ngoại hối hay có hoạt động ngoại hối nhằm thực hiện chính sách quản lý ngoại hối của
Việt Nam: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách quản lý
ngoại hối nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm lợi ích hợp pháp cho tổ chức, cá nhân
tham gia hoạt động ngoại hối, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế; thực hiện mục tiêu
của chính sách tiền tệ quốc gia, nâng cao tính chuyển đổi của đồng Việt Nam; thực hiện
mục tiêu trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam; thực hiện các cam kết của
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường
hiệu lực quản lý nhà nước về ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối của Việt
Nam” ( điều 3, Pháp lệnh ngoại hối 2005). Như vậy các đối tượng quản lý nhà nước về
ngoại hối là các tổ chức cá nhân có ngoại hối hay có hoạt động ngoại hối.
Theo quy định tại điều 2 pháp lệnh ngoại hối 2005, đối tượng chịu sự quản lý nhà
nước về ngoại hối bao gồm:
- Tổ chức, cá nhân là người cư trú, người không cư trú có hoạt động ngoại hối tại
Việt Nam;
- Các đối tượng khác có liên quan đến hoạt động ngoại hối;
6
Để làm rõ những vấn đề trên thì tại Điều 3, Nghị định 160/2006/NĐ-CP Hướng
dẫn Pháp lệnh Ngoại hối có đề cập:
- Người cư trú là tổ chức, cá nhân thuộc các đối tượng sau đây:
+ Tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam (sau đây
gọi là tổ chức tín dụng);
+ Tổ chức kinh tế được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trừ đối
tượng quy định tại điểm a khoản này (sau đây gọi là tổ chức kinh tế);
+ Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị

quy phạm pháp luật về ngoại hối thuộc thẩm quyền; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ,
cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm
quản lý nhà nước về hoạt động ngoại hối trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình;
- Các biện pháp bảo đảm an toàn:
+ Hạn chế việc mua, mang, chuyển, thanh toán đối với các giao dịch trên tài khoản
vãng lai, tài khoản vốn;
+ Áp dụng các quy định về nghĩa vụ bán ngoại tệ của người cư trú là tổ chức;
+ Áp dụng các biện pháp kinh tế, tài chính, tiền tệ;
+ Các biện pháp khác.
- Chế độ thông tin, báo cáo liên quan đến ngoại hối:
+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm ban hành, thanh tra, kiểm tra
việc chấp hành chế độ thông tin báo cáo, phân tích, dự báo và công bố thông tin về hoạt
động ngoại hối.
+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì phối hợp với các bộ, ngành thu thập
thông tin, số liệu nhằm phục vụ công tác quản lý ngoại hối của Nhà nước và lập cán cân
thanh toán quốc tế.
+ Tổ chức tín dụng được phép có trách nhiệm báo cáo các thông tin liên quan đến
hoạt động ngoại hối cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam.
+ Tổ chức, cá nhân có hoạt động ngoại hối thực hiện việc cung cấp thông tin, số
liệu theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng được phép theo
quy định của pháp luật.
+ Bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm báo cáo thông tin, số liệu về
hoạt động ngoại hối cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm phục vụ công tác quản lý
ngoại hối của Nhà nước và lập cán cân thanh toán quốc tế.
- Chế tài đối với các hành vi vi pham pháp luật về ngoại hối.
3. PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGOẠI HỐI
3.1 Pháp luật điều chỉnh đối với giao dịch vãng lai
Theo quy định tại các điều 7, 8, 9 Pháp lệnh ngoại hối 2005 thì giao dịch vãng lai

- Người không cư trú, người cư trú là người nước ngoài có ngoại tệ trên tài khoản
được chuyển ra nước ngoài; trường hợp có nguồn thu hợp pháp bằng đồng Việt Nam thì
được mua ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài.
Cụ thể hơn, theo Điều 7, 8 Nghị định số 160/2006/NĐ-CP thì:
a) Chuyển tiền một chiều từ nước ngoài vào Việt Nam
Người cư trú là tổ chức có ngoại tệ thu được từ các khoản chuyển tiền một chiều
phải chuyển vào tài khoản ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép hoặc bán cho tổ chức
tín dụng được phép.
Người cư trú là cá nhân có ngoại tệ thu được từ các khoản chuyển tiền một chiều
được gửi vào tài khoản ngoại tệ, gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, rút tiền mặt để cất giữ, mang
theo người, bán cho tổ chức tín dụng được phép lấy đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ khác,
9
sử dụng cho các mục đích theo quy định tại Nghị định này và các quy định của pháp luật
có liên quan.
b) Chuyển tiền một chiều từ Việt Nam ra nước ngoài
Người cư trú là tổ chức được thực hiện chuyển tiền một chiều ra nước ngoài để
phục vụ mục đích tài trợ, viện trợ hoặc các mục đích khác theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam.
Người cư trú là công dân Việt Nam được mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài
thông qua tổ chức tín dụng được phép cho các mục đích dưới đây:
- Học tập, chữa bệnh ở nước ngoài;
- Đi công tác, du lịch, thăm viếng ở nước ngoài;
- Trả các loại phí, lệ phí cho nước ngoài;
- Trợ cấp cho thân nhân đang ở nước ngoài;
- Chuyển tiền thừa kế cho người hưởng thừa kế ở nước ngoài;
- Chuyển tiền trong trường hợp định cư ở nước ngoài;
- Các mục đích chuyển tiền một chiều cho các nhu cầu hợp pháp khác.
Người không cư trú, người cư trú là người nước ngoài có ngoại tệ trên tài khoản
hoặc các nguồn thu ngoại tệ hợp pháp được chuyển, mang ra nước ngoài; trường hợp có
nguồn thu hợp pháp bằng đồng Việt Nam thì được mua ngoại tệ để chuyển, mang ra nước

Theo Điều 11 Pháp lệnh ngoại hối 2005 thì:
- Việc chuyển vốn đầu tư bằng ngoại tệ vào Việt Nam, việc chuyển vốn đầu tư
gốc, lợi nhuận, trả lãi vay và các khoản thu hợp pháp ra nước ngoài phải được thực hiện
thông qua tài khoản ngoại tệ mở tại một tổ chức tín dụng được phép.
- Các nguồn thu hợp pháp bằng đồng Việt Nam được chuyển đổi thành ngoại tệ để
chuyển ra nước ngoài thông qua tổ chức tín dụng được phép.
3.2.2 Giao dịch đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài bằng ngoại tệ
Theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 160/2006/NĐ-CP thì người cư trú là tổ
chức, cá nhân được đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức đầu tư trực tiếp khi được phép
của cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài.
Theo quy định tại Điều 13 Pháp lệnh ngoại hối thì người cư trú được phép đầu tư
ra nước ngoài được sử dụng các nguồn vốn ngoại tệ tự có trên tài khoản tiền gửi ngoại tệ,
nguồn vốn ngoại tệ mua từ các tổ chức tín dụng hay nguồn vốn ngoại tệ vay từ tổ chức.
Theo quy định tại Điều 14, 15 Pháp lệnh ngoại hối thì:
- Việc chuyển vốn ngoại tệ ra nước ngoài để thực hiện đầu tư, thì người cư trú là
các tổ chức kinh tế, cá nhân và các đối tượng được phép đầu tư ra nước ngoài phải mở
một tài khoản ngoại tệ tại một tổ chức tín dụng được phép và đăng ký với Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam. Việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài để đầu tư phải được thực hiện thông
qua tài khoản này.
11
- Riêng đối với các tổ chức tín dụng thì việc chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư
sẽ được thực hiện theo quy định riêng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Vốn, lợi nhuận và các khoản thu nhập từ việc đầu tư tại nước ngoài phải chuyển
về Việt Nam theo quy định của pháp luật về đầu tư và các quy định khác của pháp luật có
liên quan; vốn, lợi nhuận và các khoản thu nhập từ việc đầu tư khi chuyển về Việt Nam
phải thực hiện thông qua tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng được phép.
Cụ thể hơn, tại Điều 19 Nghị định số 160/2006/NĐ-CP quy định về việc chuyển
vốn và lợi nhuận đầu tư về Việt Nam:
- Vốn đầu tư, lợi nhuận và các nguồn thu từ hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải

vay trong phạm vi tổng hạn mức vay vốn nước ngoài do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
hằng năm.
- Người cư trú được mua ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép trên cơ sở xuất
trình chứng từ hợp lệ để thanh toán nợ gốc, lãi và phí có liên quan của khoản vay nước
ngoài và sử dụng các hình thức bảo lãnh, tái bảo lãnh và các hình thức bảo đảm khoản
vay khác.
Khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh ngoại hối 2005 quy định các tổ chức kinh tế được cho
vay, thu hồi nợ vay nước ngoài:
- Được Chính phủ cho phép;
- Thực hiện mở và sử dụng tài khoản, chuyển vốn ra và thu hồi vốn, báo cáo tình
hình thực hiện cho vay và thu hồi nợ nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam;
- Nguồn thu vốn gốc, thu lãi và các khoản phí có liên quan phải được chuyển vào
tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng được phép.
3.2.4 Giao dịch đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam là việc người không cư trú mua bán
chứng khoán, các giấy tờ có giá và góp vốn, mua cổ phần dưới mọi hình thức theo quy
định của pháp luật Việt Nam mà không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động của doanh
nghiệp nhận vốn đầu tư.
Việc đầu tư này phải tuân theo quy định tại Điều 12 Pháp lệnh ngoại hối 2005:
- Vốn đầu tư bằng ngoại tệ phải được chuyển sang đồng Việt Nam để thực hiện
đầu tư.
- Vốn đầu tư, lợi nhuận và các nguồn thu hợp pháp bằng đồng Việt Nam được
chuyển đổi thành ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài thông qua tổ chức tín dụng được
phép.
Cụ thể hơn, theo Điều 14 Nghị định 160/2006/NĐ-CP thì: Mọi giao dịch liên quan
đến hoạt động đầu tư gián tiếp phải thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư gián tiếp
bằng đồng Việt Nam. Tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam được sử dụng
để thực hiện các giao dịch thu, chi sau đây:
- Thu từ bán ngoại tệ cho tổ chức tín dụng được phép;

- Nguồn thu bằng đồng Việt Nam từ việc phát hành chứng khoán trên lãnh thổ
Việt Nam được sử dụng để mua ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép để chuyển ra
nước ngoài.
3.3 Pháp luật điều chỉnh đối với hành vi sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ
Việt Nam
Quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối được quy định tại Điều 29 Nghị định số
160/2006/NĐ-CP như sau:Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết,
quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối trừ
các trường hợp sau:
- Các giao dịch với tổ chức tín dụng và tổ chức khác được phép cung ứng dịch vụ
ngoại hối;
- Người cư trú là tổ chức được điều chuyển vốn nội bộ bằng ngoại tệ chuyển
khoản (giữa đơn vị có tư cách pháp nhân với đơn vị hạch toán phụ thuộc và ngược lại);
14
- Người cư trú được góp vốn bằng ngoại tệ để thực hiện dự án đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam;
- Người cư trú được nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản theo hợp đồng
uỷ thác xuất, nhập khẩu;
- Người cư trú là nhà thầu trong nước, nhà thầu nước ngoài được nhận thanh toán
bằng ngoại tệ chuyển khoản từ chủ đầu tư, nhà thầu chính để thanh toán, chi trả và
chuyển ra nước ngoài;
- Người cư trú là tổ chức kinh doanh dịch vụ bảo hiểm được nhận ngoại tệ chuyển
khoản của người mua bảo hiểm đối với các loại hàng hoá và dịch vụ phải mua tái bảo
hiểm ở nước ngoài;
- Người cư trú là tổ chức kinh doanh hàng miễn thuế, tổ chức cung ứng dịch vụ ở
khu cách ly tại các cửa khẩu quốc tế, tổ chức kinh doanh kho ngoại quan được nhận
thanh toán bằng ngoại tệ và đồng Việt Nam từ việc cung cấp hàng hoá và cung ứng dịch
vụ;
- Người cư trú là cơ quan hải quan, công an cửa khẩu tại các cửa khẩu quốc tế và
kho ngoại quan được nhận ngoại tệ từ người không cư trú đối với các loại thuế, phí thị

pháp của mình. Người cư trú là cá nhân có ngoại tệ tiền mặt được gửi tiết kiệm ngoại tệ
tại các tổ chức tín dụng được phép và được nhận tiền vốn gốc, tiền lãi bằng ngoại tệ.
- Người không cư trú là tổ chức, cá nhân được mở vvà sử dụng tài khoản đồng
Việt Nam tại tổ chức tín dụng được phép để thực hiện giao dịch thu, chi theo quy định
của pháp luật.
- Người cư trú là cá nhân nước ngoài được mở và sử dụng tài khoản đồng Việt
Nam để thực hiện các giao dịch thu, chi và giao dịch đầu tư gián tiếp theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
- Người cư trú và người không cư trú là cá nhân được sử dụng thẻ thanh toán quốc
tế để giao dịch với khách hàng thông qua các tổ chức tín dụng được phép và các đơn vị
chấp nhận thẻ. Các đơn vị chấp nhận thẻ chỉ được nhận thanh toán bằng đồng Việt Nam
từ ngân hàng thanh toán thẻ.
3.4 Pháp luật điều chỉnh hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối
Cung ứng dịch vụ ngoại hối là hoạt động cần thiết trong đời sống kinh tế-xã hội
nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng ngoại hối đa dạng của tổ chức, cá nhân trong hoạt động
dân sự và thương mại. Ở Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối hiện nay có
thể được thực hiện bởi các tổ chức chuyên nghiệp là ngân hàng, tổ chức tín dụng phi
ngân hàng. Ngoài ra, các tổ chức khác nếu thoả mãn điều kiện do pháp luật quy định thì
cũng được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối nhưng chỉ đóng vai trò là những tổ chức hỗ
trợ cho hoạt động của tổ chức tín dụng.
3.4.1 Hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các ngân hàng
Cung ứng dịch vụ ngoại hối là một nội dung quan trọng trong cấu trúc nghiệp vụ
kinh doanh của các ngân hàng. Để thực hiện hoạt động này, các ngân hàng thường phải kí
kết và thực hiện các hợp đồng dịch vụ ngoại hối với khách hàng. Hợp đồng này có thể do
từng ngân hàng quy định mẫu hoặc theo mẫu chung của Hiệp hội các ngân hàng quy định
hoặc theo nguyên mẫu đã được sử dụng thường xuyên trong tập quán và thông lệ quốc tế.
a) Điều kiện cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường trong nước của các ngân
hàng
Theo mục 1, chương II, thông tư 03/2008/TT-NHNN hướng dẫn về hoạt động
cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức tín dụng, điều kiện để các ngân hàng được

- Cung cấp các dịch vụ ngân hàng đầu tư bằng ngoại hối (mua, bán, sát nhập, bảo
lãnh và làm đại lý phát hành chứng khoán bằng ngoại tệ );
- Cung ứng các dịch vụ tư vấn cho khách hàng về ngoại hối;
- Thực hiện các hoạt động ngoại hối khác theo thông lệ quốc tế và phù hợp với
pháp luật Việt Nam.
c) Điều kiện cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế của các ngân
hàng
Theo mục 1, chương II, thông tư 03/2008/TT-NHNN hướng dẫn về hoạt động
cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức tín dụng, điều kiện để các ngân hàng được
17
NHNN xem xét, xác nhận đủ điều kiện cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc
tế:
- Có phương án hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế được
Đại hội cổ đông (trường hợp đang xin phép thành lập) hoặc Hội đồng Quản trị thông qua,
trong đó xác định rõ các nội dung, phương thức hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và
các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa rủi ro;
- Có trang thiết bị và điều kiện vật chất đáp ứng được yêu cầu cung ứng các dịch
vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế;
- Đủ cán bộ có năng lực và am hiểu nghiệp vụ cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị
trường quốc tế;
- Có hệ thống kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ được thiết lập và thực hiện
nhiệm vụ theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước;
- Tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước về các tỷ lệ bảo đảm an toàn
trong hoạt động và trong việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng;
không vi phạm các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối trong thời gian một năm đến
thời điểm đề nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét đủ điều kiện;
- Kinh doanh có lãi trong năm liền kề năm đăng ký hoạt động cung ứng dịch vụ
ngoại hối trên thị trường quốc tế.
d) Hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế của các ngân
hàng

hối và quản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối.
- Kinh doanh có lãi trong năm liền kề năm đăng ký hoạt động cung ứng dịch vụ
ngoại hối trên thị trường trong nước.
b) Hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường trong nước của công ty
tài chính
Theo Khoản 1 Điều 42 Nghị định 160/2006/NĐ-CP thìcác tổ chức tín dụng phi
ngân hàng phải đăng ký hoạt động với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để thực hiện một
số hoặc toàn bộ các nội dung cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường trong nước dưới
đây:
- Cung cấp các giao dịch hối đoái dưới hình thức giao dịch giao ngay, kỳ hạn,
hoán đổi, quyền lựa chọn và các giao dịch hối đoái khác phù hợp với thông lệ quốc tế;
- Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên bằng ngoại tệ, phát hành trái phiếu,
giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, vay vốn bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng trong và
ngoài nước;
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng ngoại tệ, chiết khấu, tái chiết khấu,
cầm cố các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, bảo lãnh tín dụng bằng ngoại tệ;
- Cung cấp các dịch vụ uỷ thác và quản lý tài sản bằng ngoại hối;
- Nhận và chi, trả ngoại tệ; ủy nhiệm cho các tổ chức kinh tế làm đại lý đổi ngoại
tệ, đại lý chi, trả ngoại tệ;
- Cung ứng các dịch vụ tư vấn cho khách hàng về ngoại hối.
c) Hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường trong nước của các
công ty cho thuê tài chính
19
Theo Khoản 2 Điều 42Nghị định 160/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành pháp
lệnh ngoại hối, các công ty cho thuê tài chính sau khi được Ngân hàng Nhà nước xác
nhận đăng ký có thể cung ứng các dịch vụ ngoại hối trên thị trường trong nước dưới đây:
- Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên bằng ngoại tệ, phát hành trái phiếu,
giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, vay vốn bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng trong và
ngoài nước;
- Cho thuê tài chính bằng ngoại tệ ;

- Cung cấp các dịch vụ quản lý tài sản tài chính của khách hàng ở nước ngoài.
e) Tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác được thực hiện một số nội dung
cung ứng dịch vụ ngoại hối theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
3.4.3 Hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức kinh tế không phải là tổ
chức tín dụng
Đối với các tổ chức kinh tế không phải là tổ chức tín dụng, pháp luật chỉ cho phép
các tổ chức này được cung ứng một số dịch vụ ngoại hối ít quan trọng, không phức tạp về
quy trình nghiệp vụ và chủ yếu được thực hiện với tư cách là bên đại lý được uỷ quyền
của tổ chức tín dụng.
Theo Điều 43Nghị định 160/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh
ngoại hối, các tổ chức kinh tế không phải là tổ chức tín dụng chỉ được phép thực hiện các
hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối dưới đây:
- Dịch vụ đại lý đổi ngoại tệ cho tổ chức tín dụng: Tổ chức kinh tế được làm đại lý
đổi ngoại tệ cho tổ chức tín dụng được phép khi được uỷ nhiệm. Việc uỷ nhiệm đổi ngoại
tệ phải được thực hiện trên cơ sở ký kết hợp đồng đại lý đổi ngoại tệ giữa tổ chức tín
dụng và tổ chức kinh tế được uỷ nhiệm và phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
- Dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ :
+ Tổ chức kinh tế làm đại lý cung ứng dịch vụ nhận và chi trả ngoại tệ cho tổ chức
tín dụng phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tổ chức kinh tế trực tiếp cung
ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy
phép;
+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ, thủ tục đăng ký, cấp
giấy phép cho tổ chức kinh tế cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ.
- Cung ứng dịch vụ ngoại hối khác:Các tổ chức kinh tế chỉ được thực hiện cung
ứng dịch vụ ngoại hối ngoài các nội dung quy định trên sau khi được Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam cấp giấy phép.
21
KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status