HÀNH VI TIÊU DÙNG CỦA TẦNG LỚP TRUNG LƯU VIỆT NAM - Pdf 27

i

CÔNG TRÌNH DỰ THI
“GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH 2010”

Tên công trình:HÀNH VI TIÊU DÙNG CỦA TẦNG LỚP
TRUNG LƯU VIỆT NAM Giảng viên hướng dẫn: TS. Vũ Quốc Huy
TS.Vũ Phạm Hải Đăng
Người thực hiện: Lý Đại Hùng
Nguyễn Văn Thịnh

Trường: Đại học Kinh tế - ĐHQG HN
Lớp: QH2007E-CLC
ii
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

“HÀNH VI TIÊU DÙNG CỦA TẦNG LỚP TRUNG LƯU VIỆT NAM”
Khung lý thuyết của đề tài đã xây dựng và làm rõ khái niệm “tầng lớp trung lưu” tại
Việt Nam theo hai hướng khác nhau, trên cơ sở so sánh các luồng quan điểm hiện nay: định
nghĩa hiện đại sử dụng mức chi tiêu tiêu dùng trung bình để phân biệt tầng lớp trung lưu
với nhóm nghèo và giàu trong xã hội; định nghĩa cổ điển kết hợp mức chi tiêu tiêu dùng
trung bình với trình độ giáo dục của mỗi cá nhân. Kết quả thống kê cả hai chỉ tiêu trên, dựa
vào bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình (VLSS) đã thể hiện rằng định nghĩa hiện đại là
phù hợp hơn với Việt Nam hiện nay và kết quả khảo sát trình độ giáo dục của ba nhóm dân
cư đã phác hoạ một số nét về bức tranh xã hội Việt Nam các năm gần đây. Sau đó, bằng mô
hình hồi quy kinh tế lượng với hàm Lorenz toàn phương và hàm sản xuất Cobb-Douglas,
phần mềm EVIEW, với số liệu của Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới và Tổng cục Thống
kê Việt Nam, nhóm nghiên cứu ước lượng quy mô dân số của tầng lớp trung lưu Việt Nam
giai đoạn 1986 – 2015. Kết quả cho thấy từ hơn 5% dân số (1992), tầng lớp trung lưu Việt
Nam tăng lên 44% dân số (2009) và dự đoán khoảng 60% dân số năm 2015. Khối lượng
tiêu dùng của tầng lớp trung lưu cũng đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP qua các
năm, do sự tăng lên của mức chi tiêu tiêu dùng trung bình và sự mở rộng quy mô dân số
tầng lớp trung lưu qua các năm. Tiếp đó, bằng phương pháp thống kê tổng hợp đa biến và
phần mềm STATA, với bộ số liệu VLSS, đề tài đi sâu phân tích hành vi tiêu dùng của tầng
lớp trung lưu trong sự so sánh với nhóm giàu, nghèo tại Việt Nam và một số nước khác. Kết
quả đã nhận định tầng lớp trung lưu có khuynh hướng tiêu dùng tích cực với 65% tổng chi
tiêu dành cho các nhu cầu ngoài lương thực, thực phẩm. Trong đó, tỷ trọng chi tiêu cho y tế,
giáo dục của tầng lớp trung lưu là cao hơn so với nhóm giàu và nghèo. Các xu hướng tiêu
dùng của họ thể hiện sự theo đuổi một cuộc sống chất lượng hơn với chăm sóc sức khỏe tốt
hơn, chi nhiều hơn cho con cái học tập, sử dụng điện, nước sạch phổ cập hơn và thuê ở các
ngôi nhà giá trị hơn. Cuối cùng, đề tài đưa ra một số hàm ý chính sách dành cho Chính phủ
để hỗ trợ một cách hiệu quả tầng lớp đang lớn mạnh này và dành cho các doanh nghiệp để
đón nhận thị trường tiêu dùng rộng lớn do họ mang lại. Cuối bài nghiên cứu, nhóm cũng rút
ra những hạn chế của đề tài và gợi mở một số hướng nghiên cứu sâu hơn trong tương lai.

v
3.3. Ước lượng quy mô dân số của tầng lớp trung lưu tại Việt Nam
giai đoạn 2007 – 2015.......................................................................................31
3.3.1. Những giả định ........................................................................................31
3.3.2. Phương pháp ước lượng...........................................................................32
3.3.3. Dự đoán GDP thực tế 1990VNĐ giai đoạn 2010 – 2015. .........................32
3.3.4. Quy mô dân số của tầng lớp trung lưu Việt Nam giai đoạn 2007-2015 theo
hai phương án......................................................................................................35
3.4. Nhận định quy mô dân số thuộc tầng lớp trung lưu Việt Nam
giai đoạn 1986 – 2015.......................................................................................35
3.4.1. Nhận định qui mô tầng lớp trung lưu theo hai phương án.........................35
3.4.2. Tăng trưởng khối lượng tiêu dùng của tầng lớp trung lưu tác động tới tăng
trưởng GDP giai đoạn 1986-2015........................................................................37
CHƯƠNG 4: HÀNH VI TIÊU DÙNG CỦA TẦNG LỚP TRUNG LƯU..............39
4.1. Cơ sở phân tích.................................................................................................39
4.1.1. Cơ sở dữ liệu. ..........................................................................................39
4.1.2. Phương pháp phân tích. ...........................................................................40
4.2. Hành vi tiêu dùng của tầng lớp trung lưu...........................................................41
4.2.1. Chi tiêu cho lương thực, thực phẩm (chi ăn uống)....................................41
4.2.2. Chi tiêu cho giáo dục ...............................................................................42
4.2.3. Chi tiêu cho y tế.......................................................................................44
4.2.4. Các khoản chi cho điện, nước, tiền vệ sinh, thuê nhà................................46
4.2.5. Chi dùng hàng hóa lâu bền.......................................................................47
4.2.6. Chi cho may mặc, đi lại, giải trí ...............................................................48
4.3. Nhận định về một tầng lớp chi tiêu....................................................................49
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH .........................................50
5.1. Những phát hiện của bài nghiên cứu. ................................................................50
5.2. Hàm ý chính sách..............................................................................................50


Bảng 2.1: Xếp hạng 10 thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới..................................... 6
Bảng 2.2: Phân chia tầng lớp trung lưu theo phương án 1 ..........................................18
Bảng 2.3: Phân chia tầng lớp trung lưu theo phương án 2 ..........................................20
Bảng 2.4: Phân chia tầng lớp trung lưu theo phương án 1 theo VNĐ.........................21
Bảng 2.5: Phân chia tầng lớp trung lưu theo phương án 2 theo VNĐ..........................21
Bảng 3.1. Quy mô dân số tầng lớp trung lưu 1986-2006 theo phương án 1 ................30
Bảng 3.2. Quy mô dân số tầng lớp trung lưu 1986-2006 theo phương án 2 ................30
Bảng 4.1: Tỷ trọng chi ăn uống trong tổng chi tiêu cá nhân bình quân phân theo mức
sống và khu vực. .........................................................................................................41
Bảng 4.2: Tỷ trọng chi giáo dục trong tổng chi tiêu cá nhân bình quân, phân theo mức
sống và khu vực. .........................................................................................................42
Bảng 4.3: Tỷ trọng chi y tế trong tổng chi tiêu cá nhân bình quân phân theo mức sống
và khu vực ................................................................................................................45
Bảng 4.4: Tỷ trọng chi điện, nước, vệ sinh, thuê nhà trong tổng chi tiêu cá nhân bình
quân phân theo mức sống và khu vực..........................................................................46
Bảng 4.5: Tỷ trọng chi cho đồ dùng lâu bền trong tổng chi tiêu cá nhân bình quân phân
theo mức sống và khu vực...........................................................................................48
Bảng 4.6: Tỷ trọng chi cho may mặc, đi lại, giải trí trong tổng chi tiêu cá nhân bình
quân phân theo mức sống và khu vực..........................................................................48
viii


chủ yếu theo góc nhìn của khoa học xã hội.
Tại các nước phát triển, “Tầng lớp trung lưu hiện nay đóng vai trò đặc biệt đối với
sự phát triển kinh tế trong những thế kỷ qua. Họ được coi là nguồn gốc của tinh thần doanh
nghiệp và sự sáng tạo – những đơn vị kinh tế thúc đẩy nền kinh tế phát triển thịnh vượng,
tầng lớp trung lưu cung cấp tất cả những đầu vào cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế
tân cổ điển - ỷ tưởng mới, tích lũy vốn tư bản và vốn nhân lực”
1
. Tuy vậy, tại các nước
đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, sự hình thành và phát triển của tầng lớp
trung lưu cũng như vai trò xã hội, kinh tế và chính trị cũng có những khác biệt lớn bên cạnh
những nét tương đồng
2
.
“Tầng lớp trung lưu”vốn là một phạm trù phức tạp và gây nhiều tranh luận từ trước
đến nay. Trước hết, đó là sự đa dạng trong quan điểm nhận diện tầng lớp trung lưu: căn cứ
vào mức sống hay căn cứ vào trình độ văn hoá và vai trò chính trị ? Ngoài ra là những câu
hỏi về sự tồn tại, quy mô, tính đồng nhất và vai trò của tầng lớp trung lưu đối với sự phát
triển kinh tế, xã hội. Những quan điểm và tranh luận này, đến lượt chúng đã phát ra những
tín hiệu đối với các cơ quan Chính phủ trong các quyết định chính sách kinh tế và với các
doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh trong các quyết định về sản xuất. Bởi vì, tầng lớp trung
lưu không chỉ làm trung hoà sự phân hóa mức sống theo hai cực đối lập mà còn là hiện thân
của “chủ nghĩa tiêu dùng mới: kiên định, tân tiến trong quan điểm về phong cách sống, nhu
cầu về những sản phẩm có sức hút và thể hiện được địa vị của họ” (Juliet Schor 1999).
Tầng lớp trung lưu Việt Nam đã được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu
quốc tế như: “The global middle class: view on democracy, religion, values and life
satisfaction in emerging nations”
3
; “Global economic propects 2007: managing the next
và cách tiếp cận. Chúng tôi cố gắng đưa ra những nghiên cứu ban đầu về hành vi tiêu dùng
của tầng lớp trung lưu Việt Nam, góp phần vào việc xây dựng nền tảng cho những nghiên
cứu sâu hơn và tạo thêm cơ sở cho việc phân tích quyết định chính sách.
1.2. Phạm vi nghiên cứu.
Nhóm tiến hành nghiên cứu về tầng lớp trung lưu từ năm 1986, là năm nước ta bắt
đầu công cuộc đổi mới theo Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VI và dự báo đến năm 2015.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong việc tìm hiểu vai trò của tầng lớp trung
lưu đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam thông qua hành vi tiêu dùng. Tầng lớp trung
lưu cũng được xem xét và phân tích theo định nghĩa riêng của nhóm thực hiện đề tài.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về vai trò của tầng lớp trung lưu Việt
Nam đối với tăng trưởng kinh tế thông qua hành vi tiêu dùng. Do đó, câu hỏi nghiên cứu ở
đây là “Hành vi tiêu dùng của tầng lớp trung lưu Việt Nam có vai trò như thế nào đối
với tăng trưởng kinh tế ?”.
Để trả lời câu hỏi đó, nhóm đặt ra những câu hỏi phụ sau:
Tiêu dùng tư nhân có tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế? trường hợp cụ thể
của Việt Nam là như thế nào?
Hiểu như thế nào về khái niệm “Tầng lớp trung lưu” tại Việt Nam ? 4
Ngân hàng Thế giới Worlbank, 2007
5
Nghiên cứu của ngân hàng Deusche Bank, 21/08/2009
6
Victor T. King, (12/2008), Đại học Leeds, Anh quốc.
7
PGS.TS Nguyễn Đình Tuấn (2007), Viện kinh điển Mac-Lenin,
8
GS.Nguyễn Đình Tấn , Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

hiện 2 năm một lần.
1.5. Cấu trúc nghiên cứu.
Chương 1 giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu gồm cơ sở nghiên cứu, phạm vi
nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp, số liệu nghiên cứu và cấu trúc của bài nghiên
cứu.

4

Chương 2 trình bày khung lý thuyết để nghiên cứu về tầng lớp trung lưu Việt Nam
bao gồm vai trò của tiêu dùng tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế. Chương này cũng đưa ra
một định nghĩa rõ ràng, hợp lý về “tầng lớp trung lưu Việt Nam” dựa trên sự phân tích các
luồng quan điểm khác nhau về tầng lớp này, để làm cơ sở nghiên cứu cho các chương sau.
Chương 3 đưa ra mô hình và những giả định kèm theo để ước lượng quy mô dân số
của tầng lớp trung lưu tại Việt Nam giai đoạn 1986 – 2009 và dự báo cho giai đoạn 2010 –
2015. Từ đó, chương này phân tích khối lượng tiêu dùng của tầng lớp trung lưu đối với tăng
trưởng kinh tế Việt Nam dưới góc độ của kinh tế vĩ mô.
Chương 4, với góc độ của kinh tế vi mô, sẽ nghiên cứu sâu về hành vi tiêu dùng của
tầng lớp trung lưu trong mối so sánh với tầng lớp khác (nghèo và giàu có) tại Việt Nam và
một số quốc gia khác. Đề từ đó hiểu được những tín hiệu tiêu dùng mà tầng lớp trung lưu
đưa ra thị trường.
Chương 5 sẽ tổng kết lại các vấn đề được nghiên cứu và rút ra những hàm ý chính
sách. Đồng thời, chương 5 cũng chỉ ra những hạn chế của đề tài và gợi mở một số hướng
nghiên cứu sâu hơn trong tương lai. 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊNH NGHĨA
TẦNG LỚP TRUNG LƯU VIỆT NAM
“Có thể là sự nghèo đói tận cùng hay giàu có quá mức đều không có lợi cho sự tiến bộ của

10
Nguồn TCTK
11
Nguồn: theo A.T. Kearney Global Retail Development Index 2008

6

GDP 1990VNĐ thực tế bình quân đầu người 1 năm Nguồn: data.un.org
0
200,000
400,000
600,000
800,000
1,000,000
1,200,000
1,400,000
1,600,000
1,800,000
2,000,000
1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009

Hình 2.1: GDP thực tế bình quân đầu người, giá so sánh năm 1990
Country 2008 Rank 2007 Rank Change
Vietnam 1.00 4.00 + 3.00
India 2.00 1.00 -1.00
Russia 3.00 2.00 -1.00
China 4.00 3.00 -1.00
Egypt 5.00 14.00 + 9.00
Morocco 6.00 15.00 + 9.00
Arabia 7.00 10.00 + 3.00

nhóm các mặt hàng như ô tô, trang sức cao cấp, vàng bạc, đá quí… đã có sự tăng nóng
trong thời gian gần đây.
Về thị trường ô tô, có sự tăng trưởng mạnh trong doanh số bán hàng của cả 2 loại: ô
tô nhập khẩu nguyên chiếc và ô tô lắp ráp trong nước. Các loại ô tô nhập khẩu nguyên chiếc
chủ yếu là các thương hiệu nổi tiếng như BMW, Porsche, Ford, Mercedes... Đây là các
dòng xe cao cấp, sang trọng với giá từ 40.000 đến 200.000 USD/ chiếc chủ yếu bán theo
đơn đặt của các khách hàng có thu nhập cao trong nước. Bên cạnh đó, các loại xe lắp ráp
trong nước: xe du lịch, xe vận tải cũng bán rất chạy. Theo báo cáo bán hàng của Hiệp hội
các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA), trong tháng 9 năm 2009, tổng doanh số của các
thành viên VAMA đạt 11.071 xe, mức cao nhất kể từ đầu năm đến nay và tăng gấp hai lần
so với cùng kỳ năm ngoái. Qua đó, ta có thể thấy rằng, ô tô là mặt hàng vốn được xã hội coi
là cao cấp giờ đây đã trở nên thông dụng hơn nhiều. Chúng được coi là phương tiện đi lại,
du lịch, giải trí, kinh doanh của không chỉ những doanh nghiệp, tập đoàn, công ty lớn mà
còn là của các cá nhân, hộ gia đình có đời sống kinh tế khá giả.
Về thị trường vàng Việt Nam, mặc dầu Chính phủ đã dùng không ít các biện pháp
nhằm hạn chế sự tăng trưởng quá nóng của thị trường này ví dụ như thuế, hạn ngạch thậm
chí cả lệnh cấm nhập khẩu tuy nhiên không vì thế mà thị trường vàng giảm nhiệt. Ngày
11/11/2009 giá vàng trong nước thiết lập mốc cao kỉ lục 29.3 triệu đồng/ lượng. Từ những
năm 2006 trở lại đây, mức tiêu thụ vàng của Việt Nam luôn đứng trong top đầu của thế
giới, thậm chí năm 2007 theo báo cáo của Hội đồng vàng thế giới, Việt Nam là “cường
quốc” tiêu thụ vàng lớn nhất. Lý giải cho điều này, nhiều chuyên gia nhận định thị trường 12
Nguồn:

8

vàng Việt Nam nóng bởi xu hướng đầu tư, tích trữ của người dân. Xu hướng này đã trở
thành phổ biến trong xã hội, khi mà không chỉ các nhà đầu tư chuyên nghiệp mà tới cả các


vào xuất khẩu, ngoại thương qua đó hạn chế bớt những mặt xấu có tác động lan toả
của khủng hoảng, suy thoái trong nền kinh tế mở.
Để tạo khuôn khổ lý thuyết cho các phân tích về sau, dưới đây, chúng tôi xin trình
bày về vai trò của tiêu dùng tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế và trường hợp cụ thể của
Việt Nam.
2.2.1. Lý thuyết về tiêu dùng tư nhân trong nền kinh tế.
Chi tiêu tiêu dùng được đề cập đến thông qua lý thuyết kinh tế vi mô và kinh tế vĩ
mô. Dưới góc độ vi mô, tiêu dùng được xem xét như một hành vi của mỗi đơn vị kinh tế,
đó là sự lựa chọn tiêu dùng một rổ hàng hóa gồm các mặt hàng khác nhau để tối đa hóa độ
thoả dụng của bản thân với giới hạn của đường ngân sách. Sự lựa chọn các rổ hàng hóa của
người tiêu dùng thể hiện cho nhu cầu nhiều hay ít về các hàng hóa đó và nhu cầu này lại
đưa ra những tín hiệu cho nhà sản xuất. Từ đó các nguồn lực của nền kinh tế sẽ được phân
bổ cho việc sản xuất các mặt hàng cụ thể thông qua hoạt động sản xuất của người cung
ứng. Kinh tế vĩ mô thì nhìn nhận chi tiêu tiêu dùng tư nhân (được ký hiệu là C –
Consumption expenditure), là một thành phần chủ yếu của tổng cầu nội địa, bên cạnh
những nhân tố như vốn đầu tư, chi tiêu của Chính phủ và chênh lệch xuất nhập khẩu.
Mô hình tổng cầu của nền kinh tế, được nhà kinh tế học Keynes trình bày trong
cuốn “ Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ”, năm 1936. Tổng cầu AD của
nền kinh tế có phương trình:
Y = C + I +G + NX
Trong đó: C là chi tiêu tiêu dùng tư nhân, I là vốn đầu tư vào tài sản cố định, G là
chi tiêu của Chính phủ và NX là xuất khẩu ròng (chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và
nhập khẩu ) và Y là tổng sản phẩm quốc dân.
Chi tiêu tiêu dùng C tác động đến tổng sản lượng của nền kinh tế thông qua cơ chế dẫn
truyền tác động giữa đường chi tiêu dự kiến AE và đường 45
0
(đường 45
0
thể hiện cho sự

Như vậy, tiêu dùng cá nhân C là một trong những yếu tố có đóng góp quan trọng
đối với tăng trưởng kinh tế. Bất kì sự thay đổi nào trong tiêu dùng C đều dẫn đến sự thay
đổi trong mức tổng sản lượng Y, thông qua cơ chế tác động của hàm tổng chi tiêu của nền
kinh tế.
2.2.2. Vai trò của tiêu dùng tư nhân với nền kinh tế Việt Nam
Để đánh giá được vai trò của chi tiêu tiêu dùng tư nhân đối với tăng trưởng của nền
kinh tế Việt Nam, chúng tôi tiến hành phân tích định lượng mối quan hệ giữa tiêu dùng C
và tăng trưởng GDP theo các năm.
Cơ sở dữ liệu: Các chỉ tiêu trong mục “Tài khoản quốc gia”, được Tổng cục Thống
kê (www.gso.gov.vn) công bố theo mức giá so sánh của năm 1994, cho các năm từ 1995
đến 2008.
Hàm số ước lượng
14

T = G * ( C / GDP )
T là % tăng trưởng GDP do sự tăng lên của tiêu dùng C đóng góp.
G là tốc độ tăng trưởng của tiêu dùng C.

14
Y=C+I+G+NX  ΔY = ΔC+ΔI+ΔG+ΔNX  ΔY/Y = ΔC/Y + ΔI/Y + ΔG/Y + ΔNX/Y
 ΔY/Y = (ΔC/C) x (C/Y) + (ΔI/I) x (I/Y) + (ΔG/G) x (G/Y) + (ΔNX/NX) x (NX/Y)
IS

IS
1

AE

70
72
74
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
0.00
2.00
4.00
6.00
8.00
10.00
12.00
Tỷ trọng C / GDP Tăng GDP (%) % tăng GDP do C tăng

Tiêu dùng tư nhân C chiếm một tỷ trọng lớn trong GDP và có sự tăng, giảm qua
các năm (trung bình là 67% GDP), cao hơn mức trung bình của thế giới là 65%. Tỷ lệ cao
của C/GDP tại Việt Nam tự nó đã phản ánh một phần vai trò quan trọng của tiêu dùng tư
nhân trong nền kinh tế.
Không chỉ quan tâm tới tỷ trọng C/GDP, trên đồ thị chúng tôi cũng đồng thời chỉ ra
đóng góp của C trong tăng trưởng GDP (đường gấp khúc phía dưới). Qua đồ thị, ta có thể
rút ra một số nhận xét sau:
Từ 1996 đến 1999, phần đóng góp của C giảm dần, cùng với tỷ trọng của C trên
GDP cũng giảm dần trong giai đoạn này. Điều này có thể do sự tác động của khủng hoảng
tài chính Châu Á cộng hưởng với bất ổn nội bộ nền kinh tế giai đoạn mới mở cửa.
Từ 2000 đến 2007, sự đóng góp của C vào tăng trưởng kinh tế có xu hướng tăng
nhưng không ổn định. Khác với giai đoạn trước - khi mà tỷ trọng C/GDP là rất cao- thì giai
đoạn này tỷ trọng C/GDP thấp hơn nhưng sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tế lại được cải
thiện đáng kể. Điều này được giải thích bằng sự tăng trưởng nhanh chóng của tiêu dùng C
theo thời gian. Vì trong hàm số ở trên, khi C/GDP giảm mà T tăng lên thì chỉ có thể là do
G (tăng trưởng của tiêu dùng C) đã tăng lên. Vai trò của C là cao nhất vào năm 2007, khi
GDP tăng 8,45% thì trong đó có đến 7,15% là tiêu dùng C đóng góp – một tỷ lệ rất cao.

2.3.1. Các quan điểm về tầng lớp trung lưu “cổ điển”.
2.3.1.1. Định nghĩa theo hướng cổ điển
Các học giả theo cách định nghĩa cổ điển thường đánh giá tầng lớp trung lưu theo
tổng hoà các yếu tố từ thu nhập, đời sống tinh thần, trình độ học vấn, văn hóa, vị trí xã

13

hội… Hơn nữa họ thường áp dụng hoặc bám sát về lý thuyết phân tầng xã hội học trong
việc định nghĩa tầng lớp trung lưu. Chính điểm này đã khiến họ có điểm khác biệt và cũng
là lý do cho chúng tôi xếp vào cách định nghĩa cổ điển.
Một định nghĩa cổ điển về tầng lớp trung lưu khá phổ biến hiện nay đến từ lý thuyết
của nhà kinh tế và xã hội học Max Veblen, mà ý tưởng xuất phát từ tác phẩm “Lý thuyết về
tầng lớp nhàn rỗi” (The theory of the leisure class). Trung tâm của cách tiếp cận này vẫn là
hành vi tiêu dùng của mỗi cá nhân. M.Veblen đã đưa ra khái niệm “tiêu dùng vượt mức”
15
,
cho rằng “tiêu dùng tư nhân thể hiện cho sự mưu cầu về thể hiện địa vị xă hội, trình độ giáo
dục, hành vi văn hóa, xây dựng hình ảnh bản thân, quyền uy, nghề nghiệp, phong cách sống
và khả năng thị trường của cá nhân đó”. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu theo cách tiếp cận
này đã không dùng mức tiêu dùng mà lại dựa theo các tiêu chí khác trong việc xác định
tầng lớp trung lưu nhằm đề cập đến vai trò của trung lưu đối với sự phát triển tổng hoà văn
hóa, xã hội nói chung.
Nhà nghiên cứu Gunn đã dựa vào trình độ giáo dục, thu nhập, nghề nghiệp, phong
cách sống, sự xem xét về chính trị và quá trình dân chủ để định nghĩa tầng lớp trung lưu.
Gunn hy vọng rằng tầng lớp trung lưu sẽ như một lực lượng xã hội mới, cùng liên kết lại
mặc dù có một vài sự rời rạc và chắp vá, nhưng sẽ là động lực cho một xã hội dân chủ, văn
minh với nhu cầu cao về những thể chế mang tính đại diện.
Abdul Rahman Embong đã đề cập rằng những người thuộc tầng lớp trung lưu khác
biệt với các tầng lớp khác bởi trình độ văn hóa và của cải tương đối cao trong xã hội. Nói
cách khác, họ thích một địa vị đặc biệt thể hiện sự độc lập của bản thân và họ có khả năng

kiện kinh tế, thể chế, tư tưởng và nền tảng giá trị rất khác biệt với phương Tây. Thậm chí,
nhà nghiên cứu Hattori còn nhấn mạnh rằng: “tầng lớp trung lưu ở khu vực Đông nam á
không thể, vào thời điểm hiện tại, được định nghĩa theo quan điểm về tầng lớp xã hội như ở
phương Tây, nơi mà tầng lớp trung lưu được phân biệt với các tầng lớp khác dựa theo giá
trị văn hóa và trình độ nhận thức”.
Cụ thể, những góc nhìn của các nhà nghiên cứu kể trên hầu như đều hướng vào các
yếu tố vai trò chính trị, nghề nghiệp và trình độ văn hóa làm tiêu chí để định nghĩa. Tuy
nhiên, Việt Nam là một trong những nước có nền chính trị ổn định, được lãnh đạo bởi một
Đảng Cộng sản duy nhất. Do đó, yếu tố về chính trị trong sự tiếp cận ở trên là không phù
hợp với Việt Nam, khi mà tất cả các tầng lớp đều cùng nhau chia sẻ những mối quan tâm
và định hướng về chính trị rất thống nhất.
Việc dùng tiêu chí nghề nghiệp để định vị tầng lớp trung lưu ở Việt Nam cũng tỏ ra
không hợp lý. Vì những nghề nghiệp được kể trên mới chỉ là những quan điểm chuẩn tắc
của các tác giả khi họ cho rằng những cá nhân làm nghề nghiệp đó thì sẽ có những tầm ảnh
hưởng và vai trò chính trị và xã hội đi kèm. Điều đó là bất hợp lý vì nghề nghiệp ở Việt
Nam gần như không liên quan đến sự thể hiện quan điểm chính trị.
Còn đối với tiêu chí trình độ văn hóa, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đồng ý với
quan điểm dùng yếu tố này để định nghĩa tầng lớp trung lưu. Ví dụ như tác giả Nguyễn
Thanh Tuấn (2007, Về nhóm xã hội trung lưu Việt Nam hiện nay) nêu lên quan điểm:
“nhóm trung lưu ở nước ta cơ bản là nhóm lao động có trình độ học vấn và chuyên môn cao
trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp thợ thủ công, tầng lớp tri thức, viên
chức, tiểu thương và doanh nhân. Một bộ phận lớn trong số họ làm việc trong khu vực Nhà

15

nước. Lợi ích của họ gắn liền với lợi ích của Nhà nước”. Chuyên gia kinh tế Lê Trọng Nhi
trong những phân tích của mình nhấn mạnh và đồng nhất tính chuyên nghiệp và chuyên
môn của tầng lớp trung lưu. Theo ông, tầng lớp trung lưu là những người có trình độ học
vấn (trường lớp, hoặc tự học) chuyên môn cấp đại học và sau đại học, có thu nhập khá cao
và ổn định từ công việc chuyên môn, đồng thời nhu cầu văn hoá có nhiều tương đồng và

Việc sử dụng chi tiêu tiêu dùng là một thước đo để phân các tầng lớp kinh tế vốn đã
được sử dụng khá phổ biến ở trên thế giới vì tính ưu việt của nó so với tiêu chí thu nhập và
những phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Thứ nhất, dựa trên cơ sở khung lý thuyết đã nêu ở phần 2.2, chúng ta đều thấy được
vai trò quan trọng của chi tiêu tiêu dùng cá nhân với sự tăng trưởng GDP trong nền kinh tế.
Điều này là phù hợp với Việt Nam khi mà tỷ trọng C/GDP và tỷ lệ đóng góp của C cho
GDP là cao nhất trong các nhân tố. Quay lại mục đích nghiên cứu của nhóm ban đầu là
phác hoạ được vai trò kinh tế của tầng lớp trung lưu. Vì vậy nếu sử dụng một tiêu chí quan
trọng và có ý nghĩa cao như chi tiêu tiêu dùng tư nhân để định nghĩa giai tầng này thì sẽ rất
thuận lợi cho đề tài để phân tích được vai trò kinh tế của họ và đạt được mục đích nghiên
cứu.
Thứ hai, nhiều nhà kinh tế cũng đã đưa ra những nghiên cứu giải thích cho mối quan
hệ của tiêu dùng tư nhân với tăng trưởng kinh tế và mức sống của mỗi cá nhân. Trong đó,
phải kể đến quan điểm của John Mayard Keynes, Ivrish Fisher và Milton Friedman.
Tác giả của cuốn sách nổi tiếng, “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền
tệ”, J.M. Keynes coi tiêu dùng C đóng vai trò trung tâm trong lý thuyết của mình về biến
động kinh tế và từ đó, tiêu dùng đóng vai trò then chốt trong các phân tích kinh tế vĩ mô.
Trên cơ sở phân tích tâm lý và quan sát ngẫu nhiên, J.M.Keyenes cho rằng tiêu dùng phản
ánh mức thu nhập khả dụng tức là thu nhập sau khi nộp thuế mà người dân có quyền quyết
định với một hàm tiêu dùng: C = C
0
+ MPC*Y với C
0
là một hằng số và còn được gọi là
tiêu dùng tự định, MPC là khuynh hướng tiêu dùng biên (0<MPC<1) và Y là thu nhập khả
dụng (thu nhập sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế).
Khác với Keynes, Ivrish Fisher xây dựng mô hình về “người tiêu dùng hợp lý” biết
nhìn xa và quyết định lựa chọn giữa các thời kỳ khác nhau: hiện tại và tương lai bởi có sự
đánh đổi giữa tiêu dùng hiện tại và tiêu dùng trong tương lai. Theo đó, người tiêu dùng sẽ
tối ưu hóa mức tiêu dùng bằng cách chọn giao điểm tiếp tuyến giữa đường giới hạn ngân

những hạn chế. Việc đo lường và xác định một cách chính xác mức thu nhập bình quân là
một việc rất khó khăn do người dân có động cơ giấu thu nhập. Đặc biệt ở các nước đang
phát triển như Việt Nam, nơi mà hệ thống tài chính, kiểm toán còn chưa mạnh. Về điểm
này thì “mức chi tiêu tiêu dùng trung bình là đáng tin cậy hơn thu nhập vì người dân hiếm
khi khai sai mức chi tiêu”
17
. Hơn nữa, sự tồn tại của “khu vực kinh tế phi chính thức”
18

Việt Nam hiện nay dẫn đến thu nhập của những người thuộc khu vực này cũng không được
tính đến. Ngoài ra, thu nhập hiện tại thì biến động qua các năm, còn tiêu dùng phản ánh cả
sự ổn định của thu nhập thường xuyên và sự biến động trong thu nhập hiện tại, do đó là
một chỉ tiêu đáng tin cậy hơn so với chỉ tiêu thu nhập hiện tại.
Khái quát lại, phần trình bày ở trên đã chỉ ra rằng tiêu dùng có mối quan hệ chặt chẽ
với thu nhập. Tiêu dùng có thể thể hiện cho mức thu nhập khả dụng (thu nhập hiện tại) theo
lý thuyết của Keynes hoặc là mức thu nhập thường xuyên của mỗi cá nhân thông qua một
hệ số  cố định theo lý thuyết của Milton Friedman. Hơn thế nữa, tiêu dùng còn đảm bảo
tính chính xác, khách quan và là thước đo phù hợp hơn cho mức sống của các cá nhân, hộ
gia đình.
2.3.3.2. Định nghĩa và các phương án.
Cách định nghĩa dựa theo mức chi tiêu tiêu dùng này cũng có hai loại: một dựa trên
chi tiêu tuyệt đối và một dựa theo mức chi tiêu tương đối. Về cách định nghĩa theo mức
tương đối như nhà nghiên cứu Easterly (2000) định nghĩa tầng lớp trung lưu là những người 17
Viện khoa học thống kê, “Một số vấn đề phương pháp luận thống kê”, 06/2005
18
Giá trị của khu vực này khoảng 20% GDP năm 2009 (về định nghĩa có thể xem thêm trong tài liệu Hội
thảo quốc tế “Khu vực kinh tế phi chính thức ở Việt Nam”, Viện KHXH Việt Nam, 05/2010)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status