1
Mục Lục
I. Khái niệm: 2
II. Sơ lược bảo hiểm xã hội từ năm 1941 đến nay: 2
1/giai đoạn từ năm 1941 đến 1945: 2
2/ Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954: 2
3/ Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975: 2
4/ Giai đoạn từ năm 1975 đến 1995: 3
5/ Giai đoạn từ năm 1995 đến nay: 3
III. Phân loại chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay: 3
1.Đối tượng của BHXH và đối tượng tham gia BHXH: 3
2.phân loại chế độ BHXh ở VN hiện nay: 4
IV. thực trạng của chế độ BHXH hiện nay : 5
1.đóng góp của BHXH với nền kinh tế xã hội hiện nay 5
2.Thực trạng của chế độ BHXH hiện nay: 6
V. Các biện pháp khắc phục và nâng cao chế độ bảo hiểm xã hội ở VIệt Nam:
10
2
I. Khái niệm:
Bảo hiểm xã hội là một chế định pháp lý bảo vệ người lao động, cùng với
sự hỗ trợ của Nhà Nước, thực hiện trợ cấp vật chất, góp phần ổn định đời sống
cho người tham gia bảo hiểm xã hội và gia đình họ trong các trường hợp người
lao động tham gia bảo hiểm xã hội gặp rủi ro ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, rủi ro tuổi già, làm cho gia đình bị mất hoặc giảm thu nhập
bất ngờ.
II. Sơ lược bảo hiểm xã hội từ năm 1941 đến nay:
1/giai đoạn từ năm 1941 đến 1945:
Trước năm 1945 ở Việt Nam chưa có pháp luật bảo hiểm xã hội. Bởi vì
đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, đời sống của nhân dân vô cùng khổ cực, nghèo
đói. Tuy nhiên nhân dân Việt Nam có truyền thống cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau
những khi gặp rủi ro hoạn nạn. Đặc biệt là sự che chở của họ hàng làng xã thân
Bảo hiểm xã hội mở rộng đối tượng, thành lập quỹ bảo hiểm xã hội độc lập với
ngân sách Nhà Nước do sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động
và sự hổ trợ của Nhà Nước, thành lập cơ quan chuyên trách để quản lý quỹ và
giải quyết các chế độ trợ cấp. Ngày 16/02/1995, Chính Phủ có nghị định số
19/CP thành lập bảo hiểm xã hội Việt Nam trên cơ sở thống nhất chức năng,
nhiệm vụ các bộ của Bộ lao động và thương binh và xã hội và Tổng Liên Đoàn
lao động Việt Nam. Ngày 24/01/2002, Chính Phủ có quyết định số 20/2002/QĐ-
TTg chuyển bảo hiểm y tế thuộc Bộ y tế sang bảo hiểm xã hội Việt Nam.
III. Phân loại chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay:
1.Đối tượng của BHXH và đối tượng tham gia BHXH:
Đối tượng của bảo hiểm xã hội:
Bảo hiểm xã hội là một hệ thống bảo đảm khoản thu nhập bị giảm hoặc mất đi
do người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các
nguyên nhân như ốm đau, tai nạn, già yếu… Chính vì vậy đối tượng của bảo
hiểm xã hội chính là thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi của những
người tham gia bảo hiểm xã hội.
Chúng ta cũng cần phân biệt giữa đối tượng của bảo hiểm xã hội và đối tượng
tham gia bảo hiểm xã hội, ở đây đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội chính là
những người lao động đứng trước nguy cơ mất an toàn về thu nhập và cả những
người sử dụng lao động bị ràng buộc trách nhiệm trong quan hệ thuê mướn lao
động.
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
4
1.1. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán
bộ, công chức;
1.2. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3
tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định của
pháp luật về lao động, bao gồm cả xã viên, cán bộ quản lý làm việc và hưởng
tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các hợp tác xã,
Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật hợp tác xã; người quản lý
đ) Tử tuất.
Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây:
a) Hưu trí;
b) Tử tuất.
Bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các chế độ sau đây:
a) Trợ cấp thất nghiệp;
b) Hỗ trợ học nghề;
5
IV. thực trạng của chế độ BHXH hiện nay :
1.đóng góp của BHXH với nền kinh tế xã hội hiện nay
a. ổn định cuộc sống người lao động, trợ giúp người lao động khi
gặp rủi ro: ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp sớm trở
lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm
Theo phương thức BHXH, BHYT, người lao động khi có việc làm
và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập vào quỹ dự phòng.
Quỹ này hỗ trợ người lao động khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con
cái, khi không làm việc, lúc già cả để duy trì và ổn định cuộc sống của người lao
động và gia đình họ. Do vậy, hoạt động BHXH, BHYT, một mặt, đòi hỏi tính
trách nhiệm cao của từng người lao động đối với bản thân mình, với gia đình và
đối với cộng đồng, xã hội theo phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì
mình” thông qua quyền và nghĩa vụ; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm
giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp nhau trong một quốc
gia, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thể chế
chính trị - xã hội bền vững
Trong hoạt động BHXH, BHYT, Nhà nước tiến hành xây dựng
chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhằm thực
hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXH, BHYT. Như vậy nhà
nước giữ vai trò quản lý về BHXH, BHYT, bảo hộ cho quỹ BHXH mà không
phải chi từ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này. Mặt khác, chính sách BHXH,
BHYT là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, giúp Nhà nước điều tiết
ốm đau, sinh đẻ hay điều trị thương tật nhằm nâng cao thể lực. Khi người lao
động mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp và được giới thiệu việc
làm hoặc gửi đi học nghề để có cơ hội tìm kiếm việc làm mới
d. một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân
phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân
cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội bền
vững
Sau khi đã thực hiện thuế thu nhập, Nhà nước sẽ tiến hành phân
phối lại thông qua chính sách BHXH, BHYT. Khi đó, người có năng lực hơn,
nhận được tiền lương cao hơn sẽ đóng góp nhiều hơn cho xã hội để trợ giúp
những người “yếu thế” hơn trong xã hội. Một bộ phận lao động khác do gặp phải
rủi ro trong cuộc sống như về sức khỏe, về năng lực, về hoàn cảnh gia đình có
việc làm và thu nhập thấp hơn sẽ nhận được các quyền lợi BHXH, BHYT để duy
trì cuộc sống. Bên cạnh đó, chế độ hưu trí, tử tuất với nguyên tắc tương đồng
giữa mức đóng và mức hưởng đã khuyến khích người lao động khi làm việc có
thu nhập cao và đóng góp ở mức cao, với thời gian dài thì sau này sẽ được
hưởng tiền lương hưu với mức cao, an tâm nghỉ ngơi khi tuổi già.
Bảo hiểm xã hội, BHYT đều được thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng, có
nghĩa là người tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, BHYT thì người đó mới được
hưởng quyền lợi về BHXH, BHYT. Như vậy, nguồn để thực hiện chính sách là
do người lao động đóng góp, Nhà nước không phải bỏ ngân sách ra nhưng vẫn
thực hiện được mục tiêu an sinh xã hội lâu dài
2.Thực trạng của chế độ BHXH hiện nay:
a.Bảo hiểm hưu trí:
1/ Các quy định về hưu trí luôn thay đổi (chỉ tính từ năm 1995 đến
nay đã 4 lần bổ sung, sửa đổi) điều này ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động,
7
việc xây dựng kế hoạch cơ cấu lao động và đặc biệt là kế hoạch sống và làm
việc của người lao động.
2/ Các tiêu chuẩn về chế độ hưu trí có nhiều khác biệt với mục
học sinh phải đóng gần 184.000 đồng/năm tiền BHYT. Mặc dù chi phí tham gia
tăng gần 4 lần, nhưng khi đi khám bệnh, học sinh, sinh viên vẫn phải cùng chi
trả 20% chi phí. Thêm vào đó, Bảo hiểm xã hội tỉnh triển khai BHYT cho học
sinh bắt đầu vào năm học mới, trong khi học sinh, sinh viên ở các vùng miền
đóng mức trần như nhau nên gia đình ở các xã vùng núi, xã thuần nông có con
em đi học gặp nhiều khó khăn vì phải đóng nhiều khoản vào một thời điểm. Đặc
biệt, công tác tuyên truyền vận động học sinh, sinh viên tham gia BHYT còn
thiếu sự vào cuộc tích cực và quyết liệt của các cấp, các ngành. Đặc biệt các nhà
trường tuyên truyền về BHYT cho học sinh, sinh viên cũng chưa mạnh, bởi vậy
phụ huynh, học sinh không hiểu nhiều về quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong
việc tham gia BHYT. Thêm vào đó, trường hợp học sinh, sinh viên trốn đóng
BHYT là phạm luật, nhưng nhà trường không thể xử lý vì đến nay vẫn chưa có
văn bản nào quy định hay đề cập đến việc xử lý các trường hợp không đóng
8
BHYT. Bởi vậy mới có tình trạng ngay như thành phố Móng Cái, điều kiện kinh
tế - xã hội của phần lớn các hộ gia đình rất khá, nhưng tỉ lệ học sinh tham gia
BHYT lại thấp so với các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh, bởi các gia đình có
tư tưởng khi con, em ốm, họ sẽ chủ động kinh phí khám, chữa bệnh… Đây là
những nguyên nhân dẫn đến vẫn còn 12% học sinh, sinh viên chưa tham gia
BHYT.
c.Bảo hiểm thất nghiệp
Trên thực tế, nhiều lao động vẫn đang nhầm lẫn mục đích của bảo
hiểm thất nghiệp với trợ cấp mất việc, dẫn đến một số "phản ứng" không tốt. Tại
cuộc họp mới đây do Sở Lao động - Thương binh & Xã hội TP. Hồ Chí Minh
chủ trì với các doanh nghiệp Hàn Quốc và Đài Loan, đại diện một công ty Hàn
Quốc nêu lên thực trạng: Có không ít lao động tham gia đủ 12 tháng bảo hiểm
thất nghiệp đã xin nghỉ việc để được hưởng trợ cấp thất nghiệp, sau khi lấy được
tiền đã xin trở lại làm việc, gây nên sự xáo trộn trong công ty, ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất.
Theo Luật Bảo hiểm thất nghiệp, trong vòng 15 ngày, sau khi đăng
Người lao động trên địa bàn cho rằng tham gia BHXH tự nguyện phải lo hoàn
toàn chi phí đóng nhưng chỉ được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất; trong khi đó
nếu tham gia BHXH bắt buộc tại các đơn vị doanh nghiệp thì chủ yếu do chủ sử
dụng lao động đóng mà ngoài chế độ hưu trí, tử tuất họ còn được hưởng các chế
độ ngắn hạn khác.
Mặt khác, do công tác tuyên truyền còn hạn chế, chính sách chưa có sức
hấp dẫn với người lao động nên trên địa bàn thành phố, có nhiều người thuộc
diện tham gia BHXH tự nguyện nhưng vẫn thờ ơ với loại hình bảo hiểm này
Nhưng đối với những người dân ở vùng nông thôn, các làng nghề thì
mức đóng BHXH tự nguyện là điều phải suy nghĩ trăn trở. Bởi với thu nhập
trung bình của các hộ ở vùng nông thôn nước ta từ 1-2 triệu đồng/tháng, chi phí
cho 3-5 người thì việc dành ra một khoản tiền đóng BHXH tự nguyện hàng
tháng là khó khăn.
e.Thực trạng thu phí :
Tình trạng nợ, chậm đóng BHXH vẫn xảy ra ở hầu hết các tỉnh,
thành phố. Theo BHXH Việt Nam, tính đến 31/12/2011, ước tính số nợ, chậm
đóng BHXH, BHTN là 3.338 tỷ đồng (BHXH là 3.166 tỷ đồng, BHTN là 172 tỷ
đồng), tăng 790 tỷ đồng so với năm 2010. Số tiền nợ, chậm đóng BHXH bằng
4,75% số phải thu BHXH, BHTN trong năm và tương ứng với số thu của 0,6
tháng. Hiện có 22.746 đơn vị nợ BHXH, trong đó nợ trên 6 tháng là 11.871 đơn
vị với số nợ là 1.652 tỷ đồng, chiếm trên 50% tổng số nợ. Tình trạng nợ, chậm
đóng BHXH tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố có số doanh nghiệp ngoài
nhà nước chiếm tỷ trọng lớn. Các đơn vị nợ BHXH nhiều tập trung tại các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, chiếm gần
75% tổng số nợ; đặc biệt có một số đơn vị nợ trong thời gian dài, nhiều nguy cơ
không còn khả năng thanh toán
f. Thực trạng đầu tư quỹ BH:
Đang có một bất cập về việc sử dụng nguồn vốn của Quỹ Bảo hiểm
xã hội. Hàng năm, số vốn tồn của quỹ này khá cao nhưng chưa được sử dụng tối
đa cho các mục đích sinh lợi.
Đến đây;nhóm xin đưa ra 1 số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế
của chế độ BHXH:
1. Thay đổi nhận thức của người lao động cũng như của người sử dụng lao động
trong việc tham gia bảo hiểm xã hội thông qua việc tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật BHXH, BHYT. Đậy là giải pháp quan trọng để bảo vệ lợi
ích của người lao động. Phải làm cách nào đó để người lao động không chỉ
quan tâm đến vấn đề công ăn việc làm, về thu nhập mà còn phải quan tâm đến
việc bảo về quyền lợi cho chính bản thân mình về lâu dài (thực tế là nhận thức
về chính sách BHXH, BHYT của người dân, người sử dụng lao động còn
nhiều hạn chế nên đã không ít các đơn vị, các công ty trốn tránh, không đăng
ký BHXH cho đủ số lượng lao động hoặc đóng chậm, thiếu…)
2. Tăng mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm luật BHXH cũng như tăng
cường lực lượng thanh tra lao động (mức xử phạt hiện nay là không đủ sức
răng đe).
3. Tăng mức lãi suất đóng chậm của BHXH bằng hoặc hơn lãi suất ngân hàng
(để tránh tình nhiều doanh nghiệp chấp nhận chịu phạt để chiếm dụng quỹ
BHXH).
4. Nâng cao công tác phòng chống bệnh tật cho người lao động. (mục đích là
làm giảm số chi của quỹ BHXH).
11
5. Tình trạng số lượng người hưởng lương hưu lớn hơn nhiều so với số người
tham gia vào hệ thống đã gây nên mất cân đối quỹ. Vì vậy, cần phải tăng tuổi
nghỉ hưu trong điều kiện được hưởng lương hưu.
6. Cần có các biện pháp để nâng cao mức thu BHXH cũng như là tạo sự ổn định
của quỹ BH như: Quản lý chặt chẽ mức lương đóng BHXH trong doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, tăng tính cưỡng chế đối với doanh nghiệp sử dụng
lao động trong việc đóng BHXH, khuyến khích hỗ trợ người dân tham gia,
đảm bảo an sinh xã hội…
7. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý như: cơ quản cấp phép thành lập
doanh nghiệp, cơ quan quản lý lao động và cơ quan thực hiện BHXH.
;
(5)
www.bhxhtphcm.gov.vn
;
(6)