Tiểu luận môn luật ngân hàng Một số quy định về bảo lãnh ngân hàng của các tổ chức tín dụng - Pdf 27

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống tổ chức tín dụng luôn đóng vai trò quan trọng chủ lực đối với nền kinh tế.
Đặc biệt là trong hoàn cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang xây dựng công nghiệp hóa -
hiện đại hóa và tham gia ngày càng sâu vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong
xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa với nhiều cạnh tranh này, các loại hình nghiệp vụ
kinh doanh ngân hàng ngày càng đổi mới¸ đa dạng hóa và hoàn thiện hơn.
Là một trong những hoạt động tín dụng truyền thống, nghiệp vụ bảo lãnh bắt đầu được
sử dụng rộng rãi trên thế giới từ cuối những năm 70 của thế kỷ trước. Nó đóng vai trò
quan trọng trong giao dịch kinh tế toàn cầu, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh xuất
nhập khẩu và thương mại quốc tế. Và kể từ đó đến nay, với khả năng ứng dụng rộng
rãi, vị trí của bảo lãnh ngân hàng ngày càng được củng cố một cách chắc chắn.
Ở nước ta, bảo lãnh ngân hàng xuất hiện từ thập kỷ 80 và được đề cập đến trong các
văn bản pháp luật nhưng còn mang tính chất như là một công cụ hỗ trợ do Ngân hàng
Nhà nước thực hiện nhằm giúp các doanh nghiệp quốc doanh vay vốn nước ngoài để
phát triển. Thế nhưng đến giai đoạn hiện nay, bảo lãnh ngân hàng thật sự trở thành một
biện pháp hữu hiệu, được sử dụng rộng rãi cho các cá nhân và doanh nghiệp nhằm bảo
đảm nghĩa vụ của mình. Trong kinh doanh ngày nay, bảo lãnh ngân hàng luôn được
xem như tấm giấy thông hành cho doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trả
chậm. Việc này không những tạo thuận lợi cho kế hoạch của doanh nghiệp mà còn tạo
điều kiện cho các đối tác kinh doanh có cơ sở để tin tưởng hơn. Hoạt động này không
1 1
chỉ đem lại nguồn thu ngày càng lớn cho các tổ chức tín dụng, mà quan trọng hơn nó
đem lại sự tin tưởng của các chủ thể khi giao kết hợp đồng.
Với vai trò như vậy, bảo lãnh đã trở thành loại dịch vụ kinh doanh có nhiều tác động
tích cực trong việc thúc đẩy các loại giao dịch (tài chính lẫn phi tài chính, thương mại
lẫn phi thương mại). Từ đó, nó chính là chất xúc tác thúc đẩy các hoạt động thương
mại, dân sự trong nước và quốc tế ngày càng phát triển.
Với đề tài “Một số quy định về bảo lãnh ngân hàng của các tổ chức tín dụng”, trong
quá trình làm còn hạn chế về kiến thức, tài liệu và thời gian nên chúng tôi không tránh
khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý và phản hồi tích cực từ

hiện không đúng nghĩa vụ của họ với bên có quyền.
Thứ hai, trong bảo lãnh ngân hàng, khách hàng phải nhận nợ với tổ chức tín dụng và có
nghĩa vụ hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
Như vậy, trên phương diện luật học, hoạt động bảo lãnh làm phát sinh hai mối quan hệ
pháp luật. Hai quan hệ pháp luật này có ảnh hưởng chi phối lẫn nhau. Đó là:
Quan hệ hợp đồng dịch vụ bảo lãnh, phát sinh giữa tổ chức tín dụng bảo lãnh với khách
hàng là tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ tài sản trong một trái vụ cần được đảm bảo.
Quan hệ hợp đồng bảo lãnh phát sinh giữa tổ chức tín dụng bảo lãnh với bên có quyền.
2. Đặc điểm:
Do là một loại hình bảo lãnh đặc biệt nên bảo lãnh ngân hàng vừa có những đặc điểm
của bảo lãnh nói chung, đồng thời cũng chứa đựng những đặc điểm riêng để phân biệt
với những hình thức bảo lãnh khác.
a) Về bản chất pháp lý, bảo lãnh ngân hàng là một loại giao dịch thương mại đặc thù.
4 4
Tính chất thương mại: hoạt động bảo lãnh này vừa do các tổ chức tín dụng (tư cách
thương nhân) thực hiện trên thị trường nhẳm mục tiêu thu lợi nhuận, vừa có tính chất
chuyên nghiệp như một nghề nghiệp kinh doanh. Do tính chất này mà hoạt động bảo
lãnh ngân hàng bắt buộc phải làm thủ tục đăng kí kinh doanh tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Tính chất đặc thù: Một mặt, bảo lãnh ngân hàng do các tổ chức tín dụng thực hiện một
cách chuyên nghiệp, mặt khác khi thực hiện hoạt động, các ngân hàng phải sử dụng
đến những kĩ thuật chuyên môn nghiệp vụ ngân hàng nhằm đảm bảo sự an toàn cho
đồng vốn bỏ ra của mình. Cũng vì lí do này mà hoạt động bảo lãnh chuyên nghiệp của
các ngân hàng được nhà làm luật nhìn nhận như là một hoạt động kinh doanh có điều
kiện và do đó phải được cấp phép hoạt động bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ngoài ra, tính chất đặc thù còn thể hiện ở chỗ hoạt động kinh doanh này thường chịu
sự chi phối của một số quy tắc pháp lý đặc thù chỉ áp dụng riêng cho hành vi này như:
quy tắc thủ tục bảo lãnh, phí bảo lãnh, giới hạn bảo lãnh, các chế tài áp dụng với bên vi
phạm…
b) Về chủ thể, hoạt động bảo lãnh ngân hàng bao giờ cũng do loại chủ thể đặc biệt là

Bên bảo lãnh
Bên được bảo lãnh
Bên nhận bảo lãnh
a) Bên bảo lãnh:
Bên bảo lãnh trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là tổ chức tín dụng có đủ những điều
kiện theo luật định. Các tổ chức tín dụng này bao gồm ngân hàng thương mại nhà
nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài tại Việt Nam, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng hợp tác, ngân
hàng chính sách và một số tổ chức tín dụng khác được Ngân hàng Nhà nước cho phép
thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối với khách hàng. Nếu bên nhận bảo lãnh trong quan hệ
bảo lãnh ngân hàng là tổ chức, cá nhân nước ngoài thì bên bảo lãnh chuyên nghiệp chỉ
có thể là các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế (Điều 3 Quy chế bảo
lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày
26/06/2006)
7 7
Trên nguyên tắc đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, pháp luật quy
định mỗi tổ chức tín dụng chỉ được thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh chuyên nghiệp cho
đối với khách hàng khi thỏa mãn các điều kiện sau đây:
Được NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối với khách hàng.
Có đăng kí kinh doanh nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng và nghiệp vụ này phải ghi rõ
trong giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh được cấp. Khi đó, tổ chức tín dụng sẽ có tư
cách pháp nhân, có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để tham gia một cách
độc lập vào các quan hệ pháp luật, thông qua hành vi của những ngưởi đại diện hợp
pháp của tổ chức tín dụng (được quy định rõ trong Điều 12 Luật các tổ chức tín dụng
2010)
b) Bên được bảo lãnh:
Bên được bảo lãnh trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là khách hàng được tổ chức tín
dụng bảo lãnh, quy định tại Điều 4 Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo
Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006)
Theo quy định hiện hành, các chủ thể trên muốn được tổ chức tín dụng xem xét và

mình khi giao kết hợp đồng với bên nhận bảo lãnh.
2. Các loại bảo lãnh:
a) Theo bản chất của bảo lãnh:
Bảo lãnh đồng nghĩa vụ:ngân hàng và người được bảo lãnh được xem là đồng nghĩa
vụ, tuy nhiên, khách hàng có nghĩa vụ đầu tiên, còn ngân hàng có nghĩa vụ bổ sung,
nghĩa vụ bổ sung được thực hiện khi có các bằng cớ nghĩa vụ đầu tiên bị vi phạm.
Bảo lãnh độc lập: cơ chế hoạt động của loại bảo lãnh này dựa trên hai quy tắc là độc
lập và hoàn toàn phù hợp. Theo đó nghĩa vụ của ngân hàng hoàn toàn tách rời với
nghĩa vụ của người được bảo lãnh. Việc thanh toán chỉ căn cứ vào những điều kiện,
điều khoản quy định trong văn bản bảo lãnh được thỏa mãn. Tuy nhiên, tính độc lập
của loại bảo lãnh này không hoàn toàn tuyệt đối mà phụ thuộc vào các điều kiện thanh
toán đã được quy định trong văn bản bảo lãnh.
b) Theo mục đích bảo lãnh:
Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh, về việc sẽ trả
nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả hoặc không trả đầy
đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh.
10 10
Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh, về việc sẽ
thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn.
Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của của tổ chức tín dụng với bên mời thầu, để bảo đảm
nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng. Trường hợp, khách hàng phải nộp phạt do
vi phạm quy định đấu thầu mà không nộp hoặc không nộp đầy đủ tiền phạt cho bên
mời thầu thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh,
bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng theo hợp đồng đã
ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải bồi
thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì tổ
chức tín dụng sẽ thực hiện thay.
Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm: là cam kết của của tổ chức tín dụng với bên

và các điều khoản quy định như trong bảo lãnh chính, đến lượt mình ngân hàng chỉ thị
lại có thể truy đòi từ người được bảo lãnh.
Đồng bảo lãnh: để giảm thiểu rủi ro các ngân hàng có thể thực hiện đồng bảo lãnh
trong một số dự án có giá trị lớn. Trong trường hợp này, một ngân hàng đứng ra đóng
12 12
vai trò đầu mối phát hành bảo lãnh chính nhưng có sự tham gia của nhiều ngân hàng
đồng minh khác. Nếu phải chi trả cho người thụ hưởng, ngân hàng chính có thể đòi bồi
hoàn từ các ngân hàng đồng minh theo tỷ lệ tham gia của họ dựa trên các bảo lãnh đối
ứng do các ngân hàng phát hành. Đến lượt mình, các ngân hàng này lại tiến hành truy
đòi từ người được bảo lãnh.
d) Theo điều kiện thanh toán của bảo lãnh:
Bảo lãnh theo yêu cầu: là loại bảo lãnh mà điều kiện thanh toán của nó là người thụ
hưởng bảo lãnh chỉ cần xuất trình yêu cầu thanh toán cho ngân hàng phát hành.
Bảo lãnh kèm chứng từ: điều kiện thanh toán là phải có chứng từ xác nhận của bên thứ
ba (thường là một bên có đủ tư cách chuyên môn để xác nhận)
3. Phạm vi bảo lãnh ngân hàng:
- Là giới hạn của nghĩa vụ tài sản mà bên bảo lãnh (tổ chức tín dụng) cam kết thực
hiện thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) đối với bên có quyền.
- Phạm vi bảo lãnh phải do bên bảo lãnh tự quyết định và phải được ghi rõ trong văn
bản bảo lãnh.
- Tổ chức tín dụng có quyền quyết định bảo lãnh cho một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ
tài sản của khách hàng được bảo lãnh đối với bên có quyền. Các nghĩa vụ tài sản có thể
được bảo lãnh bởi tổ chức tín dụng bao gồm:
1. Nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay và các chi phí khác có liên quan đến khoản vay;
13 13
2. Nghĩa vụ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hoá, máy móc, thiết bị và các khoản
chi phí để khách hàng thực hiện các dự án hoặc phương án đầu tư, phương án sản xuất,
kinh doanh hoặc dịch vụ đời sống;
3. Nghĩa vụ thanh toán các khoản thuế, các nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà
nước;

chỉ của tổ chức tín dụng bảo lãnh và khách hang được bảo lãnh; giá trị nghĩa vũ được
bảo lãnh, số tiền bảo lãnh và mức phí bảo lãnh; thời hạn bảo lãnh; mục đích bảo lãnh;
hình thức bảo lãnh bằng tài sản cho nghĩa vụ hoàn lại đối với người bảo lãnh; quyền và
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ bảo lãnh…
+ Đối với cam kết bảo lãnh (bao gồm thư bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh và các hình
thức khác của cam kết bảo lãnh phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế), phải hội tụ
các nội dung chủ yếu như tên, địa chỉ của tổ chức tín dụng bảo lãnh, khách hang được
bảo lãnh và số tiền bảo lãnh; thời hạn bảo lãnh và các điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo
lãnh. Ngoài ra, cam kết bảo lãnh còn có thể bổ sung các nội dung khác như quyền và
nghĩa vụ các bên; việc giải quyết các tranh chấp phát sinh và chuyển nhượng quyền,
nghĩa vụ cho người thứ ba…
15 15
(Điều 11 Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-
NHNN ngày 26/06/2006)
-Về nguyên tắc, các nội dung nêu trên của giao dịch bảo lãnh ngân hàng có thể được
sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ nếu các bên liên quan có thỏa thuận.
5. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng:
Các bên Quyền lợi Nghĩa vụ
Bên bảo lãnh
(tổ chức tín
dụng thực hiện
nghiệp vụ bảo
lãnh)
@ yêu cầu khách hàng cung cấp các
tài liệu, thông tin về khả năng tài
chính và tài liệu liên quan đến giao
dịch được bảo lãnh.
@ yêu cầu khách hàng phải có đảm
bảo cho việc bảo lãnh của mình.
@ thu phí bảo lãnh theo thỏa thuận

đối ứng)
@ yêu cầu khách hàng cung cấp các
tài liệu, thông tin về khả năng tài
chính và tài liệu liên quan đến giao
dịch được bảo lãnh.
@ yêu cầu khách hàng phải có đảm
bảo cho việc bảo lãnh của mình.
@ thu phí bảo lãnh theo thỏa thuận.
@ chuyển nhượng quyền, nghĩa vụ
cho TCTD khác nếu được các bên liên
quan đồng ý bằng văn bản.
@ chấp nhận hoặc từ chối đề nghị
phat hành bảo lãnh đối ứng.
@ đề nghị bên bảo lãnh bảo lãnh cho
các nghĩa vụ đối với bên nhận bảo
lãnh thay cho khách hàng của mình.
@ yêu cầu khách hàng trả tiền cho
@ thực hiện nghĩa vụ bảo
lãnh theo cam kết.
@ hoàn trả tài sản đảm bảo
( nếu có) và các giấy tờ có
liên quan cho khách hàng
khi thanh lý hợp đồng.
17 17
bên bảo lãnh.
@ khởi kiện theo quy định của pháp
luật khi các bên có liên quan vi phạm
nghĩa vụ đã cam kết.
Bên xác nhận
bảo lãnh

nghĩa vụ, phí, trình tự thủ tục xác
nhận bảo lãnh.
@ yêu cầu bên có nghĩa vụ phải trả số
tiền bên xác nhận đã trả thay.
19 19
Bên được bảo
lãnh
( khách hàng
của TCTD cấp
bảo lãnh )
@ đề nghị TCTD cấp bảo lãnh.
@ yêu cầu TCTD thực hiện đúng cam
kết bảo lãnh.
@ khởi kiện khi TCTD vi phạm điều
khoản đã cam kết.
@ chuyển nhýợng quyền, nghĩa vụ
nếu các bên liên quan chấp thuận
bằng vãn bản.
@ cung cấp ðầy ðủ, chính
xác, trung thực tài liệu,
thông tin có liên quan theo
yêu cầu của bên bảo lãnh.
@ thực hiện đầy đủ, đúng
hạn nghĩa vụ đã cam kết.
@ thanh toán đầy đủ, đúng
hạn phí cho bên bảo lãnh
theo cam kết.
@ hoàn trả cho TCTD gốc,
lãi, chi phí phát sinh khác
mà TCTD đã trả thay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status