Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong công ty cổ phần vật liệu xây dựng Sông Đáy - Pdf 27

Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh
doanh
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Doanh nghiệp và các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp.
Theo luật doanh nghiệp ngày 29-5-2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-
2006 thì:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một hoặc một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
1.1.2. Các loại hình doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, các loại hình doanh nghiệp bao gồm công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên,
công ty hợp danh, và doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra còn có loại hình doanh nghiệp
nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước chứ không theo luật doanh
nghiệp do quốc hội thông qua ngày 12/06/1999.
a. Công ty công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên: Là doanh nghiệp trong
đó:
- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân và số lượng thành viên không quá năm
mươi
- Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết.
b. Công ty công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:
Là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều
lệ của doanh nghiệp.

là cổ đông ưu đãi.
Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây: Cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu
đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định.
Svth : Nguyễn Mạnh Thắng Gvhd : TS. Đỗ Thị Ngọc Điệp
2
Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh
doanh
- Chỉ có tổ chức được chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được nắm giữ
cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực
trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành
cổ phần phổ thông.
- Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ
phần ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định hoặc do đại hội đồng cổ đông quyết
định.
- Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người chủ sở hữu nó các quyền,
nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau.
- Cổ phân phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu
đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của đại hội cổ đông.
f. Doanh nghiệp nhà nước: Là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn
điều lệ hoặc cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà
nước.
- Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân
sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ các hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn
do doanh nghiệp quản lý.
- Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, có con dấu và trụ sở chính trên lãnh thổ
Việt Nam. Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn do nhà nước đầu tư tại doanh
nghiệp, vốn do doanh nghiệp tự huy động và các nguồn vốn khác theo quy định của
pháp luật. Vốn do nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp bao gồm vốn ngân sách nhà
nước và vốn tự tích lũy được bổ sung vào vốn nhà nước.

hai hay nhiều
đồng chủ sở hữu
tiến hành hoạt
động kinh doanh
nhằm mục tiêu lợi
nhuận.
- Dễ thành lập.
- Được chia toàn bộ lợi nhuân.
- Có thể huy động vốn từ các
thành viên.
- Có thể thu hút kỹ năng quản lý
của các thành viên.
- Có thể thu hút thêm thành viên
tham gia.
- Ít bị chi phối bởi các quy định
pháp lý.
- Năng động.
- Không bị đánh thuế hai lần.
- Chịu trách nhiệm vô hạn.
- Khó tích lũy vốn.
- Khó giải quyết khi có mâu
thuẫn lợi ích giữa các thành viên.
- Các thành viên bị chi phối bởi
luật đại diện.
Công ty cổ phần –
Tổ chức kinh
doanh thành lập
theo luật hoạt
động tách rời với
quyền sở hữu và

Hoạt động tài chính.
Svth : Nguyễn Mạnh Thắng Gvhd : TS. Đỗ Thị Ngọc Điệp
4
Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh
doanh
a. Hoạt động thị trường của các doanh nghiệp xây dựng.
Thị trường xây dựng là nơi gặp gỡ giữa sự chào hàng về kết quả xây dựng của
các doanh nghiệp xây dựng ( người bán ) và nhu cầu xây dựng của các chủ đầu tư
( người mua ) nhằm đi đến ký kết hợp đồng xây dựng giữa người mua và người
bán .
Trên thị trường xây dựng chủ đầu tư lựa chọn doanh nghiệp xây dựng theo yêu
cầu thiết kế trên hai phương diện kỹ - mỹ thuật và kinh tế .
Chủ đầu tư có thể tổ chức đấu thầu để tạo ra sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp xây dựng , qua đó lựa chọn doanh nghiệp để ký kết hợp đồng xây dựng .
Chủ đầu tư và các nhà thầu với các mục tiêu khác nhau đã tạo ra sự sôi động
của thị trường xây dựng. Mục tiêu của chủ đầu tư là công trình có chất lượng cao,
tiến độ thi công ngắn và chi phí xây dựng hợp lý, còn mục tiêu của nhà thầu là đảm
bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả và ít rủi ro nhất .
Trên thị trường xây dựng, sản phẩm của xây dựng là một loại hàng hóa đặc
biệt, được sản xuất theo đơn đặt hàng, có tính đơn chiếc giá cả cao, gắn với một địa
điểm nhất định do chủ đầu tư quyết định, nên chủ đầu tư không thể mua sản phẩm
có sẵn và các nhà thầu không thể sản xuất sẵn các công trình để bán.
Để có lợi nhuận cao, các nhà thầu trong ngành xây dựng phải cạnh tranh nhau
nhiều khi rất gay gắt để ký được nhiều hợp đồng với các nhà đầu tư nhằm nâng cao
lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư lựa
chọn nhà thầu đạt yêu cầu mong muốn .
b. Hoạt động thi công xây lắp .
Đây là hoạt động chính và xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của
doanh nghiệp. Hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động của doanh
nghiệp và là hoạt động trực tiếp tạo nên kết quả của doanh nghiệp. Chất lượng của

nghiệp phải có một số vốn cần thiết như: máy móc thiết bị, nhà xưởng vật tư, tiền
mặt mới có thể tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác doanh
nghiệp phải có trách nhiệm huy động, tổ chức quản lý và sử dụng hiệu quả mọi
nguồn vốn để bảo toàn và phát triên vốn. Kết quả hoạt động tài chính của doanh
nghiệp có tác động trực tiếp và ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động khác, đặc biệt là
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Svth : Nguyễn Mạnh Thắng Gvhd : TS. Đỗ Thị Ngọc Điệp
6
Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh
doanh
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp được phản ánh qua các báo cáo tài
chính. Các báo cáo tài chính phản ánh tình hình về vốn, tài sản, công nợ, cũng như
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua các thời kỳ theo các
quy định hiện hành.
1.2. Tầm quan trọng của vốn – các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sủ dụng
vốn của các doanh nghiệp xây dựng .
1.2.1 Khái niệm chung về vốn .
Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào nào, các doanh nghiệp
cần phải có được các yếu tố cần thiết nhất định, các yếu tố này thông thường là văn
phòng, nhà xưởng, kho tàng, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, vật tư, tiền
mặt…và được gọi là các tài sản. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, muốn có
được các tài sản đó, các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định
để đầu tư, mua sắm, thuê mướn. Do vậy, để thực hiện mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh thì điều kiện vật chất tiên quyết là phải có vốn tiền tệ. Hơn nữa trong quá
trình hoạt động để duy trì mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh
nghiệp cần phải duy trì và làm tăng cường lượng tài sản cần thiết cho kinh doanh
của doanh nghiệp, điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải duy trì và mở
rộng vốn kinh doanh. Như vậy, nếu xuất phát từ vài trò của vốn đối với quá trình
sản xuất kinh doanh, chúng ta có thể hiểu: Vốn kinh doanh là toàn bộ lượng tiền
cần thiết nhất định để bắt đầu và duy trì sự hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục

đầu, là điều kiện tiên quyết. Trong nền kinh tế thị trường mọi vận hành của nền kinh
tế đều được tiền tệ hóa. Do vậy, bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng luôn cần có
một lượng vốn nhất định dưới dạng tiền tệ, tài nguyên đã được khai thác, của cải
của các thế hệ trước, sở hữu về trí tuệ, bản quyền tác giả.
Trên phương diện toàn bộ nền kinh tế, vốn có vai trò quan trọng cho quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
diễn ra nhanh hay chậm là do nguồn vốn có đảm bảo được cung ứng đầy đủ hay
không.
Sản xuất trong điều kiện kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại một lượng vốn
như một tiền đề bắt buộc, không có vốn sẽ không có bất kỳ một công việc sản xuất
kinh doanh nào được tiến hành. Muốn cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến
hành một cách liên tục có kết quả, doanh nghiệp phải đủ vốn để đầu tư làm ăn có
Svth : Nguyễn Mạnh Thắng Gvhd : TS. Đỗ Thị Ngọc Điệp
8
Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh
doanh
hiệu quả, doanh nghiệp phải đủ vốn để đầu tư vào các giai đoạn khác nhau của quá
trình sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì vốn đầu tư được
đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng, phát triển cả bề rộng và
chiều sâu.
Mặt khác, vốn quyết định trang thiết bị cơ sở vật chất, ứng dụng các thành tựu
khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh, quyết định khả năng đổi mới máy
móc thiết bị, quy trình công nghệ, phương pháp quản lý mới cho doanh nghiệp. Bên
cạnh đó vốn kinh doanh là một trong những tiêu thức để phân loại doanh nghiệp,
xếp loại doanh nghiệp và là một trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp
sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có và trong tương lai. Cũng như đối với doanh
nghiệp khác, vốn trong doanh nghiệp xây dựng có vai trò sau:
- Vốn là điều kiện tiên quyết để hình thành doanh nghiệp .
- Đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành
liên tục .

Vốn lưu động: vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn biểu hiện bằng tiền
được ứng ra để mua các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông
nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường
xuyên liên tục.
Vốn lưu động được chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần, tuần hoàn liên tục và
kết thúc vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Vốn lưu động là điều kiện vật
chất không thẻ thiếu trong quá trình tái sản xuất.
* Căn cứ vào thời gian sử dụng: Vốn của doanh nghiệp được chia thành vốn
ngắn hạn và vốn dài hạn. Ta có sơ đồ các loại vốn của doanh nghiệp:
Svth : Nguyễn Mạnh Thắng Gvhd : TS. Đỗ Thị Ngọc Điệp
10
Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh doanh
Bảng 1.2: Các loại tài sản(vốn) của doanh nghiệp xây dựng.
Tổng tài sản của DNXD
Tài sản ngắn hạn Tài sản dài hạn
Tiền
và các
khoản
tương
đương
tiền
Hàng
tồn
kho
Các
khoản
phải
thu
Tài
sản

hạn
khác
Tài
sản cố
định
Tài sản lưu động
(Vốn lưu động)
Tài sản tài chính
(Vốn tài chính)
Tài sản cố định (Vốn
cố định)
Tổng vốn của DNXD
Svth : Nguyễn Mạnh Thắng Gvhd : TS. Đỗ Thị Ngọc Điệp
11
Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh
doanh
1.2.3.1 Vốn ngắn hạn( tài sản ngắn hạn)
a. Tiền và các khoản tương đương tiền.
Tiền của doanh nghiệp bao gồm tiền mặt tại quỹ và tiền của doanh nghiệp gửi
ở ngân hàng. Một doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây dựng nói riêng cần
phải luôn có một lượng tiền nhất định để thực hiện các mục đích sau:
- Đủ để thanh toán các hóa đơn mua nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ: trả cho
các dịch vụ thường xuyên như tiền điện nước, cước phí bưu điện, nộp thuế, trả
lương và các khoản cho cán bộ công nhân viên…
- Phòng bị, doanh nghiệp phải duy trì một vùng đệm an toàn để thỏa mãn các
nhu cầu chi bất ngờ. Lượng tiền phòng bị nhiều hay ít phụ thuộc nhiều vào khả
năng dự đoán về nhu cầu chi trả, khả năng vay mượn tiền ngắn hạn nhanh hay chậm
khi cần.
Để thực hiện các mục đích trên, trong từng thời kỳ doanh nghiệp xây dựng cần
lập kế hoạch vốn bằng tiền. Cơ sở quan trọng để lập kế hoạch là những dự báo về

doanh nghiệp cần có một lượng dự trữ bảo hiểm nhất định đủ để đáp ứng nhu cầu,
tiến độ thi công.
Công cụ, dụng cụ trong điều kiện hiện nay, doanh nghiệp xây dựng cũng
không cần dự trữ, chỉ mua sắm khi thực tế yêu cầu. Tỷ trọng khoản mục này càng
nhỏ càng tốt để tránh bị ứ đọng vốn, tránh nhu cầu vốn lưu động tăng không cần
thiết.
Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang là khoản chiếm tỷ trọng cao trong tổng
số vốn của các doanh nghiệp xây dựng hiện nay. Đòi hỏi các doanh nghiệp xây
dựng cần có biện pháp giảm khối lượng xây dựng dở dang, tập trung thi công dứt
điểm từng hạng mục công trình đủ để đáp ứng yêu cầu thanh toán theo điểm dừng
kỹ thuật hợp lý, tránh ứ đọng vốn. Khoản mục này chỉ cần giữ lại một lượng nhất
định để đảm bảo khối lượng gối đầu sang kỳ sau.
e. Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, các
khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn.
- Các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược có khi doanh nghiệp tham gia đấu thầu
hoặc khi vay vốn. Những khoản này cần được theo dõi và thu hồi ngay khi đến hạn
tránh thất thoát. Tỷ trọng khoản này càng nhỏ, càng tốt để tránh bị chiếm dụng vốn.
Svth : Nguyễn Mạnh Thắng Gvhd : TS. Đỗ Thị Ngọc Điệp
13
Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh
doanh
- Chi phí trả trước chủ yếu là giá trị công cụ, dụng cụ chờ phân bổ. Kế toán
cần xác định số kỳ và tiêu thức phân bổ phù hợp.
- Các khoản tạm ứng: là khoản chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong các doanh
nghiệp xây dựng hiện nay vì hầu hết các doanh nghiệp thực hiện phương thức
khoán gọn cho các đội thi công. Để đảm bảo chi tiêu hiệu quả đúng mục đích các
doanh nghiệp xây dựng cần xây dựng quy trình thanh quyết toán vốn tạm ứng đối
với các đội sản xuất:
+ Doanh nghiệp cần tính toán đầy đủ, cụ thể và chính xác các yếu tố chi phí để
xác định mức khoán hợp lý bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và của người lao

c. Tài sản cố định: bao gồm tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định thuê tài chính
và tài sản cố định vô hình. Trong các doanh nghiệp xây dựng hiện nay, tài sản cố
định chiếm tỷ trọng không cao. Một phần do đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
xây dựng di động, mặt khác cũng do năng lực tài chính của doanh nghiệp không cho
phép đầu tư vào máy móc thiết bị hiện đại, giá cao. Do đầu tư ít cho tài sản cố định
dẫn tới tỷ suất đầu tư cho tài sản cố định thấp làm ảnh hưởng lớn đến điều kiện khi
tham gia đấu thầu. Vì vậy, các doanh nghiệp xây dựng cần thiết phải đầu tư tài sản
cố định đặc biệt là máy móc thi công sao cho đáp ứng đủ điều kiện khi tham gia đấu
thầu mà không bị ứ đọng vốn và cũng cần cân nhắc tính toán, lựa chọn giữa phương
án bỏ tiền đầu tư với phương án đi thuê máy móc thiết bị.
d. Bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn: những khoản mục
này trong các doanh nghiệp xây dựng hiện nay hầu như không có, do khả năng tự
tài trợ của các doanh nghiệp không cho phép. Tuy nhiên các doanh nghiệp xây dựng
cũng nên đầu tư khi có cơ hội và khi thấy đầu tư có hiệu quả cao, bằng cách huy
động vốn trên thị trường.
1.2.4. Cơ cấu vốn của các doanh nghiệp xây dựng.
Cơ cấu vốn của doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp xây dựng nói riêng
là tỷ trọng và mối quan hệ của từng loại vốn so với tổng vốn của doanh nghiệp tại
một thời điểm nhất định.
Thực tế, cơ cấu vốn của các doanh nghiệp xây dựng hiện nay còn chưa hợp lý.
Trong tổng tài sản của doanh nghiệp thì tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng tương đối
cao, tài sản dài hạn( đặc biệt là tài sản cố định) chiếm tỷ trọng không đáng kể, điều
Svth : Nguyễn Mạnh Thắng Gvhd : TS. Đỗ Thị Ngọc Điệp
15
Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh
doanh
này làm năng lực sản xuất của doanh nghiệp thấp làm giảm khả năng thắng thầu.
Trong tài sản ngắn hạn thì tỷ trọng các khoản phải thu, chi phí sản xuất kinh doanh
dở dang qúa lớn, trong khi đó tiền chiếm tỷ trọng không đáng kể, dẫn tới không đáp
ứng đủ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường( như nợ lương công

thu(T3)
Phải thu của
khách hàng
Càng nhỏ càng tốt để tránh bị chiếm dụng vốn.
Từ 0-5%
Phải thu nội bộ Càng nhỏ càng tôt. Từ 0-5%
Phải thu khác
Càng nhỏ càng tốt để tránh bị chiếm dụng vốn(từ
0-1%)
Tỷ trọng
hàng tồn
kho(T4)
Nguyên vật liệu
Giữ ở mức vừa phải đủ đáp ứng nhu cầu sản
xuất. Càng nhỏ càng tốt để tránh tồn đọng dẫn
tới ứ đọng vốn(5-10%)
Công cụ, dụng
cụ
Trong điều kiện hiện nay thì không cần dự
trữ(0%)
Chi phí SXKD
dở dang
Càng nhỏ càng tốt để tránh bị ứ đọng vốn. Tuy
nhiên, cần một lượng nhất định để đảm bảo khối
lượng gối đầu cho kỳ sau(Từ 10-20%)
Tỷ trọng tài
sản ngắn
hạn
khác(T5)
Tạm ứng

Càng nhỏ càng tốt để tránh bị ứ đọng vốn
(0-1%)
Tài sản cố
định(T4)
TSCĐ hữu
hình
Duy trì ở mức cần thiết đủ đáp ứng nhu cầu
và đảm bảo vị thế của doanh nghiệp (30-
40%)
Giữ ở mức nhất định đủ đáp ứng yêu cầu khi
tham gia đấu thầu. Đảm bảo năng lực sản
xuất, phù hợp với đặc điểm hoạt động của
doanh nghiệp xây dựng . Cần tính đến
phướng án đi thuê, không đầu tư nhiều quá
sử dụng không hết.
Tính đến số lần sử dụng nếu đầu tư. Cân đối
giữa phương án thuê và đầu tư.
TSCĐ thuê tài
chính
Trong điều kiện tiền vốn hạn hẹp và khả
năng vay không cho phép, nên tăng tỷ trọng
khoản mục này(10-20%)
TSCĐ vô hình Cần có một mức nhất định(5%)
Bất động sản đầu tư(T5)
Đây là hoạt động đòi hỏi vốn đầu tư lớn.
Doanh nghiệp xây dựng cần cân nhắc với
khả năng tài chính có thể nên giữ ở một mức
cần thiết để tìm kiếm lợi nhuận(đến 5%)
Các khoản đầu tư
tài chính dài hạn

khác nhau. Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp có thể được hiểu là toàn bộ các
nguồn tài chính mà doanh nghiệp có thể khai thác, huy động được để tạo nên vốn
kinh doanh của mình. Nó cho biết phương thức khai thác, tạo vốn tài trợ cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời còn cho biết trách
nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với mỗi loại nguồn vốn.
Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau tùy
theo từng cách thức xem xét.
- Nếu căn cứ vào thời hạn sử dụng thì toàn bộ nguồn vốn của doanh nghiệp
được cấu thành bởi hai loại: nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.
Nguồn vốn ngắn hạn: là những nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể khai thác
và sử dụng trong vòng một năm chẳng hạn như nguồn vốn vay ngắn hạn, nguồn vốn
chiếm dụng trong thanh toán.
Nguồn vốn dài hạn: là những nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể khai thác và
và sử dụng trong thời hạn trên một năm, chẳng hạn như nguồn vốn vay dài hạn,
nguồn vốn phát hành cổ phiếu, trái phiếu dài hạn…
Việc xem xét nguồn vốn của doanh nghiệp theo thời hạn sử dụng sẽ giúp cho
doanh nghiệp có thể lựa chọn và sử dụng nguồn vốn thích hợp để tài trợ cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh. Một nguyên tắc quan trọng trong quản lý tài chính
là nguồn vốn ngắn hạn phải được sử dụng để tài trợ cho tài sản lưu động và nguồn
vốn dài hạn sử dụng để đảm bảo khả năng thanh toán an toàn của doanh nghiệp.
Nếu vi phạm nguyên tắc này có thể dẫn đến hậu quả là khả năng thanh toán an toàn
của doanh nghiệp trở nên yếu kém thậm chí doanh nghiệp có thể lâm vào tình trạng
phá sản.
- Nếu căn cứ vào trách nhiệm pháp lý và tính chất sở hữu, toàn bộ nguồn vốn
của doanh nghiệp được chia thành hai loại cơ bản: nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn
vốn huy động.
Svth : Nguyễn Mạnh Thắng Gvhd : TS. Đỗ Thị Ngọc Điệp
19
Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh
doanh

Svth : Nguyễn Mạnh Thắng Gvhd : TS. Đỗ Thị Ngọc Điệp
20
Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh
doanh
+ Lợi nhuận để lại và các quỹ doanh nghiệp:
Sau mỗi kỳ kinh doanh, nếu kết quả kinh doanh là doanh nghiệp có lợi nhuận,
doanh nghiệp sẽ tiến hành phân phối số lợi nhuận này theo đúng cơ chế tài chính
hiện hành của nhà nước và những đòi hỏi hiện tại của doanh nghiệp. Một phần lợi
nhuận được giữ lại để bổ sung vốn kinh doanh của doanh nghiệp, một phần khác
được sử dụng để hình thành nên các quỹ của doanh nghiệp. Đây là hai bộ phận cấu
thành nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Đương nhiên nếu doanh nghiệp không
có lợi nhuận và không còn số dư các quỹ thì đồng nghĩa với việc doanh nghiệp
không có bộ phận vốn chủ sở hữu này.
+ Nguồn vốn khác:
Là các nguồn vốn có được coi như thuộc sở hữu của doanh nghiệp, chẳng hạn
như nguồn vốn liên doanh, liên kết: Đây là nguồn vốn do các đối tác đóng góp để
tiến hành các hoạt động liên doanh liên kết. Doanh nghiệp là bên tổ chức hoạt động
liên doanh nhận góp vốn của các đối tác và không hình thành pháp nhân mới. Trong
những trường hợp nhất định thì việc khai thác và sử dụng nguồn vốn này tỏ ra phù
hợp và có hiệu quả bởi vì doanh nghiệp sẽ tận dụng được những lợi thế hiện có của
đối tác, đồng thời phân tán được rủi ro trong hoạt động liên doanh. Trong quá trình
quản lý, tùy theo cơ chế tài chính doanh nghiệp ở mỗi quốc gia mà nguồn vốn huy
động hoặc một loại hình nguồn vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, xuất phát từ bản chất
của nó là một loại hình vốn góp, cho nên cơ chế tài chính ở nước ta coi đây là một
bộ phận nguồn vốn chủ sở hữu.
Nguồn vốn huy động: Đây là nguồn vốn mà doanh nghiệp khai thác, huy
động được từ các chủ thể khác nhau nhưng phải hoàn trả trong một thời gian nhất
định. Đối với số vốn này, doanh nghiệp chỉ được sử dụng có thời hạn nhất định. Do
đó nguồn vốn huy động còn được gọi là là các khoản nợ phải trả. Nguồn vốn này
được cấu thành bởi các bộ phận cơ bản sau:

phát hành trái phiếu thì đây là một nguồn vốn khá hữu ích, nó giúp doanh nghiệp có
thể huy động được vốn từ công chúng với chi phí sử dụng không cao lắm so với
nguồn vốn vay. Tuy nhiên trong thực tế, trái phiếu do các doanh nghiệp phát hành
không được ưa chuộng rộng rãi như cổ phiếu và trái phiếu chính phủ.
+ Các nguồn khác: như tiền đền bù của các nhà cung cấp bảo hiểm, tiền thu về
từ nhượng bán, thanh lý tài sản, lãi tiền gửi ngân hàng…
Svth : Nguyễn Mạnh Thắng Gvhd : TS. Đỗ Thị Ngọc Điệp
22
Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh
doanh
1.2.6. Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp xây dựng.
1.2.6.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn , tài sản của doanh nghiệp
vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích và tối thiểu
hóa chi phí.
- Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng vốn được hiểu trên hai khía
cạnh:
+ Một là, với số vốn hiện có, có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với
chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
+ Hai là, đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để
tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu bảo đảm tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc
độ tăng vốn.
1.2.6.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của các doanh
nghiệp xây dựng .
a. Các nhân tố vĩ mô :
Là một tế bào của nền kinh tế quốc dân các doanh nghiệp luôn chịu ảnh hưởng
bởi các quy luật, các nhân tố của nền kinh tế. Các nhân tố này có thể tác động một
cách trực tiếp hay gián tiếp tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Đó là tổng thể các nhân tố vĩ mô như:

cao hàm lượng công nghệ kỹ thuật của tài sản cố định .
Do vậy doanh nghiệp phải có kế hoạch đầu tư mới, sửa chữa nâng cấp tài sản
cố định trước mắt cũng như lâu dài.
* Các yếu tố khoa học công nghệ.
Công nghệ có ảnh hưởng rất lớn tới việc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn nhất là với các doanh nghiệp xây dựng. Ngày nay
khoa học công nghệ càng phát triển với tốc độ cao trên mọi lĩnh vực, vòng đời sản
phẩm ngày càng được rút ngắn lại, sản phẩm hàng hóa dự trữ rất nhanh bị lỗi thời.
Trong trường hợp doanh nghiệp bắt kịp tốc độ phát triển của công nghệ, tích cực
đổi mới sẽ trở nên hùng mạnh và đồng vốn bỏ ra sẽ có hiệu quả hơn và ngược lại.
Svth : Nguyễn Mạnh Thắng Gvhd : TS. Đỗ Thị Ngọc Điệp
24
Trường đại học giao thông vận tải Chuyên ngành quản trị kinh
doanh
b. Các nhân tố vi mô :
* Khả năng quản lý của doanh nghiệp:
Đây là yếu tố tác động mạnh nhất đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp.Trong một môi trường ổn định thì có lẽ đây là yếu tố quyết định đến sự
thành bại của doanh nghiệp . Quản lý trong doanh nghiệp bao gồm quản lý tài
chính và các hoạt động quản lý khác.
Trình độ quản lý vốn thể hiện ở việc xác định cơ cấu vốn, lựa chọn nguồn
cung ứng vốn, lập kế hoạch sử dụng và kiểm soát sự vận động của luồng vốn.
Chất lượng của tất cả những hoạt động này đều ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử
dụng vốn. Với một cơ cấu vốn hợp lý, chi phí vốn thấp, dự toán vốn chính xác
thì chắc chắn hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó sẽ cao.
Bên cạnh công tác quản lý tài chính, chất lượng của hoạt động quản lý các
lĩnh vực khác cũng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn. Chẳng hạn như là
chiến lược kinh doanh, chính sách quản lý lao động, quan hệ đối ngoại.
* Đặc điểm về loại hình sản xuất, ngành nghề kinh doanh của doanh
nghiệp xây dựng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status