Đề bài:
Anh (chị) hãy trình bày nhận thức của mình về lịch sử vẽ vang của
Đảng ta và vai trò to lớn của Đảng đối với công cuộc xây dựng đất nước hiện
nay. Anh (chị) có nguyện vọng đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng Sản Việt
Nam hay không? Nếu có, Anh (chị) hãy cho biết hướng phấn đấu của bản
thân mình.
Lịch sử đã chứng minh: Cái tạo nên sức mạnh Việt Nam, cái đảm bảo
cho dân tộc Việt Nam tồn tại và khẳng định mình, vượt qua mọi thử thách của
thiên tai cũng như của giặc ngoại xâm. Đó không phải là sức mạnh vật chất,
mà chủ yếu là do sức mạnh tinh thần của dân tộc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt
của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh tinh thần ấy ngày càng được
phát huy trên tất cả các lĩnh vực. Trong công cuộc xây dựng Đất nước hiện
nay, nhờ vào những bước đi đúng đắn đó kết hợp với những truyền thống tốt
đẹp vốn có của dân tộc, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa nước ta lên nấc
thang cao ngất làm cho cả thế giới phải biết đến.
Đảng Cộng Sản Việt Nam có một lịch sử vẽ vang như thế nào? Vai trò
của Đảng to lớn như thế nào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Đất nước?
Không có gì có thể chứng minh rõ ràng điều đó bằng những cột mốc lịch sử.
Trước hết, đó là sự ra đời tất yếu của Đảng. Quan điểm và đường lối chính trị
của một giai cấp đã lỗi thời, một giai cấp đối lập với đại đa số quần chúng
nhân dân. Một giai cấp không thể phản ảnh xu thế khách quan của lịch sử,
không thể đại diện cho nguyện vọng của quần chúng, bởi mục đích hướng tới
của nó không phải là đời sống hạnh phúc của mọi người mà chỉ là quyền lợi
ích kỉ của một thiểu số cá nhân nào đó. Trái lại, một chế độ chính trị của lực
lượng xã hội đang lên, đang đáp ứng đòi hỏi của lịch sử bao giờ cũng được
quần chúng nhân dân coi trọng và sẵn sàng chấp nhận. Dưới ánh sáng của
Chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng Sản Việt Nam
đã ra đời. Đảng đã đề ra phương hướng chính quyền là của dân, do dân, vì
dân. Các nhà hoạt động chính trị là đại diện của quần chúng là công bộc của
quần chúng, sẵn sàng gánh vác nhiệm vụ chung cho quần chúng. Mục tiêu lâu
dài của Đảng là xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội
quyền tự do dân chủ, chuẩn bị chiến tranh. Tuyên ngôn kêu gọi các tầng lớp
nhân dân cùng thống nhất hành động, chống nguy cơ chiến tranh. Đây là cuộc
tổng diễn tập lần hai cho Cách mạng tháng 8 năm 1945. Qua cuộc diễn tập
này lực lượng của Đảng đã phát triển nhanh chóng, đội ngũ cán bộ thêm đông
đảo, được rèn luyện trong chiến tranh vận động quần chúng, tích luỹ thêm
nhiều kinh nghiệm mới. Đó là kinh nghiệm về chỉ đạo các nhiệm vụ chính trị
cụ thể trước mắt của Cách mạng, kinh nghiệm về thực hiện liên minh dân chủ
rộng rãi, về xây dựng lực lượng quần chúng và tổ chức mặt trận thống nhất,
kinh nghiệm về sử dụng kết hợp các hình thức tổ chức và đấu tranh.
Làm chính trị không thể bỏ qua các mưu lược. Đảng Cộng Sản Việt
Nam luôn luôn có những mưu kế khôn khéo, tạo nên sức cảm hoá mãnh liệt,
lôi kéo con người về với chính nghĩa. Năm 1943, Đảng đã đề ra Đề cương
Văn hoá Việt Nam để tập hợp các nhóm văn nghệ sĩ và trí thức vào Hội Văn
hoá cứu quốc, chủ trương đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hoá, tuyên
truyền đường lối cứu quốc, cổ vũ quần chúng trên trận tuyến cách mạng. Đó
là một trong những vũ khí sắc bén để đuổi thù chung. Tháng 10 năm 1944,
đồng chí Nguyễn Ai Quốc chỉ đạo Cách mạng vừa đẩy mạnh đấu tranh chính
trị, vừa chuẩn bị cho đấu tranh vũ trang. Người ra chỉ thị: “Cách mạng của ta
là của toàn dân nên phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”. Một chỉ thị
đầy sáng tạo và nó đã tạo nên một cuộc vũ trang toàn dân chưa từng có.
Cuối năm 1944-1945 trên chiến trường Châu Au, quân đội Xô Viết đã
giành thắng lợi quyết định bằng hàng loạt đòn phản công chiến lược. Giờ tận
số của phát xít Đức đã điểm. Số phận của phát xít Nhật ở Đông Dương cũng
đang lung lay tận gốc. Để trừ mối hoạ bị Pháp đánh sau lưng khi đồng minh
tiến vào Đông Dương, Nhật hất cẳng Pháp độc quyền chiếm Đông Dương.
Vào đêm 9-3-1945, cuộc xung đột vũ trang Nhật-Pháp nổ ra. Đảng ta đã nhận
định sự xung đột sẽ tạo ra cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, làm cho những
điều kiện của cuộc tổng khởi nghĩa chín mùi nhanh chóng. Sự nghiệp Đất
nước đang diễn ra trong một tình thế cực kì phức tạp: vừa có thời cơ vừa có
nhiều thách thức. Biết lợi dụng thời cơ cũng như biết vượt qua thử thách, đó
văn hoá nước ta cũng bị nô dịch nặng nề, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
chưa được các nước trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Đất
nước bị bao vây bốn phía, chính quyền Cách mạng ở vào tình thế “ngàn cân
treo sợi tóc”. Để gạt mũi nhọn tiến công của kẻ thù vào Đảng. Tháng 11 năm
1945 Đảng tuyên bố tự giải tán, đây là một bước đi rất sáng tạo của Đảng ta.
Từ đây Đảng đi vào hoạt động bí mật nhưng có kết hợp với công khai. Những
chủ trương sách lược, biện pháp nhân nhượng đối với quân Tưởng và tay sai
của chúng ta là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn với điều kiện lúc bấy giờ của
chúng ta. Điều đó đã giúp chúng ta hạn chế và vô hiệu hoá một phần các hoạt
động phá hoại, đẩy lùi từng bước và làm thất bại mọi âm mưu lật đổ chính
quyền Cách mạng Việt Nam,
Thế nhưng “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta nhân nhượng, chúng ta
càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước
ta lần nữa”. Hồ Chủ Tịch đã nêu ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “
Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không nhất định chịu mất nước, không chịu
làm nô lệ”. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Giờ cứu nước
đã đến, ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ Đất nước. Dù gian lao
kháng chiến nhưng với lòng kiên quyết hy sinh vì Đất nước, thắng lợi nhất
định thuộc về ta. Lời kêu gọi ấy làm cho cả nước sục sôi đứng lên, bình tĩnh
chiến đấu với một ý chí cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh, với một thái độ chính
trị dứt khoát, kiên định. Cuộc kháng chiến 9 năm 1945-1954 (chiến dịch
Đông Khê, chiến dịch Biên Giới, chiến dịch Điện Biên Phủ…) dưới sự lãnh
đạo tài tình của Đảng đã làm thay đổi cục diện chiến tranh giữa ta và địch.
Đẩy địch luôn luôn vào thế bị động, làm cho chúng thấy rõ sẽ thất bại trong
cuộc chiến tranh này, làm cho lòng tin của quân dân ta ngày càng nâng cao và
cuối cùng thắng lợi đã thuộc về ta. Đến đây chúng ta càng thấy rõ vai trò to
lớn của Đảng.
Miền Bắc đã được giải phóng nhưng chiến tranh không vì thế mà chấm
dứt. Đất nước đang ở vào tình thế vô cùng khó khăn, nếu không chỉ đạo đúng
đắn Đảng ta sẽ lại đưa Đất nước lâm vào một tình thế khó khăn khác. Nhưng
càng quan trọng hơn”. Và đây là lúc Đảng khẳng định vai trò của mình. Dưới
sự chỉ đạo kịp thời sáng suốt và linh hoạt của TW Đảng, chỉ trong vòng 55
ngày đêm, với quyết tâm thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với khí
thế thần tốc và một tinh thần chiến đấu áp đảo, quân và dân ta đã giành thắng
lợi liên tiếp: chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng, chiến dịch
Hồ Chí Minh. Ngày 30/04/1975 đã trở thành ngày không thể quên của dân tộc
Việt Nam. Chúng ta đã thống nhất Đất nước, quân và dân Việt Nam đã hoàn
thành sứ mệnh của lịch sử. Việt Nam đã chứng minh trước toàn thế giới sự
thắng lợi của Chủ nghĩa Mac – Lênin, sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của
Đảng Cộng Sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong Cách mạng Việt Nam, ở mọi thời kỳ Đảng ta luôn vươn tới mọi
tầm cao của dân tộc, đó là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của Cách mạng
Việt Nam, bởi nếu không có Đảng thì cách mạng vẫn chưa có lối thoát và
không thể có thắng lợi huy hoàng như ngày hôm nay. Sự ra đời của Đảng là
bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam: Vì khi Đảng ra đời, mọi
thắng lợi Cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng. Đảng ra đời là cột mốc đánh dấu sự chấm dứt hoàn toàn về đường lối
cứu nước của Cách mạng Việt Nam. Đảng ra đời đã trở thành hạt nhân đoàn
kết các yếu tố, cũng từ đây nhân dân Việt Nam đi vào sự nghiệp đấu tranh
giải phóng giai cấp, giải phóng loài người một cách tự giác và có tổ chức. Sự
ra đời của Đảng là một yêu cầu tất yếu của lịch sử. Từ khi thành lập Đảng
luôn làm tốt nhiệm vụ của mình, luôn thể hiện được vai trò lãnh đạo của
mình. Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Bác Hồ vạch rõ: “ Cách mệnh
trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có Đảng Cách mệnh để trong thì hoạt
động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và giai
cấp vô sản mỗi nơi. Đảng có vững Cách mệnh mới thành công, cũng như
người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”.
Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm được những kỳ công là vì
Đảng là một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, một Đảng Macxit –
Lênin nít chân chính, do Bác Hồ sáng lập, rèn luyện và giáo dục. Sự kết hợp
nhân tố phức tạp, kể cả những hoạt động chống phá Đảng. Vấn đề giữ vững
bản chất của một cán bộ Đảng viên đang đứng trước những thách thức mới.
Cuộc chiến tranh giải phóng Đất nước kéo dài mấy chục năm đã rèn đức dân
tộc và cho Đảng những phẩm chất tuyệt vời, nhưng cũng đã để lại nhiều di
hại nặng nề. Hơn thế nữa, một bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên thiếu tu
dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa đoạ về đạo đức, thoái
hoá về chính trị … Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn chưa làm rõ, cơ sở Đảng
ở một số nơi còn yếu kém. Những vấn đề đó suy cho đến cùng đều liên quan
đến việc hoàn thiện Đảng về tổ chức, tư cách và hiệu quả lãnh đạo.
Hơn bao giờ hết, thời kỳ lịch sử mới đang đòi hỏi các hoạt động chính
trị, các tổ chức chính trị, các nhà chính trị phải vươn tới tầm cao mới trong tri
thức, đạo đức cũng như cách thức quản lý. Đặc biệt đối với nước ta, với mục
tiêu Chủ Nghĩa Xã Hội thì toàn bộ hoạt động của Đảng đều vì Chủ Nghĩa Xã
Hội, vì con người, sự phồn vinh và hạnh phúc của con người. Và Đảng Cộng
Sản Việt Nam đang nỗ lực với mục tiêu ấy. Với điều kiện hiện nay, Đảng ta
đang ra sức hoàn thiện trên tất cả các lãnh vực của đời sống và đang dần đưa
nước ta lên tầm cao mới, hội nhập và quan hệ rộng rãi với các nước trên thế
giới. Đưa nền kinh tế phát triển ngang tầm với các nước khác trên thế giới
trên cơ sở độc lập tự chủ. Do vậy, mỗi công dân chúng ta với một phần kiến
thức nhỏ bé có được thì chúng ta sẵn sàng cống hiến cho Đất nước. Thế hệ
hôm nay phải đóng góp một phần sức lực của mình để xây dựng Đất nước
ngày một phồn vinh và giàu mạnh, để xứng đáng với bao xương máu mà ông
cha ta đã đổ ra. Vì vậy, đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng Sản Việt Nam là
một niềm mơ ước, một niềm tự hào đối với bất cứ người dân nào trên Đất
nước Việt Nam.
Riêng bản thân tôi cũng vậy, đứng vào hàng ngũ của Đảng luôn là niềm
mơ ước, niềm tự hào không gì sánh bằng. Nhưng phấn đấu như thế nào để
ước mơ đó trở thành sự thật? Đó chính là phấn đấu mà không phấn đấu. Bởi
với một lòng yêu Đảng, ham muốn phụng sự cho Đảng tôi sẽ làm hết khả
năng của mình. Không vì một hư danh, một cái “mác” Đảng viên mà chúng