Đề tài nghiên cứu khoa học
MỤC LỤC
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 1
Đề tài nghiên cứu khoa học
DANH MỤC HÌNH
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 2
Đề tài nghiên cứu khoa học
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay song song với quá trình phát triển kinh tế mạnh mẽ và tốc độ gia tăng đáng
kể các hoạt động xây dựng, rất nhiều tòa nhà thương mại ra đời tại Việt Nam, kéo theo
hoạt động tiêu thụ năng lượng ngày một tăng. Trong khi nguồn tài nguyên có giới hạn và
đang ngày càng cạn kiệt, đứng trước những thách thức lớn về thiếu hụt năng lượng và chi
phí năng lượng đầu vào ngày càng cao thì đòi hỏi cấp thiết phải đưa ra những giải pháp
đồng bộ, mang tính bền vững và hiệu quả trong việc giảm tiêu thụ điện năng trong các
tòa nhà thương mại.
Để thực hiện điều này ta cần một phương thức đúng đắn hướng tới việc giảm tiêu thụ
năng lượng, giảm chi phí và thân thiện với môi trường. Chiến lược sử dụng vật liệu xây
mới – vật liệu xây không nung trong công trình xây dựng đã đáp ứng được những yếu tố
trên. Phương thức này đã được nghiên cứu và áp dụng nhiều nước trên thế giới. Tuy
nhiên các nghiên cứu trên lĩnh vực giảm tiêu thụ năng lượng còn hạn chế, hầu hết chỉ tập
trung nghiên cứu các yếu tố về hiệu quả kỹ thuật xây dựng.
Tại Việt Nam, hoạt động sử dụng vật liệu xây không nung được biết đến trong thời
gian gần đây nhưng còn rất hạn chế do thói quen sử dụng vật liệu cũ. Đặc biệt vấn đề
hiệu quả tiết kiệm năng lượng chưa được sự chú ý thích đáng của xã hội cũng như của
các cơ quan chức năng.
Nhằm đem lại hiệu quả bền vững trong việc giảm tiêu thụ năng lượng trong tòa nhà
thương mại, hiện đang có một nhu cầu hết sức bức thiết là cần phải có một nghiên cứu
đánh giá hiệu quả tiết kiệm điện năng khi sử dụng vật liệu xây không nung để làm cơ sở
cho các hoạt động sử dụng vật liệu xây trong thời gian tới tại Việt Nam.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Chương 3: Đánh giá hiệu quả tiết kiệm điện năng cho một tòa nhà thương mại sử
dụng vật liệu xây không nung có dùng hệ thống điều hòa không khí
Nhân đây, nhóm nghiên cứu khoa học lớp D3 Khoa quản lý năng lượng chúng em
xin gửi lời cám ơn tới các cá nhân và tập thể sau:
- Các thầy cô khoa quản lý năng lượng và đặc biệt sự hướng dẫn tận tình của thầy
giáo Dương Trung Kiên đã hướng dẫn giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài nghiên
cứu này
- Thầy giáo phó giáo sư, tiến sĩ Bùi Hải khoa công nghệ năng lượng
- Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam
- Viện Vật liệu xây dựng_Bộ Xây Dựng
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 4
Đề tài nghiên cứu khoa học
- Vụ Vật liệu xây dựng_Bộ Xây Dựng
- Công ty triển lãm quốc tế IEC
- Viện khoa học xây dựng_Bộ Xây dựng
- Cục giám định nhà nước về chất lượng công trình_Bộ Xây Dựng
- Vụ Khoa học công nghệ_Bộ Xây Dựng
Bản nghiên cứu này không tránh khỏi những thiếu sót, em mong các thầy cô xem
xét, đánh giá, và đưa ra ý kiến để chúng em hoàn thiện hơn nữa. Chúng em xin chân
thành cám ơn!
Nhóm nghiên cứu khoa học
Đ3 - QLNL
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 5
Đề tài nghiên cứu khoa học
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG
I. ĐẶC ĐIỂM TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG TRONG TÒA NHÀ
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Tại Việt Nam, hiện nay sản lượng điện cần cung cấp cho các tòa nhà (nhà hàng,
khách sạn, TT thương mại, sinh hoạt ) gần 13.924 tỷ KWh tương đương với 48% cơ cấu
điện thương phẩm. Nhu cầu sử dụng năng lượng của các tòa nhà ngày một tăng. So sánh
các tòa nhà không chỉ góp phần làm giảm chi phí cho doanh nghiệp mà còn phù hợp với
mục tiêu của Chính phủ, đảm bảo an ninh năng lượng, phát triển bền vững và bảo vệ môi
trường.
Do đó các phương pháp nhằm tiết kiệm điện năng trong tòa nhà thương mại luôn
được quan tâm, nhất là các giải pháp về hiệu quả năng lượng và giảm tổn thất điện năng
khi sử dụng hệ thống điều hòa không khí. Vì vậy, cần tiến hành các nghiên cứu cụ thể
đánh giá những phương pháp hiệu quả tiết kiệm điện năng đối với tòa nhà thương mại có
dùng hệ thống điều hòa không khí.
II. VAI TRÒ CỦA VẬT LIỆU XÂY DỰNG ĐẾN TIÊU THỤ NĂNG
LƯỢNG TRONG TÒA NHÀ THƯƠNG MẠI SỬ DỤNG HỆ THỐNG ĐIỀU
HÒA KHÔNG KHÍ
Ngoài các đặc tính về cơ học như cường độ chịu nén, chịu lực, cách âm, chống cháy,
mỗi loại vật liệu xây đều có khả năng dẫn nhiệt khác nhau, biểu thị bởi hệ số dẫn nhiệt,
được ký hiệu là ⋋ (W/mK).
Giá trị ⋋ càng nhỏ thì vật liệu càng đảm bảo cách nhiệt tốt, giúp giảm nhiệt truyền
từ không khí bên ngoài qua tường vào tòa nhà về mùa hè và ngược lại về mùa đông. Căn
cứ từ lý thuyết truyền nhiệt, nhiệt truyền từ bên ngoài vào nhà về mùa hè phụ thuộc vào:
diện tích tường bao, hệ số truyền nhiệt của tường, hiệu nhiệt độ bên trong và ngoài tòa
nhà; ta có công thức sau:
Q
truyền
= k × F × ∆t = k × F × (t
N
– t
T
) (1.1)[1]
trong đó
t
N
: nhiệt độ ngoài trời, được tính bằng giá trị nhiệt độ trung bình của tháng nóng nhất,
N
(W/m
2
K): hệ số tỏa nhiệt đối lưu của không khi bên ngoài thường coi có giá trị
không đổi, α
N
= 20 W/m
2
K [2]
α
T
(W/m
2
K): hệ số tỏa nhiệt đối lưu của không khí bên trong thường coi có giá trị
không đổi, α
T
= 10 W/m
2
K [2]
⋋ (W/mK): hệ số dẫn nhiệt của tường
δ (m): chiều dày của tường, δ
tường
≈ δ
gạch
Từ đói ta thấy việc giảm hệ số truyền nhiệt chỉ có thể thực hiện được dựa trên việc sử
dụng vật liệu xây có hệ số dẫn nhiệt thấp, bởi các giá trị hệ số tỏa nhiệt bên ngoài và bên
trong tòa nhà phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ môi trường nên khó thay đổi, còn với
chiều dày tường thì tùy vào kết cấu và thiết kế xây dựng của tòa nhà.
Như vậy, cần tìm vật liệu (gạch) có giá trị ⋋ càng nhỏ càng tốt nhằm giảm nhiệt lạnh
(mùa hè) cần cung cấp hay giảm điện năng tiêu thụ cho hệ thống điều hòa không khí. Đây
(1.5)[1]
trong đó
Q
0
(kW): năng suất lạnh của máy điều hòa
Q (kW): tổng nhiệt thừa cần phải lấy đi về mùa hè của không gian cần điều hòa
Q
tỏa
(kW): nhiệt tỏa ra trong phòng (nhiệt tỏa ra từ người; nhiệt tỏa ra từ các thiết bị
như đèn, tivi, máy tính,…)
Q
truyền
(kW): nhiệt truyền từ không khí nóng bên ngoài qua tường vào phòng
Từ phương trình (1.5), ta thấy để giảm điện năng tiêu thụ đối với điều hòa không khí
cần dựa trên việc giảm một trong hai hoặc cả hai thành phần nhiệt là Q
tỏa
và Q
truyền
. Đối
với tòa nhà công sở, khách sạn có số lượng người trong mỗi phòng tương đối ít nên ta
luôn có:
Q
tỏa
< Q
truyền
= 2,5 [2]
Như vậy, cơ hội giảm nhiệt truyền từ không khí nóng bên ngoài qua tường vào phòng
sẽ đạt hiệu quả nhiều hơn so với việc giảm nhiệt tỏa bên trong tòa nhà. Mặt khác, các
biện pháp để giảm nhiệt tỏa từ người và thiết bị trong phòng là tương đối khó thực hiện
còn đối với các thiết bị có thể giảm được nhiệt lượng tỏa ra, tuy nhiên lượng nhiệt giảm
vật liệu xây dựng trên thế giới đều hướng tới những giải pháp vật liệu có độ bền cao, tuổi
thọ khai thác dài, cách nhiệt tốt, qua đó giảm thiểu được các tác động đến môi trường.
Đáp ứng những nhu cầu trên, gạch không nung đã dần thay thế cho gạch nung và trở
thành vật liệu được đánh giá cao trong xây dựng.
2. Tại Việt Nam
Khoáng sản làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam phong phú và đa dạng, có khả năng sử
dụng để phát triển hầu hết các chủng loại vật liệu xây dựng từ thông thường đến cao cấp
nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu như: đá vôi, đất sét, đất sét
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 10
Đề tài nghiên cứu khoa học
cho sản xuất gạch ngói, gốm sứ, đá, cát sỏi cho sản xuất bê tong, cát làm vữa xây trát, sét
chịu lửa, cao lanh, pirofilit, fenspat, pecmatit cho sản xuất gốm sứ xây dựng, cát trắng
cho sản xuất thủy tinh, kính xây dựng, các loại đá cho sản xuất đá ốp lát…
Đến nay vật liệu xây dựng Việt Nam phát triển không những về số lượng mà cả về
chất lượng, chủng loại mặt hàng rất phong phú. Trong đó, vật liệu xây có sản lượng gần
22000 triệu viên (năm 2008).
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 11
Đề tài nghiên cứu khoa học
STT Tên khoáng sản
Đơn vị
tính
Trữ lượng
Số lượng
(mỏ)
1 Đá vôi SX xi măng triệu tấn 44.73 351
2 Đất sét SX xi măng " 7.601 260
3 Phụ gia xi măng " 3.947 152
4 Cao lanh " 1.181 258
5 Feldspat " 52 44
6 Cát trắng SX thủy tinh " 1.619 45
phải tiêu tốn khoảng 60 triệu tấn than, thải ra một lượng lớn khói độc hại gây ô nhiễm
môi trường. Trong khi đó, sản phẩm gạch đất sét nung có kích thước nhỏ, khi xây tường
tốn nhiều vữa xây, vữa trát, tốn công xây và kéo dài tiến độ xây dựng công trình, cách
nhiệt kém gây tiêu tốn điện năng, không phù hợp với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ngành xây dựng. Do đó, ngày nay nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển đã
giảm dần sản xuất gạch đất sét nung xuống còn 30-40%, chuyển sang VLXKN là 60-
70%.
Tuy nhiên thời gian qua vật liệu xây không nung phát triển rất chậm. Đến năm 2009
việc sản xuất và sử dụng VLXKN chỉ đạt 8-8,5% trong tổng số vật liệu xây và chủ yếu
sản xuất VLXKN cốt liệu xi măng, mạt đá, cát. Nguyên nhân do người dân đã quen sử
dụng gạch đất sét nung cỡ nhỏ, giá bán gạch block trước đây cao hơn gạch đất sét nung.
Mặt khác, Nhà nước chưa ban hành đồng bộ các chính sách khuyến khích đầu tư phát
triển sản xuất và sử dụng VLXKN vào công trình.
Để đáp ứng nhu cầu cũng như đảm bảo đẩy mạnh chất lượng của vật liệu xây, ngày
28-4-2010, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 567/QĐ-TTg (gọi tắt là Quyết định
số 567) về việc phê duyệt Chương trình phát triển VLXKN đến năm 2020. Theo đó, phấn
đấu đến 2015, nước ta sẽ phát triển sản xuất và sử dụng VLXKN thay thế gạch đất sét
nung đạt tỷ lệ 20-25%, đến năm 2020 đạt 30-40%; hàng năm sử dụng khoảng 15-20 triệu
tấn phế thải công nghiệp (tro xỉ nhiệt điện, xỉ lò cao ) để sản xuất VLXKN, tiết kiệm
được khoảng 1.000 ha đất nông nghiệp và hàng trăm ha diện tích đất chứa phế thải; tiến
tới xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công; phát triển các
cơ sở sản xuất VLXKN bằng công nghệ tiên tiến với qui mô công suất phù hợp với từng
vùng, khu vực. Từ năm 2011, các công trình nhà cao tầng (từ 9 tầng trở lên) sử dụng tối
thiểu 30% VLXKN loại nhẹ (khối lượng thể tích không lớn hơn 1.000 kg/m3) trong tổng
số vật liệu xây; khuyến khích các công trình xây dựng sử dụng VLXKN khác có độ rỗng
lớn hơn 30% và VLXKN loại nhẹ.
Bảng 1.3. Chỉ tiêu của vật liệu xây Việt Nam đến năm 2020.
Chủng Đơn Năm Năm Năm
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 13
Đề tài nghiên cứu khoa học
hoạt động nghiên cứu đánh giá về những hiệu quả đạt được khi sử dụng vật liệu không
nung, đặc biệt là nghiên cứu về hiệu quả tiết kiệm điện năng khi dùng vật liệu mới này
bởi vấn đây là vấn đề còn ít được quan tâm thậm chí ngay trong lĩnh vực xây dựng hiện
nay. Để từ đó tuyên truyền làm thay đổi nhận thức cũ và tham gia tích cực vào hoạt động
sử dụng gạch không nung thay thế cho gạch đất sét nung.
STT Chủng loại Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
1 Xi măng Triệu tấn 13,29 16,10 21,12 24,12 26,15 30,8
2
Gạch ốp lát,
Ceramic,
Granite
Triệu m
3
42 67,83 96,33 110,2 120 170
3
Kính xây
dựng
Triệu m
2
30,71 30,72 31,6 38,26 56,57 74,86
4 Sứ vệ sinh
Triệu sản
phẩm
2,2 2,67 3,15 4,43 6,55 7,25
5 Vật liệu xây
Triệu
viên
9.087 10.3 11.36 13.81 14.86 16.53
6 Vật liệu lợp Triệu m
2
phù hợp với từng công trình. Gạch nung có khoảng từ 70 đến 100 tiêu chuẩn quốc tế, với
kích thước tiêu chuẩn khác nhau. Tại Việt Nam gạch này có kích thước phổ biến là
210x100x60mm, gạch không nung thì có khoảng 300 tiêu chuẩn quốc tế khác nhau với
kích cỡ viên gạch khác nhau, sức nén viên gạch không nung tối đa đạt 35MPa.
Về bản chất của sự liên kết tạo hình, gạch không nung khác hẳn gạch đất nung. Quá
trình sử dụng gạch không nung, do các phản ứng hoá đá của nó trong hỗn hợp tạo gạch sẽ
tăng dần độ bền theo thời gian. Tất cả các tổng kết và thử nghiệm trên đã được cấp giấy
chứng nhận: Độ bền, độ rắn viên gạch không nung tốt hơn gạch đất sét nung đỏ và đã
được kiểm chứng ở tất cả các nước trên thế giới: Mỹ, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản,
Các đặc điểm công nghệ gạch không nung:
- Nguyên liệu đầu vào để sản xuất gạch không nung hết sức phong phú và có sẵn
trong nước như mạt đá, cát vàng, xi măng.
- Dây chuyền sản xuất gạch không nung sử dụng ít công nhân, do các khâu hầu hết
được tự động hoá. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nhân lực thủ công nhiều
nên có thể chỉ cần tự động hoá một số khâu quyết định chất lượng sản phẩm, còn
một số khâu có thể sử dụng nhân công thủ công thì không cần tự động hoá để
giảm mức đầu tư.
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 16
Đề tài nghiên cứu khoa học
- Quá trình sản xuất gạch không nung không sử dụng đến đất nông nghiệp do đó
không ảnh hưởng đến diện tích đất nông nghiệp. Mặt khác do không dùng đến
than củi, … nên tiết kiệm được nhiên liệu, tránh được tình trạng phá rừng tràn lan
và không gây ô nhiễm môi trường.
- Máy móc thiết bị dây chuyền tự sản xuất chế tạo được cả trong và ngoài nước.
- Xây dựng nhà máy ở khắp mọi địa hình từ hải đảo tới đỉnh núi cao.
- Phụ gia vật tư sẵn có trên thị trường.
- Chất lượng viên gạch tiêu chuẩn tốt.
Những ưu điểm của gạch không nung so với gạch nung trong việc xây nhà cao ốc và
kho tàng
- Cường độ chịu lực có thể đáp ứng theo nhu cầu sử dụng. Đây là đặc tính mà gạch
(block) được tạo thành từ xi măng và một trong các hoặc nhiều trong các cốt liệu sau đây:
mạt đá, cát vàng, cát đen, xỉ nhiệt điện, phế thải công nghiệp, đất, Loại gạch này được
sản xuất và sử dụng nhiều nhất trong các loại gạch không nung. Trong các công trình thì
loại gạch không nung này chiếm tỉ trọng lớn nhất.
Loại gạch này thường có cường độ chịu lực tốt (trên 80kg/cm
2
), tỉ trọng lớn (thường
trên 1900kg/m
3
) nhưng những loại kết cấu lỗ thì có khối lượng thể tích nhỏ hơn (dưới
1800kg/m
3
).
Gạch Xi măng cốt liệu được sử dụng phổ biến trong xây dựng gồm các loạt chủ yếu
sau đây:
+ Gạch đặc và gạch rỗng để xây tường
+ Gạch lát đường, lát vỉa hè và các công trình công nghiệp.
+ Gạch viền, gạch trang trí.
+ Các cấu kiện khác như bó vỉa, gạch kè bờ hồ, sông, biển, gạch bó gốc cây,…
Đây là loại gạch được khuyến khích sử dụng nhiều nhất và được ưu tiên phát triển
mạnh. Nó đáp ứng rất tốt các tiêu chí về kỹ thuật, kết cấu, môi trường, phương pháp thi
công,
2. Gạch papanh
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 18
Đề tài nghiên cứu khoa học
Gạch không nung được sản xuất từ phế thải công nghiệp: Xỉ than, vôi bột được sử
dụng lâu đời ở nước ta. Gạch có cường độ thấp từ 30–50 kg/cm2 chủ yếu dùng cho các
loại tường ít chịu lực.
Công nghệ sản xuất vật liệu papanh còn lạc hậu, hình thức xấu, mẫu mã đơn điệu,
phẩm chất cơ lý thấp nên lĩnh vực sử dụng còn hạn chế chủ yếu là tự sản, tự tiêu. Mức độ
thân thiện với môi trường, siêu nhẹ, bền, tiết kiệm năng lượng hóa thạch do không phải
nung đốt truyền thống, bảo ôn, chống cháy, cách âm, cách nhiệt, chống thấm rất tốt so
với vật liệu đất sét nung.
Nó còn được gọi là gạch bê-tông siêu nhẹ vì tỷ trọng chỉ bằng 1/2 hoặc thậm chí là
chỉ bằng 1/3 so với gạch đất nung thông thường. Công trình xây dựng sẽ giảm tải, giảm
chi phí xử lý nền móng và hệ thống kết cấu, góp phần giảm mức đầu tư xây dựng công
trình từ 7- 10%, đẩy nhanh tiến độ thi công và hoàn thiện phần bao che của công trình lên
2 - 5 lần.
Ngoài ra, khả năng cách âm và cách nhiệt của bê tông nhẹ rất cao, làm cho nhà ấm
về mùa đông, mát về mùa hè, tiết kiệm điện năng sưởi hoặc điều hòa nhiệt độ Kích
thước thành phẩm lớn và chính xác (100mm x 200mm x 600mm) giúp rút ngắn thời gian
thi công và kể cả thời gian hoàn thiện. Với thành phần cấu tạo là vật liệu trơ và các chất
vô cơ, gạch bê-tông siêu nhẹ này hoàn toàn không độc hại, có độ bền rất cao và không
bắt lửa. Ngoài ra, với cấu trúc thông thoáng, nó còn có thể tự khuếch tán hơi nước, giải
phóng độ ẩm và loại trừ các vấn đề liên quan đến nẩm mốc – đặc biệt là trong điều kiện
thời tiết nắng nóng của khí hậu vùng nhiệt đới, vùng biển và vùng có độ ẩm cao như ở
khu vực miền Bắc Việt Nam.
Chính những ưu điểm vượt trội hơn hẳn các sản phẩm cùng loại, hiện vật liệu xây
AAC đang giành được nhiều mối quan tâm nhất trong số các loại vật liệu xây không
nung. Do đó trong đề tài nghiên cứu này sẽ đánh giá hiệu quả tiết kiệm điện năng khi sử
dụng vật liệu AAC so với gạch đất sét nung.
Bảng 2.3. Độ dẫn nhiệt và tỷ trọng AAC
Tỷ trọng kg/m
3
Độ dẫn nhiệt W/m.K
400 0,07-0,11
500 0,08-0,13
600 0,11-0,17
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 20
Đề tài nghiên cứu khoa học
0
C): nhiệt độ bên trong tòa nhà
Mùa hè : Δt = t
N
– t
T
Mùa đông : Δt = t
T
– t
N
F (m
2)
: diện tích tường bao
k
0
(W/m
2
k): hệ số truyền nhiệt đối với vật liệu cũ, theo (1.2) k
0
được tính bởi công
thức:
(2.2)
trong đó
α
N
(W/m
2
K): hệ số tỏa nhiệt bên ngoài tường, α
N
= 20 W/m
Đề tài nghiên cứu khoa học
trong đó
t
N
(
0
C): nhiệt độ ngoài trời
t
T
(
0
C): nhiệt độ bên trong tòa nhà
F (m
2)
: diện tích tường bao
k
1
(W/m
2
k): hệ số truyền nhiệt đối với vật liệu xây mới, theo (1.5) k
1
được tính bởi
công thức:
(2.4)
trong đó
α
N
(W/m
2
K): hệ số tỏa nhiệt bên ngoài, α
0
– Q
1
(2.5)
2. Phương pháp đánh giá điện năng tiết kiệm được
Giả thiết tòa nhà sử dụng hệ thống điều hòa không khí. Về mùa hè sử dụng hệ thống
điều hòa không khí để làm lạnh không khí, về mùa đông sử dụng hệ thống điều hòa
không khí để sưởi ấm nên ta sẽ đánh giá khả năng tiết kiệm điện năng của tòa nhà sử
dụng sử dụng hệ thống điều hòa không khí trong 1 năm khi sử dụng vật liệu mới.
- Từ công thức (1.4), lượng điện năng tiết kiệm được trong 1 năm là:
(2.6)
(h) : thời gian dùng điều hòa trong 1 năm
Giả thiết 1 năm có 360 ngày, 1 ngày có 10 giờ sử dụng điều hòa
(Chọn hệ số làm lạnh ε=3)
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 23
Đề tài nghiên cứu khoa học
3. Tính kinh tế của giải pháp
Chi phí mua vật liệu xây:
- Chi phí mua vật liệu cũ:
C
0
= V × g
0
(2.7)
trong đó
V(m
3
): thể tích xây của tường bao
g
0
(2.9)
Tiền tiết kiệm được do giảm tổn thất điện năng khi sử dụng vật liệu mới trong mỗi
năm
∆T
1
= ∆E
ζ
1
× giá điện (2.10)
- Số tiền tiết kiệm được khi sử dụng vật liệu mới trong năm đầu:
∆∆T
1
= ∆T
1
- ∆C
1
(2.11)
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 24
Đề tài nghiên cứu khoa học
II. KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TIẾT KIỆM ĐIỆN NĂNG CHO
MỘT TÒA NHÀ CỤ THỂ
1. Thông số đầu vào
1.1. Giả định về một tòa nhà cụ thể
Từ phạm vi nghiên cứu tòa nhà thương mại sử dụng điều hòa không khí và nhằm đưa
ra đánh giá cụ thể về hiệu quả tiết kiệm điện năng khi sử dụng vật liệu không nung cần
đưa ra minh họa về một tòa nhà giả định như sau: tòa nhà thương mại 20 tầng có kích
thước mặt bằng xây dựng 20×10 m. Mỗi tầng cao 3,5 m.
1.2.Các thông số
- Về vật liệu xây:
+ Đối với các tòa nhà thương mại đã xây dựng hiện nay chủ yếu sử dụng loại vật
(tuynen chuẩn 2 lỗ)
Gạch không nung AAC
Kích thước
(dài x rộng x cao)
210x100x60mm
600 x 100 x 200
Hệ số dẫn nhiệt
(Watt/m
0
.K)
0,814 0,17
Nhóm nghiên cứu khoa học – Đ3QLNL Page 25