So sánh những điểm tương đồng và khác biệt của Trung Quốc với tiến trình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Pdf 27

LỜI NÓI ĐẦU
Theo quan niệm của người Trung Quốc, thể chế kinh tế là hành thức tổ chức cụ
thể và chếđộ quản lý kinh tế của mỗi một chếđộ kinh tế xã hội hoặc một quan hệ sản
xuất. Chếđộ kinh tế là tổng hoà của các mối quan hệ sản xuất chiếm địa vị thống trị
trong xã hội, là tiêu chí căn bản của một hình thái xã hội, có tính ổn định. Để xây
dựng nền kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã kết hợp lý luận của Mác
với thực tiễn Trung Quốc từđóđã hình thành hệ tư tưởng chỉđạo ( lấy tư tưởng của
Mao Trạch Đông làm chủđạo) lãnh đạo cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, đem lại
thắng lợi cho cho cách mạng Trung Quốc vào năm 1949.
Nhưng khi bước vào công cuộc xây dựng kinh tế, chính trị, xã hội, đáp ứng
bước phát triển mới thì những chính sách đó, những tư tưỏng cũ không còn phù hợp
nữa. Thực tế trong nước cũng như quốc tế đã có nhiều thay đổi đòi hỏi phải có
đường , lối mới, chính sách mới. Trải qua một thời gian khá dài từ năm 1978 sau Đại
hội TW 3 khoá XI đến Đại hội XIV ( tháng 10/1992) tiến trình nhận thức về tư tưởng
cải cách thể chế kinh tế, Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu
Bình đã dẫn dắt dân tộc Trung Hoa đi tới một cuộc trường chinh mới với lí luận xây
dựng chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Quốc, trong đó tư tưởng về cải cách thể
chế kinh tếđã có một bước tiến quan trọng - Xây dựng thể chế kinh tế thị trường
XHCN.
Do còn hạn chế về tài liệu, nên trong bài tiểu luận này không thể tránh khỏi
thiếu sót, em mong muốn nhận được những ý kiến chỉ bảo của Giáo sư – Tiến sĩ Mai
Ngọc Cường
Em xin trân trọng cảm ơn!
1 1
PHẦN I
TIẾN TRÌNH TƯ TƯỞNG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XHCN Ở TRUNG QUỐC
1- Sự phá sản của đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu cũở Trung Quốc
những năm 1960 – 1970.
Đại hội đại biểu toàn quỗc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1956
đã phân tích, đánh giá lại tình hình sau khi cơ bản hoàn thàn, cải tạo XHCN về chếđộ
tư hữu tư liệu sản xuất, đề ra nhiệm vụ triển khai nhiệm vụ xây dựng CNXH. Theo

_ Từ 1989 – 1992: giai đoạn chuyển sang "kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa"
Lí luận về kinh tế thị trường XHCN là một bộ phận cấu thành quan trọng hàng
đầu của lí luận Đặng Tiểu Bình, cũng là lí luận về chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc
Trung Quốc.
*Giai đoạn khởi đầu của cuộc cải cách, Hội nghị trung ương III khóa XII (
12/1978)
Sau ngày thành lập nước, Trung Quốc xác định mô hình thể chế kinh tế XHCN
là kinh tế kế hoạch. ở thể chế này, Trung Quốc đã nhanh chóng đảm bảo các mục tiêu
trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên, thể chế này cũng đã bộc lộ những yếu điểm và ngày
càng làm mất đi nhiều sức sống của kinh tế XHCN do hiệu quả kinh tếđem lại là rất
thấp đòi hỏi các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải nghiên cứu tìm hướng đi mới phù hợp
với tình hình của Trung Quốc.
Hội nghị Trung ương III khoá XI (12/1978), Trung Quốc tiến hành cải cách
mở, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình chỉ ra, muốn phát triển sức sản xuất,
phải cải cách thể chế kinh tế. Mục tiêu và thực chất của cuộc cải cách này là thay đổi
3 3
thể chế kinh tế cũ, xây dựng thể chế kinh tế mới giải phóng và phát triển sức sản xuất
để thực hiện hiện đại hoá XHCN. Nhiệm vụ của của công cuộc hiện đại hóa XHCN
bao gồm nhiều mặt, nhưng phát triển kinh tế phải là nhiệm vụ trung tâm, chỉ có phát
triển kinh tế mới giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu trong giai đoạn đầu của CNXH ở
Trung Quốc. Ngay từ Hội nghị Trung ương III ( khóa XII ) này, Đặng Tiểu Bình đã có
tư tưởng chuyển Trung Quốc sang nền kinh tế thị trường, nhưng do lúc này, còn mơ
hồ về lí luận kinh tế thị trường thuộc CNXH hay CNTB, đồng thời có nhiều quan
điểm khác nhau về xác định thể chế kinh tế của Trung Quốc trong giai đoạn này như:
một thời gian dài đã tồn tại quan điểm cho rằng: kinh tế kế hoạch tương đồng với chủ
nghĩa xã hội, kinh tế thị trường tương đồng với CNTB, nhiều nhà kinh tế học Trung
Quốc đã cho rằng, nền kinh tế XHCN ở Trung Quốc là "kinh tế hàng hóa có kế
hoạch", thậm chí có người đãđưa ra quan niệm nền kinh tế XHCN ở Trung Quốc là
"kinh tế thị trường XHCN", còn cố vấn kinh tế Tiết Mộ Kiều đãđề cập tới quan điểm
cần phải lợi dụng thị trường để làm sống động lưu thông.

chấp nhân cải cách kinh tế theo hướng thị trường.
Tuy nhiên, trong quá trình cải cách theo hướng thị trường cũng có nhiều hạn
chế do hai thể chế cũ và thể chế mới cùng tồn tại. Một mặt nó kích thích sản xuất phát
triển, mắt khác làm nảy sinh các hiện tượng tiêu cực. Một số quan điểm cho rằng
những tổn tại trong nền kinh tế không phải do thị trường, mà là do thể chế kế hoạch
vẫn chiếm địa vị chủ thể, do mẫu thuẫn của haii thể chế cùng tồn tại. Vì vậy họ chủ
trương đẩy mạnh cải cách theo hướng thị trường.
5 5
Vàđến đầu thập kỷ 80, thì khẩu hiệu "kinh tế kế hoạch là chính, điều tiết thị
trường là phụ" được cho là không đúng, cần được thay bằng "xây dựng kinh tế hàng
hóa XHCN". Thuyết kinh tế hàng hóa đã góp phần làm thay đổi nhận thức của các
nhà lãnh đạo Trung Quốc. Trong văn kiện về cải cách thể chế kinh tế của Quốc vụ
viện (9/1980) đã chỉ rõ : Nền kinh tế XHCN của Trung Quốc giai đoạn hiện nay là
nền kinh tế hàng hóa trong đó chếđộ công hữu tư liệu sản xuất chiếm ưu thế, nhiều
thành phần kinh tế cùng tồn tại. Nguyên tắc và phương hướng cải cách thể chế kinh tế
cần phải là: kiên trì chếđộ công hữu tư liệu sản xuất, tự giác vận dụng quy luật giá trị,
cải cách điều tiết kế hoạch đơn nhất thành điều tiết thị trường dưới sự chỉđạo của kế
hoạch, theo yêu cầu phát triển kinh tế hàng hóa và thúc đẩy nền sản xuất lớn của xã
hội.
Tuy nhiên, qua một thời gian thực hiện thì thấy thể chế mới này tồn tại 1 số
nhược điểm như việc để thả lỏng quyền hạn ở doanh nghiệp quốc hữu chưa được
khắc phục nên đã xuất hiện một số vấn đề như gia tăng thâm hụt tài chính, lạm phát
trầm trọng, trật tư kinh tế rối loạn…vì thế thuyết kinh tế hàng hóa XHCN lại bị phê
phán kịch liệt.
Sự phê phán gay gắt này đã khiến cho Đại hội XII Đảng Cộng sản Trung Quốc
(1982) không có thêm bước tiến nào về quan hệ giữa kế hoạch và thị trường. Báo cáo
chính trị của Đại hội XII lại nêu ra phương châm "kinh tế kế hoạch là chính, điều tiết
thị trường là phụ" và coi đây là vấn đề căn bản của cuộc cải cách thể chế kinh tế. Kế
hoạch đãđược phân chia thành hai loại: kế hoạch pháp lệnh và kế hoạch mang tính
chỉđạo, đồng thời vận dụng các đòn bẩy và một số quy luật kinh tế như giá cả, thuế,

trường, dần dần xây đựng cơ chế vận động kinh tế mới "nhà nước điều tiết thị trường,
7 7
thị trường dẫn dắt xí nghiệp", xóa bỏ quan niệm truyền thống về tư liệu sản xuất như
nguyên liệu, vốn, kỹ thuật, dịch vụ, đất đai… không thểđưa vào thị trường màđưa ra
khẩu hiệu phát triển và hòan thiện hệ thống thị trường XHCN. Sau Đại hội XIII này,
nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc đã kiến nghịáp dụng quan điểm kinh tế thị trường
XHCN, khiến cho mục tiêu cải cách kinh tế của Trung Quốc càng rõ ràng hơn.
Bên cạnh những thành tựu đãđạt được trong gia đoạn 1978 - 1986, Trung Quốc
đã gặp không ít khó khăn, thử thách nghiêm trọng đòi hỏi phải có những giải pháp kịp
thời, những khó khăn đó là: vật giá tăng nhanh, thâm hụt tài chính tăng mạnh , các
khỏan nợ tăng, mức độ thị trường hóa không đồng bộ, lợi ích bị quyền lợi hóa và
cứng nhắc… nên đã tạo đà làm dấy lên các cuộc tranh luận giữa kinh tế kế hoạch và
kinh tế thị trường. Trường phái kinh tế kế hoạch cho rằng "nền kinh tế XHCN chỉ có
thể là kinh tế kế hoạch, còn kinh tế thị trường tức là TBCN". Còn trường phái theo
hướng thị trường cho rằng: kế hoạch và thị trường chỉ là 2 biện pháp và hình thức bố
trí nguồn lực, chứ không phải là tiêu chíđể phân loại chếđộ xã hội. Như vậy, cho tới
cuối thập kỷ 80, mặc dù nhận thức được tác dụng của việc phát triển kinh tế hàng hóa,
mở rộng cơ chế thị trường, nhưng vẫn hòai nghi về kinh tế thị trường.
* Giai đoạn 1989 - 1992
Đầu những năm 90, Trung Quốc đã xuất hiện một cuộc luận chiến lớn về vấn
đề cải cách do lí luận về kinh tế thị trường qua một thời gian thực tiễn đã gây ra sự lo
lắng, nghi ngờ, rối loạn trong cán bộ và quần chúng, nhân dân. Thêm vào đó là sự
kiện sụp đổ chếđộ cộng sản ở Liên Xô, và các nước Đông Âu khiến cho công cuộc cải
cách ở Trung Quốc bịảnh hưởng chậm lại. Do vậy, trong giai đoạn này, tạm thời
không nhắc tới vấn đề kinh tế thị trường mà vẫn tiếp thu kinh tế hàng hóa bởi vẫn
chưa xác định được vấn đề thị trường mang tính chất XHCN hay TBCN.
Đứng trước những băn khoăn đó, Lí luận về Kinh tế thị trường của Nhà lãnh
đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã cóảnh hưởng lớn đến cuộc cải cách thể chế kinh
8 8
tế thị trường. Trong phát biểu nhân chuyến đi khảo sát miền Nam Trung Quốc đầu

mức mậu dịch hàng hóa cả nước được thực hiện thông qua giao dịch thị trường. Từ
hiệu quả trên lĩnh vực kinh tếđã tác động đến nhiều mặt khác của đời sống xã hội.
Những cải cách này đã tạo cơ sở ban đầu trong việc xây dựng hệ thống điều tiết kinh
tế vĩ mô tương ứng với thể chế kinh tế thị trường, cả xã hội Trung Quốc trở nên năng
động vàđầy sức sống. Bên cạnh nhưng thành quả to lớn đó thì vẫn còn tồn tại một số
hạn chế và các nhà lãnh đạo Trung Quốc tiếp tục tìm giải pháp cho con đường XHCN
mang màu sắc Trung Quốc.
PHẦN II
SO SÁNH NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỚI TIẾN TRÌNH KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.
1- Những điểm chung:
Cuộc khủng hoảng và sụp đổ của mô hình kiểu xã hội chủ nghĩa kiểu đã khẳng
định những vấn đề quan trọng trong xây dựng CNXH là vấn đề xâ dựng đất nước theo
mô hình nào. Các nước XHCN trước đây trong dó Trung Quốc và Việt Nam đều đi
theo mô hình Liên Xô dựa trên thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ. Thể chế
này phát huy được tác dụng trong điều kiện đặc biệt: bị bao vây, cấm vận và trong
thời kì có chiến tranh. Thể chế kinh này, sau đốđã bộc lộ những điểm yếu và kìm hãm
sự phát triển kinh tế xã hội. Các cuộc cải cách trước đây ở Liên Xô và các nước Đông
Âu thực chất là cuộc cải cách về mô hình nhưng vì thực hiện nửa vời nên không thành
công. cuộc cải cách mở cửa vàđổi mới ở Trung Quốc và Việt Nam cóđiểm chung đó
là tìm kiếm 1 mô hình mới, thiết thực để xây dựng thành công XHCN ở mỗi nước.
10 10
- Về mặt lí luận, Việt Nam và Trung Quốc đều lấy lí luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin làm cơ sở cho hệ tư tưởng của mình, vàđều kiên định đi theo con đường xây
dựng CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
- Quan niệm chung của các nước XHCN trong đó có Việt Nam và Trung Quốc
vềđặc trưng, bản chất của XHCN gồm 3 mặt:
+ Chếđộ công hữu bao gồm: Nhà nước, tập thể và kinh tế quốc hữu và kinh tế
tập thể trong sở hữu hỗn hợp.
+ Chếđộ phân phối: phân phối theo lao động.

không còn phù hợp bằng một cơ chế mới theo xu hướng tất yếu là kinh tế thị trường
nhưng là kinh tế thị trường định hướng XHCN, có sự quản lí của Nhà nước.
- Trong chủ trương vềđường lối kinh tế, Trung Quốc đặc biệt khác Việt Nam ở
chỗ là có cơ chế quốc sách " một nước hai chếđộ", đó là hai khu vực kinh tế: một bên
là Trung Hoa Đại lục thực hiện chếđộ XHCN, một bên là Hồng Kông, Đài Loan và
Ma Cao đang theo chếđộ TBCN với các chủ trương về cải cách và phát triển kinh tế
có khác nhau. Hai khu vực này hoạt động bổ sung cho nhau và làđiều kiện thuận lợi
để Trung Quốc phát triển nhanh chóng nền kinh tế thị trường XHCN. Điểm này thực
sự là một sáng tạo của Trung Quốc nhằm thống nhất đất nước bằng phương pháp hòa
bình.
Việt Nam, sau khi bị cắt giảm nguồn viện trợ của Liên Xô cũ thì phải tự mình
gồng gánh, phát huy nội lực dân tộc vàđã vượt qua được cuộc khủng hoảng kinh tế,
vượt lên với nhiều thành quảđáng khâm phục sau 15 năm đổi mới.
12 12
- Tư tưởng về kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc là dựa trên kế thừa tư
tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác và tình hình
thực tế của Trung Quốc, cùng với lí luận về CNXH mang màu sắc Trung Quốc của
nhà lãnh đạo kiệt xuất ĐặngTiểu Bình đã mởđường cho công cuộc cải cách, mở cửa
và phát triển kinh tế của Trung Quốc tiến lên giành được những thành tựu như ngày
nay.
Còn ở Việt Nam, thì tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác Lê - nin là kim
chỉ nam dẫn đường cùng với sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản ViệtNam đã
thực hiện thành công cuộc cải cách kinh tế giành được những thắng lợi to lớn.
KẾTLUẬN
Có thể nói, tiến trình tư tưởng thể chế kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc
đã có những ảnh hưởng nhất định chủ nghĩa xã hội trên thế giới nói chung và Việt
nam nói riêng. Tuy rằng công cuộc cải cách về kinh tếở Trung Quốc và Việt Nam, có
những điểm khác nhau nhưng trong đó có vai trò quan trọng của tư tưởng định hướng
thay đổi thể chế kinh tếở mỗi nước lại gần nhau nên đãđưa nền kinh tế của Trung
Quốc và Việt nam chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status