Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ LAN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG CÔNG TÁC
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƢỜNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG Chuyên ngành : Khoa học môi trƣờng
Mã số : 6044 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS.TS. Đỗ Thị Lan
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS.TS. Đỗ Thị Lan
Thái Nguyên, năm 2014 i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Luận văn này đã được thực hiện với số liệu và kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và thông tin trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 11 năm 2014
Tôi cũng bày tỏ lòng cảm ơn đối với Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Cao Bằng; Lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Cao Bằng; các thành viên
từng tham gia hội đồng thẩm định; Phòng Tài nguyên Môi trường các huyện, thành
phố, các đồng nghiệp, đồng môn, bạn bè đã hỗ trợ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt
quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành Luận văn này.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 11 năm 2014
Ngƣời thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Lan
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu của luận văn 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3.2.2. Hiện trạng môi trường nông thôn 44
3.2.3. Hiện trạng môi trường nước 46
3.2.4. Hiện trạng môi trường đất 46
3.2.5. Hiện trạng rừng - Đa dạng sinh học 47
3.3. Đánh giá thực trạng công tác lập, thẩm định và hậu thẩm định báo cáo đánh
giá tác động môi trường trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 47
3.3.1. Đánh giá về công tác lập báo cáo ĐTM 47
3.3.2. Đánh giá về công tác thẩm định báo cáo ĐTM 64
3.3.3. Đánh giá về công tác hậu thẩm định ĐTM 78
3.4. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác ĐTM trên địa bàn tỉnh Cao
Bằng 84
3.4.1. Các thách thức đối với công tác ĐTM trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
84
3.4.2. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác ĐTM trên địa
bàn tỉnh Cao Bằng 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường
BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường
ĐRR : Đánh giá rủi ro
ĐTK : Đánh giá tác động kinh tế
ĐTS : Đánh giá tác động sức khỏe
ĐTX : Đánh giá tác động xã hội
EU : Liên hiệp Châu âu
Bảng 3.5: Kết quả đánh giá về công tác lập ĐTM trên địa bàn tỉnh Cao Bằng,
giai đoạn 2011 đến nay 53
Bảng 3.6: Kết quả đánh giá về công tác thẩm định ĐTM trên địa bàn tỉnh
Cao Bằng, giai đoạn 2006 - 2011 66
Bảng 3.7: Kết quả đánh giá về công tác thẩm định ĐTM trên địa bàn tỉnh
Cao Bằng, giai đoạn 2011 đến nay 71
Bảng 3.8: Bộ máy, năng lực cán bộ làm công tác môi trường trên địa bàn tỉnh
Cao Bằng 78
Bảng 3.9: Kết quả đánh giá về công tác hậu thẩm định ĐTM – Đối với chủ
đầu tư 79
Bảng 3.10: Kết quả đánh giá về công tác hậu thẩm định ĐTM – Đối với cơ
quan quản lý nhà nước 82
vii
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Quy trình thẩm định báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền của Nội các
Chính phủ ở Thái Lan 10
Hình 1.2: Quy trình thẩm định báo cáo ĐTM không thuộc thẩm quyền của
nội các Chính phủ ở Thái Lan 11
Hình 1.3: Quy trình thực hiện ĐTM ở Malaysia 13
Hình 1.4: Khái quát về quy định thẩm định báo cáo ĐTM 20
Hình 3.1: Biểu đồ so sánh kết quả công tác lập ĐTM trên địa bàn tỉnh Cao
Bằng 58
Hình 3.2: Biểu đồ so sánh kết quả công tác thẩm định ĐTM trên địa bàn tỉnh
Cao Bằng 75
Hình 3.3: Biểu đồ so sánh kết quả thực hiện hậu thẩm định ĐTM đối với các
Vấn đề đặt ra là làm sao để tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội mà không làm
tổn hại tới môi trường sống của con người, làm thế nào để đạt tới sự hài hòa lâu dài,
bền vững giữa phát triển sản xuất và bảo vệ thiên nhiên, môi trường.
Nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã sử dụng đánh giá tác động
môi trường (ĐTM) là công cụ trong công tác quản lý môi trường nói chung, ngăn
ngừa ô nhiễm môi trường nói riêng. Việc thực hiện ĐTM đối với các dự án đầu tư 2
trở thành một thủ tục có tính pháp lý bắt buộc thực hiện trong quá trình triển khai
dự án từ giai đoạn đề xuất dự án, nghiên cứu tiền khả thi (báo cáo đầu tư) đến
nghiên cứu khả thi (dự án đầu tư), thiết kế và vận hành của dự án.
Nhiệm vụ đặt ra cho công tác ĐTM của Việt Nam là làm sao tạo được sự
thông thoáng tối đa cho môi trường đầu tư mà vẫn đảm bảo được yêu cầu của công
tác bảo vệ môi trường. Các yêu cầu về ĐTM đã được luật hóa và quy định bởi Luật
Bảo vệ môi trường từ năm 1993 và cụ thể hơn trong Luật Bảo vệ môi trường năm
2005. Với 20 năm thực hiện công tác ĐTM đã giúp Chính phủ Việt Nam từng bước
cụ thể hóa và cải thiện hệ thống quy định ĐTM, tạo lập và phát triển năng lực đội
ngũ thực hiện ĐTM; nhờ ĐTM mà nhiều dự án có nguy cơ, rủi ro cao đối với với
môi trường và xã hội đã buộc phải chấm dứt hoặc điều chỉnh lại.
Nhìn chung, ĐTM cũng đã đem lại cho công tác bảo vệ môi trường là hết sức
rõ ràng, khả quan nhưng bên cạnh đó, hoạt động ĐTM ở Việt nam nói chung và tỉnh
Cao Bằng nói riêng vẫn bộc lộ nhiều bất cập yếu kém về chất lượng cũng như chưa
khả thi trong việc đưa các quy định áp dụng vào thực tiễn.
Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài luận văn: “Đánh giá thực trạng và đề xuất
giải pháp trong công tác ĐTM trên địa bàn tỉnh Cao Bằng”. Đây là nội dung nghiên
cứu đầu tiên tại tỉnh Cao Bằng, rất cần thiết, có ý nghĩa. Kết quả của đề tài giúp các nhà
quản lý căn cứ để đưa ra những chính sách cụ thể nhằm bảo vệ môi trường theo định
hướng phát triển kinh tế xã hội gắn liền bảo vệ môi trường, phát triển bền vững trong
thời gian tới. Đồng thời, cũng là nền tảng để có những nghiên cứu sâu, rộng hơn đối
phương để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn nữa các quy định về ĐTM có tính
khả thi, phù hợp với thực tế trên phạm vi toàn quốc và đặc biệt cho tỉnh Cao Bằng. 4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về Đánh giá tác động môi trường (ĐTM)
1.1.1. Định nghĩa
Trên thế giới có rất nhiều cách định nghĩa về ĐTM. Mỗi quốc gia, mỗi tổ chức
có một cách định nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung, những định nghĩa đó có nội
dung cơ bản là giống nhau và chứa đựng các yếu tố đặc trưng của hoạt động ĐTM
(như đối tượng đánh giá, phạm vi đánh giá, mục tiêu của việc đánh giá).
Ở Việt Nam, theo Khoản 20 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 có
đưa ra giải thích về ĐTM (ở đây ta có thể xem là định nghĩa) như sau: “ĐTM là
việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để
đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó
”
. [11]
1.1.2. Vai trò của ĐTM trong phát triển KT-XH
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội trên thế giới nói chung, Việt Nam nói
riêng thường bắt đầu từ việc ra các quyết định mang tính chiến lược (Chiến lược,
chính sách, Quy hoạch, Kế hoạch tổng thể, Chương trình ); Các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương căn cứ Chiến lược, Quy hoạch từng lĩnh vực Quốc Gia xây
dựng và ban hành Quy hoạch, kế hoạch cho từng ngành. Trong đó, xây dựng và
thực hiện các dự án phát triển và cuối cùng là đưa ra dự án hoạt động sản xuất kinh
doanh, dịch vụ cụ thể.
Đối với các Quy hoạch và kế hoạch đã lập báo cáo đánh giá môi trường chiến
lược và các dự án sản xuất kinh doanh, sản xuất, dịch vụ lập báo cáo ĐTM. Vì vậy,
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành quy định về điều kiện và
hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM;
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 2 năm 2008 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP; 6
- Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM và cam
kết bảo vệ môi trường thay thế Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT;
- Thông tư số 13/2009/TT-BTNMT ngày 18 tháng 8 năm 2009 quy định về tổ
chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định báo cáo ĐMC, ĐTM thay thế Quyết
định số 13/2006/QĐ-BTNMT;
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy
định về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM, cam kết bảo vệ môi trường;
- Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định 29/2011/NĐ-CP.
1.2. Tình hình nghiên cứu ĐTM trên Thế giới và tại Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ĐTM của thế giới
a. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống ĐTM của Thế giới
Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên phát triển hệ thống ĐTM. Từ năm 1969, việc
phải tiến hành ĐTM đối với các dự án có quy mô đã quy định trong Đạo luật về
chính sách môi trường quốc gia. Tiếp đó, hệ thống này đã được giới thiệu và áp
dụng tại các nước EU, Châu Á như: nước Úc (1974); Thái Lan (1975); Pháp
(1976); Philippines (1978), Israel (1981) và Pakistan (1983). Các nỗ lực quốc tế để
phát triển hệ thống ĐTM được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và có thể
chia theo 4 nhóm sau đây:
- Nhóm thứ nhất: Thừa nhận có tính pháp lý các văn bản quốc tế như hiệp ước
(Treaty), hiệp định (Conventions) và Nghị định thư (Protocol). Rất nhiều các Hiệp
ước, Nghị định thư đã đề cập đến yêu cầu về ĐTM. Ví dụ như Hiệp định Espoo về
1
Sàng lọc
Sàng lọc dự án
Cung cấp thông
tin cần thiết
Đề xuất vấn đề
và bình luận
2
Xác định phạm
vị/Xem xét môi
trường ban đầu
- Phê duyệt TOR
- Thẩm định IEE
- Chuẩn bị TOR
- Chuẩn bị IEE
Đề xuất vấn đề
và bình luận
3
Nghiên cứu ĐTM
Phê duyệt TOR
Thực hiện ĐTM
Đề xuất vấn đề
và bình luận
4
Thẩm định
Thẩm định báo cáo
ĐTM
Cung cấp báo cáo
ĐTM và các tài
8
Báo cáo ĐTM sau khi hoàn thành được trình cho cơ quan có thẩm quyền để
thẩm định. Hoạt động thẩm định là nhằm mục tiêu đánh giá, xác định mức độ đầy
đủ, tin cậy và chính xác của các thông tin, kết luận nêu trong báo cáo ĐTM. Kết quả
thẩm định sẽ được chuyển đến cho cơ quan có thẩm quyền về đầu tư để xem xét
trong quá trình quyết định việc đầu tư cho một dự án.
Báo cáo ĐTM được một cơ quan thẩm định hoặc một Hội đồng do Cơ quan có
thẩm quyền thẩm định. Thông thường ở các nước việc thẩm định báo cáo ĐTM
thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, song cũng có
những nước thành lập cơ quan thẩm định riêng ví dụ như Hà Lan thành lập Uỷ ban
ĐTM trực thuộc Hoàng gia.
Hoạt động thẩm định thường được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau.
Tuy nhiên, thông thường nhất đều thực hiện theo 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu thẩm
định dưới góc độ kỹ thuật được thực hiện bởi các chuyên gia có trình độ chuyên
môn phù hợp. Kết quả thẩm định kỹ thuật là nguồn thông tin quan trọng làm căn cứ
cho thẩm định cuối cùng để quyết định. Kết quả của thẩm định là không thông qua
hoặc ra một báo cáo chấp thuận với những điều khoản, điều kiện bắt buộc phải tuân
thủ. Những yêu cầu và điều khoản này sẽ được đưa vào văn bản phê duyệt của cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt [6], [18], [20].
c. Một số quy trình ĐTM đang được áp dụng ở một số quốc gia châu Á
Quy trình ĐTM đang được áp dụng tại Thái Lan
Thái Lan là nước thuộc Châu Á, có điều kiện kinh tế, xã hội tương đương như
Việt Nam và quy trình ĐTM đang được áp dụng tại Thái Lan như sau:
Luật Nâng cao và Bảo vệ chất lượng môi trường Quốc gia năm 1992 yêu cầu
thực hiện ĐTM đối với các dự án phát triển. Tham gia vào quá trình ĐTM ở Thái
Lan, ngoài Chủ dự án, các Công ty tư vấn, cơ quan nghiên cứu khoa học, còn có các
cơ quan quản lý nhà nước gồm: Vụ ĐTM; Cơ quan Kế hoạch và Chính sách Môi
trường trực thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Hội đồng Thẩm định
chuyên gia và Uỷ ban Môi trường Quốc gia.
lần cuối và quyết định phê chuẩn;
Quy trình thẩm định Báo cáo ĐTM đòi hỏi Nội các Chính phủ phê chuẩn
không hạn chế về thời gian thẩm định và đươc thể hiện trong Hình dưới đây: 10 Hình 1.1: Quy trình thẩm định báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền của Nội các
Các chuyên gia hoặc các
Cơ quan chuyên môn
có ý kiến nhận xét 11
- Vụ ĐTM sẽ xem xét tính thích hợp của báo cáo để đưa ra ý kiến nhận xét,
đánh giá sơ bộ ban đầu.
- Báo cáo ĐTM và báo cáo nhận xét, đánh giá sơ bộ của Cơ quan Kế hoạch
và Chính sách Môi trường được trình cho Hội đồng thẩm định chuyên gia.
- Hội đồng Thẩm định chuyên gia (gồm các chuyên gia có trình độ chuyên
môn cao trong các lĩnh vực hoặc các chuyên ngành có liên quan hoặc các đại diện
từ các cơ quan luật pháp) phối hợp với Cơ quan Kế hoạch và Chính sách Môi
trường tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM [6], [20].
Quy trình thực hiện ĐTM đối với các dự án không đòi hỏi Nội các thẩm định
được thể hiện trong hình 1.1. Hình 1.2: Quy trình thẩm định báo cáo ĐTM không thuộc thẩm quyền của nội
các Chính phủ ở Thái Lan
Chủ dự án đệ trình Báo cáo ĐTM
cho OEPP và Cơ quan cấp phép
OEPP xem xét Báo cáo ĐTM và các
tài liệu liên quan trong 15 ngày
OEPP thẩm định và lập nhận xét
sơ bộ trong 15 ngày
Hội đồng chuyên gia thẩm định thẩm
định Báo cáo ĐTM trong vòng 45 ngày
Chủ dự án/cơ quan đề
xuất dự án
Executive Committee) để phê duyệt.
Đối với dự án phải thực hiện ĐTM chi tiết, chủ dự án lập đề cương ĐTM chi tiết
trình cho Ban thẩm định (Review Panel) do DOE chỉ định để xem xét. Quá trình
xem xét này có sự tham gia của cộng đồng. Báo cáo ĐTM chi tiết được trình cho
Ban thẩm định để thẩm định và việc phê duyệt báo cáo ĐTM này cũng thuộc thẩm
quyền của Hội đồng điều hành quốc gia [6], [20].
Bước tiếp theo của quy trình ĐTM là giám sát và đánh giá sau thẩm định được
thực hiện như nhau đối với cả 2 loại dự án phải lập ĐTM sơ bộ và ĐTM chi tiết.
13
Không ĐTM
Đánh giá sơ bộ
Đánh giá chi tiết
Chủ DA
chuẩn bị TOR
Xây dựng báo cáo
ĐTM sơ bộ
DOE thẩm định
Cơ quan thẩm
quyền phê duyệt
Triển khai và
giám sát
Soạn thảo đề cương
ĐTM chi tiết và Ban
thẩm định xem xét
Tham gia của cộng đồng
Xây dựng báo cáo
ĐTM chi tiết
Tham gia của cộng đồng
Ban thẩm định tiến hành
Thẩm định 14
1.2.2. Tình hình thực hiện công tác ĐTM ở Việt Nam
a. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống ĐTM ở Việt Nam:
Quá trình phát triển hệ thống ĐTM của Việt Nam có thể chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (trƣớc ngày 27/12/1993): Từ năm 1983, Chương trình nghiên
cứu về tài nguyên thiên nhiên và môi trường bắt đầu đi vào nghiên cứu phương
pháp luận ĐTM. Năm 1985, trong Nghị quyết định về công tác điều tra cơ bản, sử
hành Nghị định số 143/2004/NĐ-CP v/v sửa đổi, bổ sung Điều 14 Nghị định
175/Cp. Nghị định sửa đổi theo hướng phân cấp mạnh mẽ hơn cho các địa phương
là phù hợp với chủ trương cải cách hành chính và tạo điều kiện cho các sở TN&MT
tăng cường năng lực về ĐTM, đông thời giảm tải hoạt động thẩm định cho cấp Bộ.
Đối với các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài điều chỉnh bằng Thông tư số
715/TT-MTg ngày 03/4/1995 của Bộ Khoa học công nghệ và môi trường. Thông tư
được thực hiện trong thời gian 2 năm thì thay thế bởi Thông tư số 1100/TT-MTg
ngày 20/8/1997.
Sự điều chỉnh quan trong của Thông tư này là đối tượng điều chỉnh không chỉ
đối với các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài mà cả các dự án đầu tư từ nguồn
vốn trong nước hoặc vay vốn nước ngoài hay nói một cách khác là không có sự
khác biệt trong việc thực hiện các yêu cầu về BVMT giữa đầu tư trong nước và đầu
tư của nước ngoài vào Việt Nam.
Ngoài ra, trong giai đoạn này còn một số văn bản khác liên quan đến thủ tục,
trình tự, nguyên tắc thẩm định như Thông tư số 490/1998/TT-BKHCNMT ngày
29/4/1998 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về hướng dẫn lập và thẩm
định báo cáo ĐTM đối với các dự án đầu tư; Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội
đồng thẩm định Báo cáo ĐTM ban hành kèm theo Quyết định số 04/2003/QĐ-
BTNMT ngày 21/8/2003 của Bộ trưởng Bộ TN&MT.
- Giai đoạn 3 (Từ ngày 01/7/2006 đến nay): Với sự ra đời của Luật Bảo vệ
Môi trường năm 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006), công tác bảo vệ môi 16
trường được tăng cường hơn, các vai trò, ý nghĩa có ĐTM được nâng cao. Việc thực
hiện ĐTM được đặt ra với yêu cầu chặt chẽ, rõ ràng hơn cho các dự án đầu tư có nguy
cơ tác động môi trường ở mức độ cao, những dự án đầu tư còn lại thì yêu cầu phải
đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường (thực chất vẫn là hình thức đơn giản của ĐTM).
Bên canh hệ thống văn bản pháp luật được xây dựng và ban hành, Bộ Tài nguyên và
Môi trường đã và đang xây dựng và ấn phẩm nhiều hướng dẫn kỹ thuật ĐTM cho