luận văn kinh tế luật Pháp luật về uỷ thác xuất nhập khẩu và thực tiễn pháp lý trong hoạt động uỷ thác xuất nhập khẩu tại Tổng công ty Cà phê Việt Nam - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ
hơn bao giê hết. Hội nhập để cùng tồn tại và phát triển là một tất yếu khách
quan của bất kỳ một nền kinh tế nào. Trong nhưng năm qua cùng với sự cố
gắng của mình, nước ta đang tiến nhanh đến tiến trình hội nhập cùng khu vực
và thế giới. Xuất nhập khẩu là một hoạt động quan trọng nhằm thúc đẩy quá
trình hội nhập, cũng như phát triển nền kinh tế trong nước. Nước ta có thế
mạnh là các sản phẩm nông nghiệp, đây là nguồn hàng xuất khẩu chính ra thị
trường nước ngoài. Cùng với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác thì Cà phê
đã đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, góp
phần nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là các tỉnh miền núi nơi có các
dân téc Ýt người sinh sống.
Để đảm bảo cho hoạt động xuất nhập khẩu được tiến hành thuận lợi
Nhà nước ta đã ban hành khá nhiều văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh quan
hệ này. Trong đó quy định về hình thức mua bán hàng hoá thông qua uỷ thác
là một quy định rất qua trọng góp phần không nhỏ giúp cho các doanh
nghiệp có thể tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu của mình một cách thuận
lợi và có hiệu quả cao.
Tại Tổng công ty Cà phê Việt Nam ngoài việc tự tiến hành các hoạt
động xuất nhập khẩu cho chính công ty thì Tổng công ty còn thực hiện
thêm nghiệp vụ nhận uỷ thác của các doanh nghiệp khác để tiến hành các
hoạt động xuất nhập khẩu trong phạm vi kinh doanh của Tổng công ty.
Sau quá trình thực tập tại Tổng công ty Cà phê Việt Nam, với mong
muốn tìm hiểu thêm các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ xuất nhập
khẩu hàng hoá và uỷ thác xuất nhập khẩu hàng hoá, kÕt hợp với thực tiễn áp
1
dụng các quy định trên tại Tổng công ty Cà phê Việt Nam, qua đó đánh giá
về vấn đề áp dụng luật pháp trong kinh doanh, nhằm nâng cao thêm về thực
tiễn của những kiến thức đã học.
Vì vậy tôi chọn đề tài “Pháp luật về uỷ thác xuất nhập khẩu và thực
tiễn pháp lý trong hoạt động uỷ thác xuất nhập khẩu tại Tổng công ty Cà

Điều2 Nghị định 57/1998/NĐ- CP ngày 31/7/1998 quy định chi tiết Luật
Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán
hàng hoá với nước ngoài định nghĩa như sau: “hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu hàng hoá là hoạt động mua, bán hàng hoá của thương nhân Việt Nam
với thương nhân nước ngoài theo các hợp đồng mua bán hàng hoá, bao gồm
cả hoạt động tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu hàng hoá”.
Xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ không phải là những hành vi buôn bán
3
riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong thương mại có tổ
chức từ bên trong ra bên ngoài nhằm thúc đẩy sự phát triển sản xuất hàng
hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống
nhân dân.
Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ với người
nước ngoài nhằm thu ngoại tệ (theo nguyên tắc thương mại đó là lợi thế so
sánh) tăng tích luỹ cho Ngân sách Nhà nước, phát triển sản xuất kinh doanh,
khai thác những ưu thế tiềm năng của đất nước. Đây là mội trong những hình
thức kinh doanh quốc tế quan trọng nhất, nó phản ánh quan hệ mua bán, trao
đổi hàng hoá vượt qua biên giới của một quốc gia, giữa thị trường nội địa với
các khu chế xuất. Các quốc gia khác nhau khi tham gia vào các hoạt động
thương mại thì phải tuân theo các quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế,
còng nh các tập quán của địa phương. Hoạt động xuất khẩu được đánh giá là
hoạt động kinh tế quốc tế cơ bản đối với tất cả các quốc gia trên thế giới.
Hoạt động xuất khẩu phản ánh mối quan hệ xã hội và sự phụ thuộc lẫn nhau
về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt ở mỗi quốc gia.
Hoạt động này cũng là chiếc chìa khoá mở ra con đường thâm nhập phát
triển thị trường của một quốc gia trên thương trường quốc tế.
Hoạt động nhập khẩu là việc mua các hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài
về trong nước nhằm phục vụ cho đời sống, sản xuất trong nước, bổ sung
những thiếu hụt mà nền sản xuất trong nước chưa thể đáp ứng được. Không
có một quốc gia nào có thể tồn tại riêng biệt với các quốc gia khác mà phát

khẩu sẽ góp phần giải quyết vấn đề việc làm, cải thiện đời sống nhân dân,
5
nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy kinh tế phát triển. Đây được
coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong việc phát triển kinh tế đất nước.
Đi đôi với hoạt động xuất khẩu thì hoạt động nhập khẩu cũng chiếm vị
trí quan trọng không kém; nước ta còn rất lạc hậu so với thế giới về công
nghệ, khoa học kỹ thuật do đó nhập khẩu là một nhu cầu không thể thiếu để
nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như trình độ sản xuất trong nước.
Hoạt động xuất khẩu sẽ tạo cơ sở cho hoạt động nhập khẩu phát triển
và ngược lại. Xuất khẩu sẽ làm tăng ngân sách nhà nước về ngoại tệ, thanh
toán nợ nước ngoài… Thực tế trong những năm qua xuất khẩu hàng hoá của
Việt Nam giữ vai trò quan trọng tạo điều kiện cho việc dần dần thanh toán nợ
nước ngoài, hình thành nhiều ngành sản xuất, nhiều đơn vị sản xuất mới.
Trong khi đó nước ta lại được đánh giá là một nước có nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú và nguồn lao động dồi dào. Do vậy, đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu tức là chúng ta đã phát huy lợi thế này của mình.
Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu chúng ta sẽ có khả năng phát huy
được lợi thế so sánh, sử dụng triệt để các nguồn lực, có điều kiện trao đổi
học hỏi kinh nghiệm cũng như tiếp cận được với các thành tựu khoa học
công nghệ tiên tiến trên thế giới. Qua đó, áp dụng vào nền sản xuất trong
nước tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao để rồi lại xuất khẩu ra nước
ngoài và phục vụ đời sống nhân dân. Đặc biệt đối với hoạt động xuất khẩu
còn góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo nhu cầu của thị
trường nước ngoài là thị trường mà hiện nay các nền kinh tế luôn hướng tới,
từ đó tạo ra công ăn việc làm tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện đời
sống nhân dân, thực hiện cả hai mục tiêu phát triển đất nước và công bằng xã
hội, tăng cường hợp tác, năng cao uy tín của Việt Nam trên thị trường quốc
tế.
6
Đối với các doanh nghiệp thì hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động

nhận phí uỷ thác theo thảo thuận với các doanh nghiệp trực tiếp chế biến.
1.3.3 Xuất nhập khẩu uỷ thác.
Xuất khẩu uỷ thác được áp dụng trong trường hợp một doanh nghiệp
có hàng hoá muốn xuất, nhập khẩu nhưng không trực tiếp tham gia vào hoạt
động xuất, nhập khẩu hoặc không có điều kiện để tham gia. Khi đó họ sẽ uỷ
thác cho doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu làm dịch vụ xuất
nhập khẩu cho mình. Bên nhận uỷ thác sẽ được thu phí uỷ thác theo hợp
đồng uỷ thác.
Trong tình hình hiện nay, khi các chủ thể tham gia vào thương trường
ngày càng gia tăng, các loại hàng hoá dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú
thì xuất nhập khẩu uỷ thác lại càng là hình thức xuất nhập khẩu được áp
dụng nhiều. Bởi lẽ nó có tác dụng giúp các doanh nghiệp xuất khẩu được
hàng hoá với giá cao, thu hồi vốn nhanh hoặc nhập khẩu hàng theo đúng nhu
cầu mà giá cả lại phải chăng vì những người thực hiện các hoạt động này
thường là những người dày dạn kinh ghiệm trong hoạt động xuất nhập khâủ,
am hiểu thị trường.
Ngoài ra còn có các hình thức khác như: xuất khẩu tại chỗ, tạm nhập
tái xuất… đều là các hình thức mang lại hiệu quả cao và tiện lợi.
2. Pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu.
8
Pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu là toàn bộ các quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực xuất
nhập khẩu.
2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động
xuất nhập khẩu:
Về mặt lý luận, các nhà kinh tế thừa đã nhận rằng “ các nền kinh tế
hiện đại muốn phát triển thì phải dùa vào cơ chế thị trường còng nh sù quản
lý của nhà nước”. Nhà nước quản lý mọi lĩnh vực của nền kinh tế bằng nhiều
công cụ, biện pháp, trong đó pháp luật được coi là công cụ hữu hiệu nhất.
Nếu pháp luật phản ánh đúng và phù hơp với sự phát triển của các quan hệ

các công ước là rất quan trọng, do hiện tượng xung đột luật giữa các quốc gia
với nhau nên nguồn luật quốc tế trở nên rất quan trọng trong quan hệ kinh tế
quốc tế. ví dụ như hiện nay Công ước Viên 1980 được rất nhiều nước tham
gia, đây là nguồn luật cơ bản điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hoá giữa
các quốc gia trên thế giới, nó chỉ rõ các quyền và nghĩa vụ của các bên trong
quan hệ ngoại thương.
Các hiệp định song phương giữa các quốc gia là nguồn luật không thể
thiếu trong quan hệ thương mại quốc tế. Nó điều chỉnh trực tiếp quan hệ mua
bán hàng hoá giữa hai quốc gia ký kết. Hiện nay chóng ta đã ký kết được khá
nhiều các hiệp định thương mại song phương mà đặc biệt là hiệp định
thương mại Việt – Mỹ, ký ngày 13 thàng 7 năm 2000, đây là một hiệp định
song phương giữa ta và Mỹ, trong các Điều ước quốc tế này đã chỉ ra những
nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc tối huệ quốc, nguyên tắc có đi có lại,
nguyên tắc đãi ngộ quốc gia…
10
Nguồn luật thứ hai là các tập quán thương mại quốc tế: Theo quy định
tại Luật Thương mại Việt nam năm 1997 thì được áp dụng tập quán quốc tế
nếu nh nã không trái với pháp luật Việt nam. Đó là những thãi quen thương
mại phổ biến, có nội dung rõ ràng, cụ thể mà dùa vào đó có thể xác định
được quyền và nghĩa vụ của các bên, được áp dụng thường xuyên lặp đi lặp
lại trong một thời gian dài được nhiều nước công nhận.
Trong quan hệ kinh tế quốc tế hiện này thì một trong những tập quán
quốc tế quan trọng nhất đã được tập hợp lại đó là tập quán trong vận chuyển
hnàg hoá quốc tế Incoterm
Thứ ba là luật quốc gia: ở Việt Nam, do hệ thống pháp luật nước ta là
hệ thống pháp luật thành văn nên hoạt động xuất nhập khẩu được điều chỉnh
bởi các quy định liên quan trong Hiến pháp, các Luật và các văn bản dưới
luật. Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế theo cơ chế mới cho đến trước khi
Luật Thương mại được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1998 thì
hoạt động xuất nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của một số văn bản như: Thông

là doanh nghiệp có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có đăng ký mã
số doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đều được tiến hành hoạt động
xuất nhập khẩu. Tuy nhiên cã thể thấy rằng không phải tất cả các chủ thể
kinh doanh đều có khả năng thực hiện hoạt động xuất, nhập khẩu. Nguyên
nhân có thể do lượng vốn Ýt, không đủ để tổ chức thị trường, trình độ nhân
lực về xuất nhập khẩu không cao…Trong khi đó những người thực hiện hoạt
động nhận uỷ thác xuất nhập khẩu lại là những người có kỹ năng nghề
nghiệp trong công tác xuất nhập khẩu, am hiểu các thủ tục cần thiết cũng như
các thị trường nước ngoài. Đó là những nguyên nhân khiến cho hoạt động uỷ
thác xuất nhập khẩu không thể không tồn tại trong nền kinh tế.
12
Nhờ có uỷ thác xuất nhập khẩu mà hoạt động xuất nhập khẩu được
đẩy mạnh bởi hoạt động uỷ thác xuất nhập khẩu chiếm một tỷ trọng khá cao
trong tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu( chiếm 23% doanh thu của Tổng
công ty ) . Bằng phương thức xuất nhập khẩu uỷ thác mà có thể kích thích,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu còng nh nhập khẩu hàng hoá, dịch
vụ. Nếu không có uỷ thác xuất nhập khẩu thì khối lượng hàng hoá lưu thông
qua biên giới sẽ giảm đi rất nhiều. Đây là điều dễ thấy thông qua việc phân
tích nguyên nhân phải tồn tại hoạt động uỷ thác xuất nhập khẩu như trên đã
nêu.
2. Pháp luật điều chỉnh hoạt động uỷ thác xuất nhập khẩu
Hoạt động uỷ thác xuất nhập khẩu thực chất là một loại hình cụ thể
của dịch vụ trung gian thương mại là uỷ thác mua bán hàng hoá, đồng thời
xét ở góc độ công tác xuất nhập khẩu thì nó lại là một phương thức xuất nhập
khẩu hàng hoá. Do đó hoạt động này phải chịu sự điều chỉnh của các quy
định của Pháp luật Thương mại về uỷ thác mua bán hàng hoá và các quy
định về xuất nhập khẩu được quy định trong Luật hải quan, Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu và hàng loạt các văn bản khác như đã nêu. Các quy
định của Luật Thương mại về hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân
nước ngoài và uỷ thác mua bán hàng hoá (Từ Điều 99 đến Điều110) và các

2. Thương nhân đã đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu được nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá phù hợp với nội
dung giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
14
3. Việc ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu và việc nhận ủy thác xuất khẩu,
nhập khẩu các mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện do Bộ Thương
mại hướng dẫn cụ thể.
4. Nghĩa vụ và trách nhiệm của bên ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu và
bên nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu được quy định cụ thể trong hợp đồng
ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu do các bên tham gia ký kết thỏa thuận.
III. KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG UỶ THÁC XUẤT NHẬP
KHẨU:
1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu::
Hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu là sự thoả thuận giữa các bên theo
đó bên được uỷ thác có nghĩa vụ thực hiện việc xuất hoặc nhập khẩu hàng
hoá theo sự uỷ thác của bên uỷ thác còn bên uỷ thác có nghĩa vụ trả thù lao
cho bên được uỷ thác.
Về bản chất pháp lý, hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu thực chất là
hợp đồng kinh tế,nã là một dạng của hợp đồng dịch vụ, là hợp đồng song vô,
mang tính chất đền bù và là hợp đồng ưng thuận. Hợp đồng uỷ thác xuất
nhập khẩu được coi là hình thành và có hiệu lực pháp luật khi các bên đã ký
vào văn bản hoặc khi đã nhận được các tài liệu giao dịch thể hiện sự thoả
thuận về tất cả cá điều khoản chủ yếu của hợp đồng.
Hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu có những đặc điểm sau:
Về chủ thể của hợp đồng: Chủ thể của hợp đồng uỷ thác xuất nhập
khẩu bao gồm bên uỷ thác và bên được uỷ thác. Theo quy định tại Nghị định
57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước
ngoài và Nghị định 44/2001/NĐ-CP ngày 02/8/2001 sửâ đổi một số điều của
nghị định 57/1998/NĐ-CP các chủ thể được phép nhận uỷ thác xuất nhập

tỷ lệ % xác định trên tổng giá trị hợp đồng mà bên được uỷ thác sẽ ký kết với
bên thứ ba để xuất hoặc nhập hàng hoá.
Ngoài những nội dung trên, các bên trong hợp đồng uỷ thác xuất nhập
khẩu còn có thể thoả thuận những nội dung khác như các vấn đề liên quan
đến thanh toán, thời gian và địa điểm giao hàng, trách nhiệm của các bên,
điều khoản về giải quyết khiếu nại, tranh chấp, phạt vi phạm hợp đồng….
Theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì hình thức của hợp đồng phải
bằng văn bản, tài liệu giao dịch: công văn, điện báo, đơn đặt hàng, đơn chào
hàng. Theo khoản 2 Điều 104 thì hợp đồng uỷ thác phải được thể hiện bằng
hình thức văn bản. Hình thức văn bản được hiểu theo nghĩa thông thường
hay còn bao hàm cả điện báo, telex, fax, thư điện tử và các hình thức thông
tin điện tử như quy định đối với hình thức văn bản trong hợp đồng mua bán
hàng hoá nêu trên hay không thì luật không chỉ rõ nhưng hiện nay trên thực
tế vẫn áp dụng hình thức văn bản theo nghĩa rộng
Hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu luôn có mục đích kinh doanh.Bên
nhận uỷ thác khi thực hiện hành vi xuất, nhập khẩu thì luôn hướng tới khoản
thù lao sẽ được hưởng là phí uỷ thác.
Thay đổi, tạm hoãn thực hiện hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu : Theo
pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì việc thay đổi, tạm hoãn thực hiện hợp đồng
uỷ thác xuất nhập khẩu phải được các bên thoả thuận và thể hiện bằng văn
bản ( Điều24)
17
Các trường hợp chấm dứt hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu được xác
định như sau: Các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo ý chí của hai bên
hoặc do điều kiện khách quan và đơn phương chấm dứt hợp đồng được xác
định theo quy định từ Điều 24 đến Điều 28 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
Luật thương mại không có quy định về hợp đồng uỷ thác mua bán
hàng hoá do đó việc xác định hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu vô hiệu phải
căn cứ vào các quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế nh sau:
“…1- Những hợp đồng kinh tế sau đây bị coi là vô hiệu toàn bộ:

khi tham gia vào quan hệ hợp đồng thì phải dùng tài sản của chính mình để
đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng đã ký kết, khi có sự vi phạm hợp đồng
thì bên vi phạm phải tự chịu trách nhiệm bằng tài sản.
Nguyên tắc ký kết hợp đồng không trái pháp luật đòi hỏi việc ký kết
phải hợp pháp, mọi thoả thuận trong hợp đồng không được trái với các quy
định của pháp luật, không được lợi dụng việc hợp đồng để trục lợi, hoạt động
pháp luật.
2.2 Các căn cứ ký kết hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu:
Hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu được ký kết trên các cơ sở được quy
định là căn cứ ký kết cho hợp đồng kinh tế ( Quy định tại Điều 10 Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế)nh sau:
19
- Định hướng kế hoạch của Nhà nước, các chính sách, chế độ, các
chuẩn mức kinh tế - kỹ thuật hiện hành. Căn cứ này được áp dụng chủ yếu
cho các hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu được ký kết giữa các doanh nghiệp
nhà nước với các doanh nghiệp khác.
- Nhu cầu thị trường, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của bạn hàng. Đây
là căn cứ đảm bảo cho hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu được ký kết có tính
khả thi, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh thực sự mang lại hiệu quả đồng
thời thoả mãn những nhu cầu của thị trường. Căn cứ này thường được các
bên tuân thủ nghiêm ngặt vì nó liên quan trực tiếp đến lợi Ých của họ.
- Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt động kinh
tế của mình. Khi ký kết huợp đồng, các bên phải căn cứ vào những điều kiện
chủ quan của mình về tiền vốn, vật tư, năng suất lao động và hiệu quả sản
xuất kinh doanh và chức năng hoạt động của mình.
- Tính hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng bảo
đảm về tài sản của bên cùng ký hợp đồng. Đây là một căn cứ quan trọng để
đảm bảo hiệu lực của hợp đồng, tính hợp pháp của mối quan hệ cũng như
khả năng thanh toán của mỗi bên nhằm đảm bảo cho hợp đồng có đầy đủ cơ
sở pháp lý và cơ sở kinh tế để thực hiện trên thực tế.

hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu. Tuy nhiên do đặc thù của hợp đồng uỷ
thác xuất nhập khẩu là các điêù khoản của hợp đồng khá phức tạp và cần có
sự tính toán, thương lượng chặt chẽ của các bên nên nếu có điều kiện thì các
bên thường chọn phương thức ký kết trực tiếp. Có những trường hợp các bên
21
sử dụng cả hai phương thức để ký kết, đầu tiên dùng biện pháp gián tiếp sau
đó trực tiếp thoả thuận và ký kết hợp đồng hoàn chỉnh.
Do yêu cầu cao của nghiệp vụ ký kết hợp đồng, các công ty xuất nhập
khẩu thường có các cán bộ chuyên về ký kết, giao dịch hợp đồnguỷ thác xuất
nhập khẩu hoặc những công ty này có thể chia xuất nhập khẩu ra thành nhiều
lĩnh vực khác nhau để cán bộ có thể đi chuyên sâu tìm hiểu thị trường và
nghiệp vụ.
Đại diện ký kết hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu còng nh đại diện ký
kết các hợp đồng khác, khi tham gia ký kết hợp đồng thì mỗi bên chỉ cần cử
ra một người đại diện cho mình. Nếu là pháp nhân thì đó là người đại diện
theo pháp luật của pháp nhân, nếu là cá nhân đăng ký kinh doanh thì đó là
người đứng tên trong đăng ký kinh doanh. Tuy nhiện các chr thể trên có thể
uỷ quyền cho người khác thay mình ký kết hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu
làm đại diện trong ký kết, thực hiện hợp đồng, tham gia tè tung trọng tài khi
có tranh chấp.
Tuy nhiên trong thực tế xảy ra không Ýt trường hợp ký kết và thực
hiện hợp đồng không có sự uỷ quyền hợp pháp hoặc có nhưng là sau khi đã
ký xong làm nảy sinh nhiều tranh chấp khó giải quyết và cũng là chỗ sơ hở
để các bê thoái thác việc thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đông dùa vào
lý do là hợp đồng vô hiệu toàn bộ do người ký không đúng thẩm quyền.
3. Thực hiện hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu:
3.1 Các nguyên tắc thực hiện hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu :
Hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu phải được thực hiện theo những
nguyên tắc được ghi nhận trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế nh sau:
22

vụ liên quan. Bên được uỷ thác cũng không được uỷ thác lại cho người khác
thực hiện hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu đã ký trừ trường hợp có sự chấp
thuận bằng văn bản của bên uỷ thác.
Nghĩa vụ thông báo: Bên được uỷ thác có nghĩa vụ thông báo cho bên
uỷ thác về các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ thác như
các biến động của thị trường, tiến trình làm việc với bên thứ ba, khả năng ký
kết và thực hiện hợp đồng của bên thứ ba. Người được uỷ thác phải thông
báo những thông tin đó để người uỷ thác kịp thời đưa ra những chỉ dẫn thích
hợp .Khi có những chỉ dẫn của bên uỷ thác mà phù hợp với hợp đồng uỷ thác
thì bên được uỷ thác phải tuân theo những chỉ dẫn đó. Nếu những chỉ dẫn đó
mà trái với nội dung hợp đồng uỷ thác và các quy định của pháp luật thì
người được uỷ thác có thể không chấp hành.
Nghĩa vụ đối với tài sản, tài liệu được giao để thực hiện công việc uỷ
thác: Người được uỷ thác có trách nhiệm phải bảo quản, giữ gìn những tài
sản, tài liệu được giao trong quá trình thực hiện hợp đồng uỷ thác và phải
chịu trách nhiệm bồi thường nếu có hư háng, mất mát mà do lỗi của mình.
Nghĩa vụ bảo mật: Bên được uỷ thác phải giữ bí mật đối với những
thông tin có liên quan đến hợp đồng uỷ thác nhằm đảm bảo lợi Ých của
người uỷ thác. Ví dụ như những thông tin về nhu cầu cấp thiết của bên uỷ
thác đối với việc xuât khẩu hoặc nhập khẩu hàng hoá uỷ thác là nhập khẩu
hàng để thực hiện nghĩa vụ giao hàng đối với một hợp đồng khác hoặc xuất
khẩu hàng để thu tiền thanh toán cho nghĩa vụ trả nợ đã đến hạn, hàng hoá
được uỷ thác bán là hàng tồn kho mà trước đó bên uỷ thác vẫn bán theo giá
thị trường và thấp hơn giá bán cho bên thứ ba…
24
Nghĩa vô giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận trong hợp đồng uỷ
thác: Nếu là uỷ thác xuất khẩu hàng hóa thì phải giao hàng và nếu là uỷ thác
nhập hàng thì phải giao tiền cho bên uỷ thác theo đúng thoả thuận về số
lượng, chất lượng, thời hạn, phương thức giao.
* Quyền của bên được uỷ thác:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status