Các nguyên nhân chủ yếu của tình trạng gian lận, trốn lậu thuế và giải pháp khắc phục. - Pdf 27

Đề 20: Các nguyên nhân chủ yếu của tình trạng gian lận, trốn lậu thuế và giải pháp khắc
phục.
LỜI MỞ ĐẦU
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, đóng vai trò quyết định trong
việc duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước đồng thời là công cụ quan trọng để điều tiết
nền kinh tế – xã hội. Thế nhưng trong thời gian qua, kết quả việc thực thi các luật thuế là
chưa cao, số tiền thuế thất thu còn rất lớn mà nguyên nhân chủ yếu là từ tình trạng trốn
thuế, gian lận thuế. Những hành vi trốn thuế, gian lận thuế ngày nay đang diễn biến
phức tạp, phạm vi ngày càng rộng, quy mô ngày càng lớn và thủ đoạn rất tinh vi nếu
không chống gian lận thuế quyết liệt thì khó mà giữ đc trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực
tài chính công. Ngoài ra chống gian lận thuế còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xây
dựng niềm tin của người dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cần phải
được thực hiện một cách triệt để.
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAN LUẬN THUẾ VÀ TRỐN LẬU THUẾ
1. Các khái niệm cơ bản.
Như chúng ta đã biết, thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các cá nhân và pháp
nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp
luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối
tượng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã
hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật. Trên
thực tế thì thuế phản ánh lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người nộp thuế. Nhà nước
luôn có khuynh hướng tăng nguồn thu từ thuế, trong khi đó người nộp thuế luôn mong
muốn càng giảm số thuế phải nộp càng nhiều càng tốt. Hay nói cách khác, người nộp
thuế luôn muốn dành phần lợi hơn về phía mình, nên đã cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại tới
lợi ích chung, lợi ích công cộng.
Trong thực tiễn pháp lý, các hành vi vi phạm pháp luật thuế diễn ra rất đa dạng,
tinh vi, phức tạp với nhiều dạng thức khác nhau. Có thể nhận diện các hành vi vi phạm
pháp luật thuế cơ bản sau:
- Hành vi gian lận thuế, đây là hành vi của cá nhân, tổ chức cố ý làm sai lệch các thông
tin kế toán – tài chính làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc
được miễn, giảm.

3. Khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn.
4. Trốn thuế, gian lận thuế.
3.2. Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 quy định về xử lý vi phạm pháp luật
về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
3.3. Nghị định số 13/2009/NĐ-CP ngày 13/2/2009 về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 98/2007/NĐ-CP).
3.4. Nghị định số 100/2004/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực thuế
3.5. Theo hướng dẫn tại Mục V, Phần B - Thông tư số 61/2007/TT-BTC thì hóa đơn,
chứng từ mua, bán , sử dụng trong các trường hợp dưới đây được coi là không hợp pháp:
- Mua, bán hóa đơn chưa ghi nội dung theo quy định, trừ trường hợp mua hóa đơn do
cơ quan thuế phát hành;
- Mua , bán, sử dụng hóa đơn đã ghi các chi tiêu, nội dung nghiệp vụ kinh tế nhưng
không phát sinh việc mua bán hàng hóa, dịch vụ kèm theo (hay còn gọi là hóa đơn
khống);
- Mua, sử dụng hóa đơn giả, hóa đơn của cơ sở kinh doanh khác để bán ra....
4. Một số hành vi gian lận, trốn thuế trong thực tế hiện nay
Thường thì có các hành vi này biểu hiện dưới hình thức sau:
- Hành vi trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến việc nộp hồ sơ đăng ký thuế, hồ sơ khai
thuế.
- Hành vi trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến việc sử dụng hóa đơn giả, hóa đơn bất
hợp pháp.
- Hành vi liên quan đến việc ghi chép sai lệch, ko đầy đủ, chính xác các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh vào sổ kế toán;
- Một số hành vi gian lận, trốn thuế thu nhập khác được pháp luật quy định;
- Một số hành vi gian lận, trốn thuế khác trong thực tế hiện nay, thể hiện như:
Thứ nhất, hành vi phổ biến mà các doanh nghiệp (DN) rất hay sử dụng để gian
lận, trốn thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay là hành vi kê khai tăng về lao động và tài
sản cố định trong doanh nghiệp so với thực tế quản lý và nhu cầu sử dụng.
Loại hành vi gian lận thuế này hiện nay đang rất phổ biến, nhất là ở khối các

chồng chéo, gây khó khăn cho người thực hiện.
- Chính sách thành lập doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp khá thông thoáng,
nhưng việc theo dõi nắm bắt tình hình hoạt động của doanh nghiệp đó như thế nào thì
còn buông lỏng. Từ khâu hậu kiểm, quản lý doanh nghiệp sau giấy phép đến sự phối hợp
giữa cơ quan thuế và các cơ quan quản lý Nhà nước còn nhiều kẽ hở, tạo điều kiện cho
việc thành lập các doanh nghiệp “ma”. Mặt khác cơ chế thanh toán giữa các giao dịch
kinh tế còn chưa bắt buộc thông qua hệ thống ngân hàng do vậy rất khó kiểm soát việc
các hoạt động kinh tế đó đã phát sinh thực tế hay chỉ trên giấy tờ.
- Thiếu các quy định về nguyên tắc tổ chức hoạt động và cơ cấu tổ chức của bộ
máy quan lý thuế và nguyên tắc xử lý mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý thuế, đặc
biệt trong xu thế quản lý thuế hiện đại.
- Luật Quản lý thuế năm 2006 chưa xác định rõ cơ chế bảo đảm thực hiện, vì vậy
phần nào đã hạn chế tính khả thi của các quy định trong Luật Quản lý thuế và chính điều
này chưa thực sự khuyến khích tính tuân thủ pháp luật của chủ thể có nghĩa vụ thuế.
Chẳng hạn tại Điều 53, Luật quản lý thuế quy định trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp
thuế trong trường hợp xuất cảnh “người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài trước khi xuất cảnh từ Việt
Nam phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế. Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có trách
nhiệm dừng việc xuất cảnh của cá nhân trong trường hợp chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status