Đánh giá thực trạng và để xuất giải pháp trong công tác đánh giá tác động môi trường trên địa bàn tỉnh cao bằng - Pdf 30

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ LAN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG CÔNG TÁC
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Mã số : 6044 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Đỗ Thị Lan
Thái Nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ LAN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG CÔNG TÁC
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Mã số : 6044 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Đỗ Thị Lan
Thái Nguyên, năm 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Luận văn này đã được thực hiện với số liệu và kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và thông tin trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 11 năm 2014

2. Mục tiêu của luận văn 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Tổng quan về Đánh giá tác động môi trường (ĐT 4
1.1.1. Định nghĩa 4
1.1.2. Vai trò của ĐTM trong phát triển KT-XH 4
1.1.3. Căn cứ pháp lý thực hiện ĐTM 5
1.2. Tình hình nghiên cứu ĐTM trên Thế giới và tại Việt Nam 6
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ĐTM của thế giới 6
1.2.2. Tình hình thực hiện công tác ĐTM ở Việt Nam 14
1.3. Các nghiên cứu về công tác ĐTM tại Việt Nam 25
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.2. Phạm vi nghiên cứu 27
2.3. Thời gian nghiên cứu 28
2.4. Nội dung nghiên cứu 28
2.5. Phương pháp nghiên cứu 28
iv
2.5.1. Phương pháp thu thập, kế thừa và tổng hợp số liệu 28
2.5.2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế 29
2.5.3. Phương pháp đánh giá về công tác đánh giá ĐTM 29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Cao Bằng 36
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội 39
3.2. Hiện trạng chất lượng môi trường tỉnh Cao Bằng 41

OEPP : Cơ quan Kế hoạch và Chính sách môi trường
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
TCMT : Tiêu chuẩn môi trường
TNMT : Tài nguyên môi trường
TOR : Điều khoản tham chiếu
UBND : Ủy ban Nhân dân
UNEP : Chương trình môi trường của Liên hợp quốc
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Vai trò và trách nhiệm trong các bước thực hiện của quá trình
ĐTM 7
Bảng 1.2: Quy trình và trách nhiệm của các bên liên quan trong thực hiện
ĐTM ở Việt Nam 22
Bảng 2.1: Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng báo cáo ĐTM 31
Bảng 2.2: Tính toán mức quan trọng của các tiêu chí trong Bộ tiêu chí đánh
giá về công tác hậu ĐTM đối với chủ dự án 33
Bảng 2.3: Tính mức tuân thủ của các tiêu chí trong Bộ tiêu chí đánh giá về
công tác hậu ĐTM đối với chủ dự án 34
Bảng 2.4: Về chuẩn mực đánh giá các tiêu chí công tác lập ĐTM 35
Bảng 3.1: Tình hình thu gom và phát sinh nước thải 42
Bảng 3.2: Cơ sở hạ tầng xử lý rác thải sinh hoạt 43
Bảng 3.3: Mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 45
Bảng 3.4: Kết quả đánh giá về công tác lập ĐTM trên địa bàn tỉnh Cao Bằng,
giai đoạn 2006 - 2011 48
Bảng 3.5: Kết quả đánh giá về công tác lập ĐTM trên địa bàn tỉnh Cao Bằng,
giai đoạn 2011 đến nay 53
Bảng 3.6: Kết quả đánh giá về công tác thẩm định ĐTM trên địa bàn tỉnh
Cao Bằng, giai đoạn 2006 - 2011 66
Bảng 3.7: Kết quả đánh giá về công tác thẩm định ĐTM trên địa bàn tỉnh
Cao Bằng, giai đoạn 2011 đến nay 71

nước nên khó khăn trong việc giao lưu kinh tế. Bên cạnh đó, Cao Bằng có ba cửa
khẩu lớn là cửa khẩu Tà Lùng, Hùng Quốc và Sóc Hà tạo thông thương với Trung
Quốc, thuận lợi giao lưu, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu hàng hoá. Với những
đặc điểm địa hình, đất đai, nguồn nước và khí hậu đã tạo cho Cao Bằng có điều kiện
phát triển một nền nông lâm nghiệp. Ngoài ra, tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú, đa dạng cũng là tiền đề để phát triển ngành công nghiệp của tỉnh.
Cùng với phát triển của cả nước, tỉnh Cao Bằng đang trên đà phát triển công
nghiệp hóa, hiện đại hòa. Các dự án được triển khai đồng loạt về mọi mặt: Xây
dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Đường giao thông; khu đô thị; trung tâm chính trị của
tỉnh; khách sạn; nhà hàng và đặc biệt khi Luật Khoáng sản năm 2010 và các văn bản
dưới Luật có hiệu lực thì hàng loạt các mỏ khoáng sản phải lập thủ tục thăm dò,
đánh giá trữ lượng và xin cấp giấy phép khoáng sản Song mặt trái của quá trình
phát triển đó, là ô nhiễm môi trường và suy thoái các hệ sinh thái tự nhiên, những
thay đổi có thể không dễ dàng nhận ra bởi những hậu quả của nó có thể không tạo
ra hiệu ứng tức thời với môi trường sống của chúng ta hoặc nhận ra nhưng chúng ta
chấp nhận đánh đổi để phát triển.
Vấn đề đặt ra là làm sao để tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội mà không làm
tổn hại tới môi trường sống của con người, làm thế nào để đạt tới sự hài hòa lâu dài,
bền vững giữa phát triển sản xuất và bảo vệ thiên nhiên, môi trường.
Nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã sử dụng đánh giá tác động
môi trường (ĐTM) là công cụ trong công tác quản lý môi trường nói chung, ngăn
ngừa ô nhiễm môi trường nói riêng. Việc thực hiện ĐTM đối với các dự án đầu tư
2
trở thành một thủ tục có tính pháp lý bắt buộc thực hiện trong quá trình triển khai
dự án từ giai đoạn đề xuất dự án, nghiên cứu tiền khả thi (báo cáo đầu tư) đến
nghiên cứu khả thi (dự án đầu tư), thiết kế và vận hành của dự án.
Nhiệm vụ đặt ra cho công tác ĐTM của Việt Nam là làm sao tạo được sự
thông thoáng tối đa cho môi trường đầu tư mà vẫn đảm bảo được yêu cầu của công
tác bảo vệ môi trường. Các yêu cầu về ĐTM đã được luật hóa và quy định bởi Luật
Bảo vệ môi trường từ năm 1993 và cụ thể hơn trong Luật Bảo vệ môi trường năm

3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Áp dụng kiến thức đã học ở nhà trường sử dụng nghiên cứu, xây dựng luận
văn tốt nghiệp;
- Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học, kiến thức thực tế;
- Tích lũy kinh nghiệm trong giải quyết công việc chuyên môn về công tác
thẩm định báo cáo ĐTM.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Giúp cơ quan quản lý môi trường các cấp của tỉnh Cao Bằng căn cứ vào kết
quả nghiên cứu đề tài để đưa ra cơ chế, chính sách, giải pháp trong thời gian tới
nâng cao công tác ĐTM trên địa bàn tỉnh đạt mục tiêu phấn đấu phát triển kinh tế xã
hội (KT-XH) theo hướng bền vững;
- Kiến nghị, đề xuất giải pháp trong công tác ĐTM với Trung ương, địa
phương để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn nữa các quy định về ĐTM có tính
khả thi, phù hợp với thực tế trên phạm vi toàn quốc và đặc biệt cho tỉnh Cao Bằng.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về Đánh giá tác động môi trường (ĐTM)
1.1.1. Định nghĩa
Trên thế giới có rất nhiều cách định nghĩa về ĐTM. Mỗi quốc gia, mỗi tổ chức
có một cách định nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung, những định nghĩa đó có nội
dung cơ bản là giống nhau và chứa đựng các yếu tố đặc trưng của hoạt động ĐTM
(như đối tượng đánh giá, phạm vi đánh
giá,
mục tiêu của việc đánh
giá
).
Ở Việt Nam, theo Khoản 20 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 có
đưa ra giải thích về ĐTM (ở đây ta có thể xem là định nghĩa) như sau: “ĐTM là
việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về
quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT ngày 08 tháng 9 năm 2006 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM và cam
kết bảo vệ môi trường;
- Quyết định số 13/2006/QĐ-BTNMT ngày 08 tháng 9 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của
Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, Hội đồng thẩm định
báo cáo ĐTM;
- Quyết định số 19/2007/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2007 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành quy định về điều kiện và
hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM;
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 2 năm 2008 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP;
6
- Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM và cam
kết bảo vệ môi trường thay thế Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT;
- Thông tư số 13/2009/TT-BTNMT ngày 18 tháng 8 năm 2009 quy định về tổ
chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định báo cáo ĐMC, ĐTM thay thế Quyết
định số 13/2006/QĐ-BTNMT;
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy
định về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM, cam kết bảo vệ môi trường;
- Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định 29/2011/NĐ-CP.
1.2. Tình hình nghiên cứu ĐTM trên Thế giới và tại Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ĐTM của thế giới
a. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống ĐTM của Thế giới
Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên phát triển hệ thống ĐTM. Từ năm 1969, việc

quá trình ĐTM
Cơ quan môi
trường
Chủ dự án
Các cơ quan
chính phủ
khác
1
Sàng lọc
Sàng lọc dự án
Cung cấp thông
tin cần thiết
Đề xuất vấn đề
và bình luận
2
Xác định phạm
vị/Xem xét môi
trường ban đầu
- Phê duyệt TOR
- Thẩm định IEE
- Chuẩn bị TOR
- Chuẩn bị IEE
Đề xuất vấn đề
và bình luận
3
Nghiên cứu ĐTM
Phê duyệt TOR
Thực hiện ĐTM
Đề xuất vấn đề
và bình luận

8
Báo cáo ĐTM sau khi hoàn thành được trình cho cơ quan có thẩm quyền để
thẩm định. Hoạt động thẩm định là nhằm mục tiêu đánh giá, xác định mức độ đầy
đủ, tin cậy và chính xác của các thông tin, kết luận nêu trong báo cáo ĐTM. Kết quả
thẩm định sẽ được chuyển đến cho cơ quan có thẩm quyền về đầu tư để xem xét
trong quá trình quyết định việc đầu tư cho một dự án.
Báo cáo ĐTM được một cơ quan thẩm định hoặc một Hội đồng do Cơ quan có
thẩm quyền thẩm định. Thông thường ở các nước việc thẩm định báo cáo ĐTM
thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, song cũng có
những nước thành lập cơ quan thẩm định riêng ví dụ như Hà Lan thành lập Uỷ ban
ĐTM trực thuộc Hoàng gia.
Hoạt động thẩm định thường được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau.
Tuy nhiên, thông thường nhất đều thực hiện theo 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu thẩm
định dưới góc độ kỹ thuật được thực hiện bởi các chuyên gia có trình độ chuyên
môn phù hợp. Kết quả thẩm định kỹ thuật là nguồn thông tin quan trọng làm căn cứ
cho thẩm định cuối cùng để quyết định. Kết quả của thẩm định là không thông qua
hoặc ra một báo cáo chấp thuận với những điều khoản, điều kiện bắt buộc phải tuân
thủ. Những yêu cầu và điều khoản này sẽ được đưa vào văn bản phê duyệt của cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt [6], [18], [20].
c. Một số quy trình ĐTM đang được áp dụng ở một số quốc gia châu Á
Quy trình ĐTM đang được áp dụng tại Thái Lan
Thái Lan là nước thuộc Châu Á, có điều kiện kinh tế, xã hội tương đương như
Việt Nam và quy trình ĐTM đang được áp dụng tại Thái Lan như sau:
Luật Nâng cao và Bảo vệ chất lượng môi trường Quốc gia năm 1992 yêu cầu
thực hiện ĐTM đối với các dự án phát triển. Tham gia vào quá trình ĐTM ở Thái
Lan, ngoài Chủ dự án, các Công ty tư vấn, cơ quan nghiên cứu khoa học, còn có các
cơ quan quản lý nhà nước gồm: Vụ ĐTM; Cơ quan Kế hoạch và Chính sách Môi
trường trực thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Hội đồng Thẩm định
chuyên gia và Uỷ ban Môi trường Quốc gia.
9

không hạn chế về thời gian thẩm định và đươc thể hiện trong Hình dưới đây:
10
Hình 1.1: Quy trình thẩm định báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền của Nội các
Chính phủ ở Thái Lan
Đối với các dự án không đòi hỏi phải trình báo cáo ĐTM để Nội các Chính
phủ thẩm định và phê chuẩn:
- Căn cứ vào Thông tư hướng dẫn của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường, Chủ dự án xác định dự án của mình có phải lập báo cáo ĐTM hay không và
thông báo cho Cơ quan Kế hoạch và Chính sách Môi trường.
- Chủ dự án trình báo cáo ĐTM cho Cơ quan cấp phép và Vụ ĐTM của Cơ
quan Kế hoạch và Chính sách Môi trường.
Cơ quan chỉnh phủ
Government Agency,
State Enterprise
Soạn thảo Báo cáo ĐTM
ở giai đoạn
nghiên cứu khả thi
OEPP đưa ra ý kiến
nhận xét
Hội đồng
chuyên gia thẩm định
Uỷ Ban môi trường Quốc gia
trình ý kiến nhận xét
Nội các
Chính phủ
(Cabinet)
quyết định
phê chuẩn
hay không
phê chuẩn

Hội đồng chuyên
gia thẩm định
Không đạt, phải
hoàn thiện
Cơ quan cấp phép cấp giấy phép
kèm theo những điều kiện của
OEPP
Cơ quan cấp phép từ chối
không cấp giấy phép
30 ngày
Phê chuẩn
Phê chuẩn
12
* Quy trình thực hiện ĐTM tại Malaysia
Ngay từ năm 1980, thủ tục về ĐTM đã được áp dụng đối với 3 dự án lớn, tuy
nhiên quy định mang tính pháp luật bắt buộc thực hiện đối với công tác ĐTM ở
Malaysia được chính thức áp dụng từ năm 1986.
Quy trình ĐTM thực hiện tại Malaysia phù hợp với quy trình ĐTM chung
gồm các bước sàng lọc, xác định phạm vi, tham gia của cộng đồng, nghiên cứu và
lập báo cáo ĐTM, thẩm định, phê duyệt và giám sát (Wood,1996). Theo quy trình
này, Chủ dự án thực hiện sàng lọc với sự tư vấn của Vụ Môi trường (DOE) để xác
định dự án không phải thực hiện ĐTM, thực hiện ĐTM sơ bộ hay ĐTM chi tiết.
Đối với dự án phải thực hiện ĐTM sơ bộ, bước thực hiện tiếp theo là chủ dự
án lập TOR và trình cho DOE xem xét, cho ý kiến.
Trên cơ sở TOR đã được chấp thuận, tiến hành ĐTM sơ bộ và trình cho DOE
để thẩm định và kết quả được chuyển đến Hội đồng điều hành quốc gia (State
Executive Committee) để phê duyệt.
Đối với dự án phải thực hiện ĐTM chi tiết, chủ dự án lập đề cương ĐTM chi tiết
trình cho Ban thẩm định (Review Panel) do DOE chỉ định để xem xét. Quá trình
xem xét này có sự tham gia của cộng đồng. Báo cáo ĐTM chi tiết được trình cho

14
1.2.2. Tình hình thực hiện công tác ĐTM ở Việt Nam
a. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống ĐTM ở Việt Nam:
Quá trình phát triển hệ thống ĐTM của Việt Nam có thể chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (trước ngày 27/12/1993): Từ năm 1983, Chương trình nghiên
cứu về tài nguyên thiên nhiên và môi trường bắt đầu đi vào nghiên cứu phương
pháp luận ĐTM. Năm 1985, trong Nghị quyết định về công tác điều tra cơ bản, sử
dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, Hội đồng Bộ trưởng đã
quy định trong xét duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật của các công trình xây
dựng lớn hoặc các chương trình phát triển kinh tế - xã hội quan trọng cần tiến
hành ĐTM. Đến đầu năm 1993, trong Chỉ thị số 73-TTg về một số công tác cần
làm ngay về bảo vệ môi trường, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị: “Các ngành,
các địa phương khi xây dựng các dự án phát triển, kể cả dự án hợp tác với nước
ngoài, đều phải thực hiện nội dung ĐTM trong các luận chứng kinh tế - kỹ
thuật”. Ngày 10 tháng 9 năm 1993, Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường đã ban hành bản “Hướng dẫn tạm thời về đánh giá tác động môi trường”.
Đóng góp quan trọng nhất của giai đoạn này là hình thành được cơ sở khoa học,
phương pháp luận về ĐTM làm cơ sở cho việc hình thành hệ thống pháp luật về
ĐTM cho các giai đoạn tiếp theo;
- Giai đoạn 2 (Từ ngày 27/12/1993 đến ngày 01/7/2006): Ngày 27 tháng 12
năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước ký
lệnh công bố ngày 10 tháng 01 năm 1994. Đây là thời điểm rất quan trọng đối với
công tác quản lý và bảo vệ môi trường của Việt Nam. Tại Điều 18 của Luật đã quy
định “tất cả các dự án phát triển ở mọi quy mô đều phải lập báo cáo ĐTM để thẩm
định. Kết quả thẩm định báo cáo báo cáo ĐTM của dự án là một trong những căn cứ
có tính pháp lý để cấp có thẩm quyền xét duyệt dự án hoặc cho phép thực hiện.
Nghị định số 175/CP ngày 18 tháng 10 năm 1994 của Chính phủ về hướng dẫn
thi hành Luật BVMT (Nghị định có 1 Chương riêng về công tác đánh giá tác động
15
môi trường, trong đó đáng lưu ý là những quy định cụ thể về các dự án phải lập báo

đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường (thực chất vẫn là hình thức đơn giản của ĐTM).
Bên canh hệ thống văn bản pháp luật được xây dựng và ban hành, Bộ Tài nguyên và
Môi trường đã và đang xây dựng và ấn phẩm nhiều hướng dẫn kỹ thuật ĐTM cho
các loại hình dự án khác nhau. Lực lượng tư vấn lập báo cáo ĐTM, cam kết bảo vệ
môi trường phát triển mạnh về số lượng cũng như chất lượng; năng lực thẩm định
báo cáo ĐTM của các cơ quan quản lý nhà nước và của đội ngũ cán bộ được nâng
lên đáng kể
b. Quy trình và trách nhiệm của các bên liên quan trong thực hiện ĐTM:
* Thời điểm Luật Bảo vệ môi trường năm 1993:
Theo quy định tại Thông tư 1100/MTg của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường dự án được phân ra làm 3 loại: Dự án loại 1; loại 2 và loại 3.
Dự án loại 1: Thuộc đối tượng không phải thực hiện ĐTM nhưng trong Hồ sơ
xin cấp Giấy phép đầu tư phải có giải trình các yếu tố có thể tác động tiêu cực đến môi
trường và đưa ra các giải pháp xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
Dự án loại 2: Thuộc đối tượng phải thực hiện ĐTM theo 2 bước. Bước 1: ĐTM
được thể hiện thành một phần hoặc một chương trong Báo cáo nghiên cứu khả thi của
Dự án. Đây là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường xem xét trong
quá trình thẩm định hồ sơ của Dự án. Sau khi được cấp phép đầu tư, Chủ dự án phải
thực hiện ĐTM Bước 2, tức là lập báo cáo ĐTM chi tiết và nộp cơ quan quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường thẩm định trước khi tiến hành xây dựng.
Dự án loại 3: Thuộc đối tượng phải thực hiện ĐTM theo 2 bước: Bước 1 lập
báo cáo ĐTM sơ bộ đi kèm với báo cáo nghiên cứu tiền khả thi. Căn cứ kết quả ĐTM
sơ bộ, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường xem xét, quyết định dự án có
phải thực hiện ĐTM chi tiết hay không. Trường hợp phải thực hiện ĐTM chi tiết thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status