tiểu luận: VẤN ĐỀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở HY LẠP VÀ TÂY BAN NHA , VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA CHO VIỆT NAM - Pdf 27

ĐỀ TÀI : VẤN ĐỀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở HY LẠP VÀ TÂY BAN
NHA , VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA CHO VIỆT NAM
LỜI NÓI ĐẦU
Bắt đầu ý tưởng được cho là “không tưởng“ về một châu Âu thống nhất,
trải qua mấy thế hệ gian khổ nỗ lực, những người dân trên“lục địa già“ cảm thấy
hoan hỉ vì những thành tựu đạt được khiến thế giới kính nể trong việc nhất thể hoá
kinh tế và chính trị. Những gì mà châu Âu gặt hái trên con đường đi tới “Liên
bang châu Âu“ tới nay được phản ánh rõ nét nhất ở sự ra đời đồng tiền chung
euro. Nhưng không ai ngờ 50 năm sau khi Tuyên ngôn Schumann (đánh dấu ý
tưởng hợp nhất các nước châu Âu) đồng tiền chung của “lục địa già“ phải đối mặt
với mối đe doạ nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp rồi sau đó là
một loạt các quốc gia khác trong đó có Tây Ban Nha.
Khủng hoảng nợ công ở châu âu không chỉ đe dọa sự tồn tại của khu vực
đồng tiền chung châu âu mà còn đe dọa tạo ra một cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu mới đe dọa sự phục hồi của nền kinh tế thế giới. Đây có thể là một lời
cảnh báo về một cuộc khủng hoảng nợ công toàn cầu.
Sự hiện hữu của "bóng ma" khủng hoảng nợ đã và đang làm đau đầu các
nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu (EU). Gói cứu trợ dài hạn EU/IMF 110 tỷ euro
dành cho Hy Lạp, đạt được sau nhiều tuần tranh cãi, đã chứng tỏ mức độ nghiêm
trọng của "cơn sóng ngầm" nợ công thêm vào đó gói cứu trợ 100 tỷ euro cũng
được tung ra nhằm giải cứu nền kinh tế của Tây Ban Nha mấu chốt cho sự “tồn
tại” của khối Eurozone. Nếu Khủng hoảng nợ của Hy Lạp là bài kiểm tra lớn nhất
về mức độ tín nhiệm mà khu vực Eurozone phải đối mặt kể từ khi chính sách sử
dụng một đồng tiền duy nhất được đi vào đời sống thì cuộc khủng hoảng nợ công
ở Tây Ban Nha là thử thách cho sự tồn tại của khối Eurozone
PHẦN I , LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG
1
1.Khái niệm và bản chất của nợ công
1.1. Khái niệm nợ công :
- nợ công là hậu quả của vấn đề chi tiêu công bất hợp lý. Chi tiêu công bao
gồm các khoản chi để duy trì bộ máy nhà nước, chi đầu tư phát triển, chi

phát triển của nền kinh tế.
2, Khoảng giới hạn nợ công an toàn theo qui định của EUROZONE
Theo qui định của Khối sử dụng đồng tiền chung Châu Âu, tỷ lệ nợ
công tối đa đối với một quốc gia thành viên là 60% GDP, thâm hụt ngân sách
hàng năm không được vượt quá 3% GDP.
3, Nguyên nhân dẫn tới nợ công của Châu Âu
3.1. Nguyên nhân bên trong
- Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ Hy Lạp: Chính phủ Hy Lạp phạm sai lầm
trong quản lý và không trung thực khi thông báo số liệu kinh tế trong nhiều
năm. Bất kỳ quyết định nào của chính phủ Hy lạp về giải quyết vấn đề ngân
sách đều bị hoài nghi, do đó càng khó cho giải quyết khủng hoảng
- Các chính phủ thu không đủ chi: các nhà phân tích kinh tế đều cho rằng,
khủng hoảng nợ công ở châu Âu là do chi tiêu của các chính phủ quá lớn.
Việc chi tiêu quá lớn đã tạo ra thâm hụt ngân sách và khủng hoảng nợ công
- Vấn đề tổ chức tài chính và điều hành kinh tế của EU: Do vấn đề về cơ cấu
nên EU có hạn chế về điều hành nền kinh tế của Khối, các chính sách tiền
tệ không đi cùng với cải cách thu thuế và lao động. EU và Ngân hàng
Trung ương Châu Âu(ECB) cũng phản ứng chậm với các nền kinh tế khi
gặp khủng hoảng.
- Áp lực của các nhóm tài phiệt: các nhà đầu cơ, các tổ chức tài chính lớn và
các trung tâm quyền lực kinh tế kinh tế đã thuyết phục được các chính phủ
chỉ điều chỉnh thể chế chứ không áp dụng các biện pháp cải cách các thể
chế. Chính phủ các nước phải tốn nhiều tỷ Euro hỗ trợ các ngân hàng và
cho các chương trình hỗ trợ hoạt động kinh tế nhằm cứu ngân hàng và nền
kinh tế không bị đổ vỡ. điều này không tránh khỏi việc nợ công gia tăng.
3
- Vấn đề chính sách kinh tế tự do mới: Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế cho
rằng cuộc khủng khoảng hiện nay là do chính sách kinh tế tự do gây ra. Do
vậy, các quốc gia muốn thoát khỏi cần phải từ bỏ chính sách kinh tế tự do
mới và chuyển sang chính sách kinh tế của Keynes, chính sách kích cầu.

riêng trong tháng 1/2010 đã có 8 đến 10 tỷ Euro bị rút khỏi Hy Lạp, con số
này cao hơn số tiền trái phiếu mà chính phủ Hy Lạp đã phát hành lần gần
đây nhất.
 Tóm lại, cuộc khủng hoảng nợ công của các nước châu Âu bắt nguồn từ
nhiều nguyên nhân, cả bên trong lẫn bên ngoài. Âm mưu và ý đồ của giời
tài phiệt tiếp tục gây áp lực lên thị trường tài chính nhằm đầu cơ kiếm lời
trong ngắn hạn. Gói cứu trợ 750 tỷ Euro có tác dụng trong ngắn hạn, nhưng
về trung hạn, nguy cơ tiềm ẩn vẫn còn cao, vẫn còn có nghi ngờ về các món
nợ công và sự bất ổn tài chính. Tình hình này có thể ảnh hưởng đến nền
kinh tế châu Âu, nhưng cũng có thể gây ra hiệu ứng đối với cả thế giới.
4, Các giải pháp
Cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra và ngày càng xấu đi làm cho các định chế tài
chính lớn không thể ngồi yên mà cần phải đưa ra các giải pháp nhằm tháo gỡ khó
khăn :
- Trước nguy cơ khủng hoảng nợ công ngày càng căng thẳng có thể gây ra
hiệu ứng “Domino”, đầu tháng 5/2010, EU và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)
đã nhất trí dành một gói cứu trợ dài hạn trị giá 110 tỷ EUR, tương đương
khoảng 136 tỷ USD trong vòng 3 năm, cho Hy Lạp nhằm giúp nước này
thoát khỏi bờ vực nợ công .
- Đồng thời, ngày 10/5/2010, EU và IMF đã nhất trí thiết lập “Quỹ chống
khủng hoảng” trị giá 750 tỷ EUR (1000 tỷ USD). Theo đó, các nước châu
Âu đưa ra 572 tỷ USD (440 tỷ EUR) khoản vay mới và bơm thêm 778 tỷ
5
USD (60 tỷ EUR) cho chương trình vay đang thực hiện. IMF cũng sẽ đóng
góp 325 tỷ USD (250 tỷ EUR) cho gói cứu trợ . Gói cứu trợ mới này có quy
mô còn lớn hơn cả gói cứu trợ ngân hàng của Mỹ hai năm trước đây nhằm
củng cố niềm tin của thị trường.
- Mới đây, để củng cố hơn nữa hệ thống ngân hàng tài chính và củng cố niềm
tin của các nhà đầu tư toàn cầu, EU đã tiến hành kiếm tra “sức khỏe” của
91 ngân hàng trong 20 nước thành viên, kết quả có 7 ngân hàng không đủ

triển, khu vực đồng tiền chung châu Âu đã phát triển, trải qua những thăng trầm.
Đồng Euro đã trở thành một công cụ thanh toán toàn cầu và trở thành một đối
trọng với đồng USD của Mỹ .
a) Trước giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008, nền kinh tế của khu vực
eurozone đã có những thành tựu nhất định:
- Tỉ lệ tăng trưởng GDP hàng năm của khu vực đồng Euro từ năm 1999
- 2007 ở mức trung bình 2.59% /năm, giá trị GDP trung bình trong
khoảng thời gian từ năm 1999 – 2007 là khoảng 8200 tỷ USD/năm.
Trong giai đoạn trên, Euro đã góp phần tạo thêm 15 triệu việc làm mới
khiến thương mại và du lịch trở nên dễ dàng hơn.
Biểu đồ về tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của khu vực Euro
( 1999-2007 )
Đơn vị : %
7
Nguồn : TradingEconomics.com; European Commission
- Ngoài ra, do có một Ngân hàng trung ương cho cả khu vực cùng với
chính sách tiền tệ độc lập và không hề chịu sự tác động hay can thiệp
của bất kỳ một quốc gia nào trong nội bộ khối nên kể từ khi thành lập,
ECB đã giữ được tỷ lệ lạm phát ở mức hợp lý, góp phần giữ ổn định
giá cả, kiềm chế lạm phát cho các hoạt động của nền kinh tế.
- Cụ thể, trong giai đoạn 1999-2009, giá cả ở Châu Âu tăng với tốc
độ bình quân vào khoảng 2.2% mỗi năm bất chấp giá lương thực và
nhiên liệu có xu hướng leo thang liên tục trong những năm gần đây.
- Biểu đồ về tỷ lệ lạm phát của khu vực đồng Euro( 1999 – 2007 )
- Đơn vị : %
8

Nguồn : TradingEconomics.com; European
Commission
- Bên cạnh đó, ECB đã duy trì một mức lãi suất ổn định, điều này đã

các nước Eurozone tiếp tục sụt giảm 0.5% sau khi chỉ tăng 1.1% năm
2008.
- Lạm phát ở khu vực Eurozone tăng lên mức kỷ lục vào tháng 6/2008
với 4%, vượt cả mức dự đoán xấu nhất là 3,9% và gấp đôi so với mục
tiêu 2% mà ECB đặt ra.
- Tỷ lệ thất nghiệp ở EU lên cao nhất trong 10 năm qua ở châu lục này.
Bước sang năm 2010, mặc dù đã qua đáy của khủng hoảng, bắt đầu
bước sang giai đoạn phục hồi, đến tháng 5/2010, tỷ lệ thất nghiệp tại
27 nước Liên minh Châu Âu vẫn ở mức cao nhất trong thập kỷ là 9.6%
còn trong khu vực eurozone là 10%. Đến tháng 4 năm 2012 con số này
đã tăng lên tới 11% đây là tình trạng báo động cho sự phục hồi của
khối.
- Xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng là những động lực chính thúc đẩy kinh
tế EU tăng trưởng. Khủng hoảng tài chính làm thương mại toàn cầu
suy giảm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới kim ngạch xuất khẩu của EU
10
nói chung và eurozone nói riêng. Việc đồng euro lên giá cũng làm giả
đáng kể giá trị xuất khẩu của toàn khối
- Cùng với suy giảm kinh tế, thất nghiệp gia tăng, việc áp dụng các gói
giải cứu như hạ lãi suất, cắt giảm thuế, bơm tiền ồ ạt cho hệ thống
ngân hàng tài chính đã làm nảy sinh vấn đề thâm hụt ngân sách và nợ
công gia tăng ở một loạt quốc gia, vượt xa giới hạn cho phép của Liên
minh là thâm hụt không quá 3% GDP, nợ công không quá 60% GDP.
1.2, thực trạng của Hy Lạp
- Hy Lạp là một quốc gia nhỏ ở Nam Âu, là thành viên của khu vực đồng
tiền chung Châu Âu. Dân số Hy Lạp khoảng 11 triệu người chiếm 2,2%
EU, đóng góp 2.8% GDP của EU. Hy Lạp có thu nhập bình quân đầu
người khoảng 15360USD, bằng khoảng 2/3 các nước phát triển trong
Eurozone. Tỷ lệ thất nghiệp trung bình là 10.2% (trong khi tỷ lệ này ở
EU là 10%) nhưng lại duy trì được tốc độ tăng trưởng cao so với các

- Nguồn: TradingEconomics.com; NSS
1.3, thực trạng của Tây Ban Nha
- Tây Ban Nha là nước nằm trên bán đảo Iberia nằm ở phía tây nam của lục địa
châu âu với diện tích 504.030 km2 lớn thứ hai ở tây âu. Là quốc gia có nền kinh tế
đứng thứ 9 trên thế giới và thứ tư tại châu âu và có chỉ số HDI đứng thứ 15 trên
thế giới với GDP trên 1000 tỉ euro và thu nhập đầu người đứng thứ 25 trên thế giới
- Là một nước có nền kinh tế phát triển nhưng ở Tây Ban Nha cũng tồn tại rất
nhiều vấn đề trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng trung bình của Tây Ban
Nha vào khoảng 0,7% nhưng tỉ lệ thất nghiệp luôn vào loại cao nhất trên thế giới
với tỉ lệ thất nghiệp vào khoảng 21,7% năm 2011 đặc biệt tập chung ở giới trẻ do
đó tình trạng càng trở nên trâm trọng hơn.
- Bóng đen của cuộc khủng hoảng nợ công đang bao trùm nền kinh tế Tây Ban
Nha với việc thâm hụt ngân sách tăng cao cộng thêm vào đó sự sụp đổ của hệ
13
thống ngân hàng sau khi bong bóng bất động sản xì hơi. Nếu Tây Ban Nha sụp đổ
thì coi như toàn bộ EUROZONE sẽ sụp đổ.
2, Diễn biến khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp và Tây Ban Nha
2.1, diễn biến khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp
Cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp đã làm rung động thị trường tài
chính châu Âu và toàn cầu. Khủng hoảng nợ công ảnh hưởng đến không chỉ một
vài nước trong khu vực châu Âu (Ailen, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…) mà liên
quan đến hầu hết các nền kinh tế thế giới.
Những diễn biến quan trọng trong khủng hoảng nợ châu Âu tính từ tháng
11/2009 khi chính phủ mới của Hy Lạp tuyên bố nâng gấp đôi ước tính về thâm
hụt ngân sách năm 2009
- 11/2009. Thủ tướng Hy Lạp cho biết thâm hụt ngân sách năm 2009 sẽ ở
mức 12,7% GDP, cao gấp đôi con số công bố trước đó và sẽ cố gắng cứu
Hy Lạp khỏi khả năng vỡ nợ.
- 22/12/2009, Moody xếp hạng nợ công Hy Lạp từ A1 xuống mức A2 bởi
thâm hụt ngân sách của nước này tăng cao. Đây là cơ quan thứ ba hạ xếp

- Ngày 17/06/2012 diễn ra cuộc bầu cử tại Hy Lạp Cuộc bầu cử sẽ chọn ra
một liên minh chấp thuận những điều kiện khắc nghiệt của các gói cứu trợ
trị giá 130 tỷ euro (tương đương 160 tỷ USD) hoặc phản đối. Kết quả của
cuộc bầu cử này sẽ quyết định Hy Lạp có ở lại hay ra khỏi khu vực đồng
tiền chung châu Âu (Eurozone).
2.2, Diễn biến khủng hoảng nợ công ở Tây Ban Nha
Khủng hoảng nợ công tại Tây Ban Nha đã âm ỷ cháy từ lâu đặc biệt sau khi
khủng hoảng nợ công của Hy Lạp xảy ra thì nó được dịp bùng phát dữ dội chúng
ta sẽ điểm lại một số dấu mốc cua cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra tại quốc gia
này:
15
- 29/01/2010, Chính phủ Tây Ban Nha công bố kế hoạch tiết kiệm 50 tỷ euro
tương tương 70 tỷ USD, trong đó tổng số tiền chi tiêu giảm tương đương
4% GDP. Lương lao động trong lĩnh vực công giảm 4%.
- 27/5/2010, Quốc hội Tây Ban Nha chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách
nhằm tiết kiệm 15 tỷ euro tương đương 18,4 tỷ USD.
- 28/5/2010, Fitch hạ xếp hạng tín dụng của Tây Ban Nha từ AAA xuống
AA+ bởi nợ tiêu dùng và doanh nghiệp tại nước này tăng lên mức quá cao,
đó là chưa kể đến nợ công đang ở mức đáng báo động.
- 8/6/2010, Công đoàn Tây Ban Nha công bố 75% người lao động trong lĩnh
vực công không đi làm để thể hiện sự phản đối kế hoạch thắt chặt chi tiêu
của Chính phủ.
- 10/6/2010, thỏa thuận cải tổ thị trường lao động Tây Ban Nha sụp đổ.
Chính phủ buộc phải áp dụng quy định tuyển dụng và sa thải lỏng lẻo hơn
dù không có sự hỗ trợ của Nghiệp đoàn Lao động.
- 3/4/2012 Chính phủ Tây Ban Nha do Đảng Nhân dân (PP) đứng đầu đã
trình Quốc hội nước này bản dự thảo ngân sách "thắt lưng buộc bụng" cho
năm 2012 với nhiều khoản chi phí bị cắt giảm mạnh nhằm giảm thâm hụt
ngân sách.
- 9/4/2012 Chính phủ Tây Ban Nha tuyên bố có kế hoạch cắt giảm 10 tỷ

thâm hụt đang trong xu hướng được cải thiện hoặc mức thâm hụt lớn hơn 3%
nhưng mang tính tạm thời, không đáng kể, không là mức bội chi cơ cấu; nợ chính
phủ nhỏ hơn hoặc bằng 60% GDP, có xem xét các trường hợp đang điều chỉnh.
Theo những quy định của Hiệp ước này, Hy Lạp chưa đủ điều kiện tham
gia khu vực đồng tiền chung Châu Âu vào tháng 5/1998. Nhưng 2 năm sau, ngày
1/1/2001, mặc dù chưa đủ chuẩn, Hy Lạp cũng được chấp thuận gia nhập vào khu
vực đồng tiền chung với điều kiện phải nỗ lực cải thiện mức thâm hụt ngân sách
và nợ chính phủ. Tuy nhiên, đến nay, các ràng buộc trên vẫn chỉ là lời hứa của Hy
17
Lạp. Bội chi ngân sách và nợ nước ngoài không những không được cải thiện mà
có xu hướng ngày càng tăng.
a , Gia nhập vội vã
Tham vọng tạo ra một khối kinh tế chung có sức ảnh hưởng đã khiến cho
các thành viên sáng lập lúc bấy giờ muốn có càng nhiều thành viên càng tốt. Điều
đó khiến các tham vọng chính trị va vấp với những thực trạng về nền kinh tế các
quốc gia.
Đối với Athens khi đó, việc gia nhập khu vực sử dụng đồng Euro
(Eurozone) vừa là vấn đề danh dự, vừa là sự cần thiết, vì nếu Hy Lạp sử dụng
đồng tiền chung, giới đầu cơ tiền tệ sẽ không thể tấn công và nền kinh tế của nước
này sẽ có được sự bình ổn. Bên cạnh đó, việc tham gia “câu lạc bộ nhà giàu”
Eurozone cũng đồng nghĩa với việc Hy Lạp có thể tiếp cận được với nguồn vốn tín
dụng lãi suất thấp.
Bất chấp tất cả, các quốc gia châu Âu “làm đẹp” sổ sách bằng mọi giá để
kịp tiến độ gia nhập. Lúc đó, con số “sạch đẹp” thâm hụt 4% của Hy Lạp khiến
một số người nghi ngờ.
Thần kỳ hơn khi Hy Lạp giảm được mức thâm hụt xuống còn 2,5% vào
năm 1998 và dự báo lúc bấy giờ nói thâm hụt chỉ còn 1,9% vào năm 1999. Cả
châu Âu đã hoan hô thành tích này, tung hô Hy Lạp như một câu chuyện thần kỳ
khiến một số nước phải ngưỡng mộ. Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha cũng cố
gắng “đạt thành tích” thâm hụt chỉ 3%.

sự gian dối số liệu của Hy Lạp, nhưng các quan chức của châu Âu vẫn tuyên bố
rằng, việc trục xuất Hy Lạp khỏi Khu vực đồng tiền chung euro không phải là lựa
chọn của họ.
3.1.1.2, Tác động tiêu cực của tiến trình hội nhập khu vực
Quá trình hình thành đồng tiền chung được chia thành ba giai đoạn nhằm
giúp các quốc gia điều chỉnh nền kinh tế theo hướng hội nhập toàn diện và sâu
19
rộng - hàng hóa, vốn và sức lao động được tự do hóa hoàn toàn. Tuy nhiên, hội
nhập cũng có mặt trái của nó. Đối với các quốc gia nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu
thì đây thực sự là thách thức.
Việc gia nhập vội vã của Hy Lạp đã bộc lộ những mặt trái của nó. Với một
quốc gia có nguồn tài nguyên hạn hẹp, lợi thế thương mại thấp, năng lực cạnh
tranh thấp thì họ không thể xây dựng rào cản để bảo hộ nền sản xuất trong nước.
Hàng hóa thiếu cạnh tranh, sản xuất đình trệ, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, thu ngân
sách giảm, chi an sinh xã hội cao.
Theo quy định của EU, các quốc gia được phép giữ lại 25% thuế xuất nhập
khẩu hàng hóa vào EU để trang trải chi phí hoạt động và 75% còn lại được chuyển
vào ngân sách chung của EU. Điều này có nghĩa, các quốc gia có vị trí thuận lợi
về giao thông quốc tế: sân bay, bến cảng sẽ nhận được một nguồn thu đặc biệt từ
thuế nhập khẩu vào EU mà các quốc gia nhỏ hơn, ở vị trí bất lợi hơn như Hy Lạp
không nhận được; thậm chí đó là khoản thuế đánh trên hàng hóa nhập khẩu đang
tiêu thụ tại nước mình. Nguồn thu ngân sách của họ bị suy giảm.
Ngoài ra, tại các nước kém phát triển hơn như Hy Lạp, để tránh làn sóng di
dân khi thực hiện tự do hóa lao động, chính phủ buộc phải gia tăng các khoản chi
phúc lợi, chi an sinh xã hội cho công dân của mình. Điều này góp phần làm gia
tăng thâm hụt ngân sách.
3.1.1.3, Thiếu sót trong cơ cấu hiệp định Maastricht – Mối quan hệ giữa
chính sách tiền tệ và chính sách tài chính
Trong điều kiện nền kinh tế không có khủng hoảng, việc duy trì cam kết
giữ mức thâm hụt ngân sách nhà nước ở mức 3% GDP và tổng nợ công không

thu nhập bình quân đầu người là 34.320 đô la nhưng chỉ dành 19,4% GDP chi
phúc lợi và an sinh xã hội. Con số tương tự ở Nhật là 25.130 đô la Mỹ/người và
18,6%. Trong khi đó, tại EU, tỷ lệ này dao động từ trên 20-38,2%.
Để có tiền chi phúc lợi và an sinh xã hội, các nước buộc phải gia tăng các
khoản thuế. Thực tế cho thấy, tỷ lệ thu thuế tính trên GDP của các nước trong khối
EU cũng tăng vượt trội so với các quốc gia khác trên toàn cầu. Tỷ lệ này biến
21
động từ trên 30-50% GDP. Trong khi đó, tỷ lệ này tại Mỹ, Nhật, Canada lần lượt
là 28,2%; 27,4%; 33,4%. Chính điều này đã làm cho EU trở thành thiên đường của
hưởng thụ hơn là nơi hấp dẫn nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh. Lợi thế trong thu hút
nguồn vốn nước ngoài của EU cũng bị tác động
Là một thành viên của EU, trong các hoạt động kinh tế đối ngoại với các
quốc gia ngoài EU, Hy Lạp cũng gặp những khó khăn tương tự. Không chỉ bị tác
động bởi các yếu tố bên ngoài, Hy Lạp còn bị thất thế trong các giao dịch nội khối.
Là một quốc gia nhỏ, nghèo tài nguyên, năng lực cạnh tranh của Hy Lạp giảm.
Mặc dù Hy Lạp thiết lập một tỷ lệ thu thuế và chi phúc lợi và an sinh xã hội ở mức
trung bình của khu vực đồng tiền chung, nhưng nó cũng làm tăng mức thâm hụt
ngân sách, tạo áp lực gia tăng nợ công.
3.1.2, Yếu tố bên trong tác động tới Hy Lạp
3.1.2.1, Sự yếu kém trong điều hành đất nước
Gia nhập khu vực đồng tiền chung euro năm 2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp
có thể tiếp cận với thị trường vốn quốc tế. Đáng buồn thay, đây lại là nguyên nhân
khiến quốc gia này lâm vào cảnh “chúa chổm”.
a , Tham nhũng hối lộ trốn thuế xảy ra tràn lan
Hy Lạp hiện đang là một trong những nước có nạn tham nhũng nghiêm
trọng nhất EU. Dựa theo CPI (chỉ số nhận thức tham nhũng) của Tổ chức Minh
bạch Quốc tế (TI), Hy Lạp đứng cuối cùng, sau cả Rumani và Bungari.
Thiệt hại mà tham nhũng gây ra cho Hy Lạp được ước tính vào khoảng 8%
GDP. Nói cách khác, khoảng hơn 50% số thâm hụt ngân sách năm 2009 của Hy
Lạp là do tham nhũng mà ra.

thoát khỏi khó khăn.
b , chi tiêu công quá cao
23
Tham nhũng, trốn thuế là những tệ nạn khiến Hy Lạp ngày càng nghèo hơn
so với các nước trong EU, khiến nước này lâm vào cảnh nợ nần quốc tế chồng
chất. Thế nhưng, việc Hy Lạp lâm vào khủng hoảng nợ còn có sự “góp phần”
không nhỏ của việc chi tiêu công quỹ “siêu thoáng” cũng như những bộ máy công
quyền không ngừng “lớn mạnh” về số lượng, nhưng chất lượng, hiệu quả công
việc lại giảm đi rất nhiều.
b.1 , chi quỹ lương
Quỹ lương của khối dịch vụ công tại Hy Lạp đã tăng gấp đôi trong vòng 10
năm qua. Trong khi đó, nguồn thu không được cải thiện sau hàng loạt biện pháp
cắt giảm thuế để kích thích đầu tư.
Thỏa thuận tài trợ 110 tỉ euro chung của IMF và khối Liên hiệp châu Âu
cho Hy Lạp có chỉ ra rằng trong năm trước ngoài số tiền dùng trả lãi vay, có đến
75% phần chi còn lại của ngân sách Chính phủ Hy Lạp là để duy trì một mức
lương và phúc lợi xã hội cao.
Theo một nguồn tin từ Bộ Tài chính Hy Lạp, trong năm 2009, Bộ này đã
tuyển dụng tổng cộng khoảng 27.000 công chức mới, nhưng số công chức chỉ đến
công sở “ngồi chơi xơi nước” chiếm tới 1/3. Rõ ràng, ngân sách quốc gia Hy Lạp
đang phải oằn mình gánh chịu một lượng công chức khổng lồ mà không có cách
nào giảm tải được bởi trong Hiến pháp nước này có điều khoản cấm việc sa thải
công chức Nhà nước.
Tính đến năm 2009, lượng công chức ở Hy Lạp chiếm tới 1/4 số người làm
công ăn lương ở nước này. Số lượng nhiều là thế, nhưng những người được gọi là
“công chức Nhà nước”, dù làm ít hay nhiều, vẫn được hưởng mức lương khá cao
so với mức lương bình quân ở những khu vực khác. Chỉ tính tiền lương thu nhập
chính (chưa tính tiền thưởng, tiền hỗ trợ), sau khi trừ đi các khoản, bình quân 1
công chức lĩnh được 1.350 euro/tháng. Trong khi đó, bình quân mỗi tháng, người
làm công ăn lương ở các khu vực kinh doanh ngoài Nhà nước chỉ được lĩnh

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status