Tiểu luận môn Kinh tế lượng Phân tích một số nhân tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MÔN: KINH TẾ LƯỢNG
Đề tài:
PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO VIỆT NAM
Thành viên nhóm MSSV
Cao Bảo Long 030127110820
Trần Thị Ngọc Lý 030127110866
TSàn Ngọc Yến 030127112068
GVHD: Cô Đỗ Hoàng Oanh
Lớp: T03
TP.HCM, ngày 02 tháng 05 năm 2015
MỤC LỤC
Phân tích một số nhân tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã góp phần vào việc phát
triển của nhiều nước sở tại bằng việc cải thiện cơ sở hạ tầng, kỹ năng kỹ thuật, khả
năng của các doanh nghiệp và các nguồn lực tài chính, ngoại hối của Chính phủ. Kể
từ khi FDI được mở rộng cơ hội phát triển, nhu cầu của nó đã tăng nhanh chóng,
đặc biệt là trong hai thập kỷ qua. Sự thiếu hụt ngày càng tăng của các khoản vay
chính thức từ các tổ chức tài chính quốc tế và sự hỗ trợ từ các nước phát triển đã
tăng thêm nhu cầu về vốn đầu tư nước ngoài ở các nước đang và kém phát triển trên
thế giới. Mặc dù khối lượng vốn đầu tư nước ngoài ở các nước đang và kém phát
triển đã tăng lên đáng kể theo thời gian, nhưng sự phân phối của nó lại không đồng
đều giữa các vùng khác nhau trên thế giới. Cho đến giữa những năm 1980, Mỹ
Latinh và vùng Caribê là những nước nhận được FDI lớn nhất. Tuy nhiên, tình hình
kể từ cuối thập niên 1980 đã đảo ngược, các nước châu Á và Thái Bình Dương đã
trở thành nơi tiếp nhận FDI nhiều nhất (khoảng 85% dòng FDI vào các nước đang

các chính sách của nhà nước đối với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
− Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng thu hút FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 1993 - 2011.
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố Chỉ số điều chỉnh GDP, Nợ nước ngòai,
Mức độ đô thị hóa đến thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
− Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trên mức độ quốc gia tại Việt Nam.
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố đến việc thu hút FDI của Việt
Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Thu thập thông tin và số liệu được công bố trên các phương tiện đại chúng từ
các báo cáo chuyên môn trong giai đoạn 1993 – 2011 do các cơ quan chuyên môn
thực hiện.
Nghiên cứu định lượng dựa trên phân tích các các chỉ tiêu số liệu thứ cấp từ
các nguồn GSO, WB được ứng dụng mô hình hồi quy tuyến tính ước lượng sự tác
động của các nhân tố Chỉ số điều chỉnh GDP, Nợ nước ngòai, Mức độ đô thị hóa
đối với việc thu hút FDI của Việt Nam.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về lý luận, đề tài này giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn các nhân tố tác động đến
việc thu hút FDI của Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, thông qua đề tài này những nhà điều hành chính sách kinh
tế vĩ mô có thể có cái nhìn rõ hơn về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc
thu hút FDI của Việt Nam, từ đó có các giải pháp điều chỉnh phù hợp để việc thu
hút FDI của Việt Nam được ổn định và bền vững.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì nội dung chính của bài nghiên cứu bao
gồm:
Chương 1: Tổng quan về FDI, nợ nước ngoài, chỉ số điều chỉnh GDP và mức

GDP của kỳ nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêu phần trăm so với mức giá của
năm cơ sở.
Nợ nước ngòai: là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ
trung ương đến địa phương đi vay.
Mức độ đô thị hóa: được đo lường bằng phần trăm của dân thành thị so với
tổng dân số của một quốc gia.
1.1.2. Đặc trưng của FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng trở thành loại hình hoạt động kinh tế
sôi động trên thế giới với những đặc trưng chủ yếu như sau:
Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng lên qua các năm, trong đó các
nước phát triển luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu, đặc biệt là các nước đang phát triển
khu vực Châu Á Thái Bình Dương thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
nhất.
Trang 5 / 17
Phân tích một số nhân tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Các nước công nghiệp hàng đầu thế giới là động lực chủ yếu cho đầu tư trực
tiếp nước ngoài toàn cầu. Các nước này thường chiếm tỷ trọng từ 75-80% lượng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới.
Chủ thể FDI chủ yếu là các công ty đa quốc gia. Hiện nay, các công ty đa
quốc gia nắm giữ khoảng 90% lượng FDI trên thế giới. Với xu thế toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế thì FDI sẽ tăng mạnh trên toàn cầu. Các công ty đa quốc
gia ngày càng chi phối mạnh mẽ hoạt động đầu tư trực tiếp toàn thế giới. Chiến lược
chính của các công ty đa quốc gia là bành trướng mạnh ra nước ngoài bằng cách
đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới hình thức lập liên doanh với một hay nhiều đối tác
ở các nước tiếp nhận đầu tư, lập các chi nhánh với 100% vốn của công ty, thực hiện
các hoạt động hợp nhất và sáp nhập,…
FDI không làm tăng nợ cho nước tiếp nhận đầu tư, trái lại FDI còn tạo điều
kiện để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước.
FDI là hình thức chủ yếu trong đầu tư nước ngoài. Nếu ODA và các hình
thức đầu tư nước ngòai khác có những hạn chế nhất định, thì FDI lại tỏ ra là hình

công trình đó cho Nhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà
đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
1.1.4. Mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc:
Mối quan hệ giữa chỉ số điều chỉnh GDP và FDI
Khi chỉ số điều chỉnh GDP tăng có nghĩa là giá cả của các mặt hàng, mà đặc
biệt là hàng tiêu dùng sẽ gia tăng khiến cho lợi nhuận mà các nhà sản xuất nhận
được tăng lên. Do đó, chỉ số điều chỉnh GDP cao cũng là cơ sở để thu hút mạnh mẽ
các nhà đầu tư nước ngòai.
Mối quan hệ giữa nợ công và FDI
Khi nợ công tăng cao, vượt quá xa giới hạn được coi là an toàn, nền kinh tế
rất dễ bị tổn thương và chịu nhiều sức ép cả bên trong và bên ngoài. Từ đó gây ra
tình trạng bất ổn, mất cân bằng giữa bên trong và bên ngoài quốc gia, mà các nhà
đầu tư nước ngoài thì thường thích đầu tư vào các nước có các điều kiện kinh tế ổn
định nội bộ và bên ngoài. Vì vậy nợ công càng cao thì khả năng thu hút FDI có thể
sẽ giảm thấp hơn.
Mối quan hệ giữa mức độ đô thị hóa và FDI
Khi lựa chọn địa điểm để đầu tư trong một nước, các nhà đầu tư nước ngoài
thường nhắm đến những vùng tập trung đông dân cư – thị trường tiềm năng của họ.
Ở khu vực thành thị các sản phẩm được sử dụng như đầu vào sản xuất là dễ dàng có
sẵn cho các nhà đầu tư. Đồng thời cơ sở hạ tầng và thị trường tập trung ở các khu
vực đô thị, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Có
nghĩa là mức độ đô thị hóa càng cao thì khả năng thu hút FDI có thể sẽ cao hơn.
1.2. Mô hình ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI
Trong bài nghiên cứu của các tác giả Bushra Yasmin, Aamhrah Husssain &
Ali Chaudhary, Analysis of factors affecting foreign direct investment in developing
countries, đã ứng dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (Least square) để chạy
hối quy tuyến tính nhằm đo lường tác động của các nhân tố đến việc thu hút FDI ở
các nhóm nước.
2. Thực trạng thu hút FDI của Việt Nam
Sơ đồ thể hiện tình hình thu hút vốn FDI của Việt Nam từ 1988-2013

2.2. Giai đoạn 1997 – 2006
Từ năm 1997 Việt Nam trải qua một giai đoạn tụt dốc của nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài, cụ thể là vốn FDI đăng ký chỉ đạt 5,09 tỷ USD vào năm 1998, năm
1999 chỉ còn 2,57 tỷ USD và năm 2000 đạt 2,83 tỷ USD. Nguyên nhân của tình trạng
này một phần là do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á
năm 1997, các nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam (Đài Loan, Singapore, Nhật Bản,
Hàn Quốc) buộc phải hủy hoặc hoãn các kế hoạch mở rộng ra nước ngoài để đối mặt
với những khó khăn trong nước. Thêm vào đó, tuy các yếu tố về kinh tế vĩ mô, về dân
số, lao động, về vị trị địa lý của Việt Nam vẫn thuận lợi nhưng chính sách liên quan đến
FDI của Việt Nam chưa ổn định, thiếu nhất quán, hay thay đổi và chưa có chiến lược
phát triển lâu dài; năm 2000 Việt Nam sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài theo hướng
cạnh tranh được với các nước chung quanh nhưng việc vận dụng luật này vào việc quản
lý thực tế vẫn chưa có hiệu quả nên trong giai đoạn này lượng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam có xu hướng giảm.
Từ năm 2001 hoạt động FDI đã có dấu hiệu bước vào thời kì phục hồi, trong giai
đoạn 2001 – 2003, vốn FDI đăng ký đạt 9.33 tỷ USD. Kết quả này có được là nhờ vào
sự cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam và sự khôi phục kinh tế của các nước Đông
Á. Nhưng việc thu hút vốn FDI vẫn còn những khó khăn hạn chế. FDI chưa phục hồi
được so với những năm trước, hầu hết các dự án có quy mô nhỏ, môi trường đầu tư còn
nhiều vướng mắc và thủ tục phức tạp, chính sách còn hay thay đổi và khó dự báo
trước , xuất hiện tình trạng cạnh tranh không hợp lý trong việc thu hút vốn đầu tư nước
ngoài giữa các địa phương.
Trang 8 / 17
Phân tích một số nhân tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Giai đoạn 2004 – 2006 là giai đoạn FDI phục hồi và phát triển. Năm 2004 FDI
đạt 4,55 tỷ USD. Năm 2005 là năm mở đầu cho “làn sóng FDI” thứ hai vào Việt Nam,
với vốn đăng ký 6,839 tỷ USD và vốn thực hiện 3,3 tỷ USD. Từ năm 2006 Việt Nam đã
thu hút được một lượng lớn vốn FDI. Tổng vốn FDI vào Việt Nam năm 2006 đạt
12.004 tỷ USD, tăng 57% so với năm 2005.
2.3. Giai đoạn 2007 - 2008

Ứng dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (Least Square) để chạy hồi quy
tuyến tính nhằm nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc thu hút FDI của Việt Nam
thông qua bài nghiên cứu của các tác giả Bushra Yasmin, Aamhrah Husssain & Ali
Chaudhary (2003), Analysis of factors affecting foreign direct investment in developing
countries, pakistan economic and social review.
Trang 9 / 17
Phân tích một số nhân tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Để ước lượng các nhân tố tác động đến việc thu hút FDI của Việt Nam giai đoạn
1993 – 2011, bài viết sử dụng các biến:
− Biến phụ thuộc:
: Đầu tư trực tiếp nước ngòai
− Biến độc lập:
: Chỉ số điều chỉnh GDP
: Nợ nước ngoài
: Mức độ đô thị hóa
Giải thích các biến trong mô hình:
: Đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm vốn chủ sở hữu, thu nhập tái đầu tư
và vốn liên kết với các doanh nghiệp khác trực thuộc.
: Nợ nước ngoài bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
: Mức độ đô thị hóa, được tính bằng dân số đô thị so với tổng dân số.
3.2. Dữ liệu chạy mô hình hồi quy
3.2.1. Xác định yếu tố thời gian cần ước lượng
Mo hình nghiên cứu trong giai đoạn 1993 – 2011.
3.2.2. Nguồn dữ liệu
Bài nghiên cứu có sử dụng một số dữ liệu của những tổ chức như:
 Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO)
 Ngân hàng thế giới (WB)
Biến chạy mô hình Giải thích
Tổng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài đăng ký

2004 4.5476 8.2 17.993066 26.53
2005 6.8398 8.2 19.038679 27.10
2006 12.004 7.3 18.648547 27.66
2007 21.3478 8.2 23.284721 28.20
2008 71.726 22.1 26.487635 28.99
2009 23.1073 6.0 33.084796 29.74
2010 19.8861 11.9 49.343084 30.50
2011 15.5981 20.9 57.840538 31.75
3.3. Xây dựng mô hình thực nghiệm
3.3.1. Ước lượng mô hình Least Square
Mô hình hồi quy tổng quát SRF
Hàm hồi quy tổng thể PRF
Trang 11 / 17
Phân tích một số nhân tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Hình 3.1: Mô hình hồi quy tuyến tính đối với dữ liệu Việt Nam (1993 –
2011)
3.3.2. Kiểm định sự phù hợp của hàm hồi quy
− Cơ sở kiểm định
Kiểm định cặp giả thuyết:
H
0
: R
2
= 0: Hàm hồi quy không phù hợp
H
1
: R
2
> 0: Hàm hồi quy phù hợp
− Tiêu chuẩn kiểm định:

trong mô hình là biến không thích hợp.
H
1
: : Biến X
i
trong mô hình là biến thích hợp.
− Tiêu chuẩn kiểm định
− Miền bác bỏ giả thuyết
3.3.3.2. Kiểm định hệ số các biến
− Kiểm định hệ số của biến GDPD (
: = 0 : 0
Theo Hình 3.1– Mô hình hồi quy tuyến tính đối với dữ liệu của Việt nam
(1993 – 2011), ta có:
t = 3.5416
Với mức ý nghĩa = 10%, ta có:
1.753
Bác bỏ giả thiết H
0
, chấp nhận giả thuyết H
1
 Biến GDPD trong mô hình là biến thích hợp.
− Kiểm định hệ số của biến EXD ()
: =0 : 0
Theo hình 3.1 – Mô hình hồi quy tuyến tính đối với dữ liệu củ Việt Nam (1993 –
2011), ta có:
t= -2.0490
Với mức ý nghĩa =10%, ta có:
= =1.753
= 2.0490 = 1.753
 Bác bỏ giả thiết , chấp nhận giả thiết

giảm và ngược lại. Và trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì Nợ nước ngòai
tăng (hay giảm) 1 tỷ USD thì vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm (hay tăng)
0.7080 tỷ USD.
Với = 3.2658, ta nhận thấy rằng Mức độ đô thị hóa tác động đồng biến biến
đối với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Điều này có nghĩa là Mức
độ đô thị hóa của Việt Nam càng cao thì vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam càng
tăng và ngược lại. Và trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì Nợ nước ngoài
tăng (hay giảm) 1 % thì vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng (hay giảm)
3.2658 tỷ USD.
Trang 14 / 17
Phân tích một số nhân tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Như vậy, từ các chỉ tiêu trong kế hoạch cần thực hiện trong năm ta có thể tính
được mức FDI thu hút đạt được là bao nhiêu, và căn cứ vào các hệ số góc của các
biến số, ta có thể điều chỉnh các chỉ tiêu cần thực hiện của từng biến số để đạt được
kết quả mong muốn.
4. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ THÚC ĐẨY THU HÚT FDI
Đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nền kinh tế
phát triển theo hướng công nghiệp là chủ yếu, đặc biệt là quan tâm phát triển ngành
công nghiệp chế tạo và những ngành công nghiệp như công nghiệp điện tử, những
ngành có hàm lượng công nghệ cao, ưu tiên phát triển những ngành công nghiệp
mũi nhọn phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế. Đồng thời Chính phủ cần đưa
ra những chiến lược phát triển cân đối kinh tế giữa các vùng miền trong cả nước,
nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp, nâng cao khả năng thu hút FDI vào
Việt Nam.
Một số nước có nhiều tiềm năng phát triển nhưng tình hình đất nước lại
không ổn định nên không có nước nào dám đầu tư vào. Vì vậy chúng ta cần có sự
quan tâm đúng mức đến vấn đề đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị trong và ngoài
nước. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp phát triển,
đổi mới đất nước, thực hiện đồng bộ các biện pháp giáo dục, kinh tế, hành chính và
pháp luật để đẩy lùi những tiêu cực như tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế, thất

nhà đầu tư của các nước trên thế giới.
Trang 16 / 17
Phân tích một số nhân tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bushra Yasmin, Aamhrah Husssain & Ali Chaudhary, Analysis of factors
affecting foreign direct investment in developing countries.
Nguyễn Thị Tám, Đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào hoạt động
thăm dò khai thác dầu khí ở Việt Nam.
Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệu quả của FDI và đòi hỏi
việc thay đổi chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Luận văn: Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 1996 –
2005.
Tiểu luận: Nghiên cứu về FDI vào Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010.
GS.TSKH Nguyễn Mại (Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài), 25
năm Luật Đầu tư nước ngoài tại việt nam: Nhìn lại để “nâng chất” dòng vốn FDI.
Nguyễn Hòa, Thu hút FDI: Nếu không thay đổi, Việt Nam sẽ tụt hậu.
Trần Văn Thọ (Giáo sư kinh tế, Đại học Waseda, Tokyo), Nội lực và ngoại lực
trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Nguyễn Mạnh Toàn, Các nhân tố tác động đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào một địa phương của Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại
học Đà Nẵng – số 5 (40), năm 2010.
Trang web www.vi.wikipedia.org
Trang web tổng cục thống kê Việt Nam www.gso.vn
Trang web của Ngân hàng thế giới www.worldbank.org
Trang 17 / 17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status