mụC LụC
Ch ơng 1. Lý luận cơ bản và ý nghĩa của việc sử dụng
hiệu quả nguồn nhân lực ở Hà Nội.
1.1. Các khái niệm cơ bản.
1.1.1. Khái niệm về nguồn nhân lực.
1.1.2. Những đặc trng cơ bản về nguồn nhân lực đối với kinh tế và cơ cấu lao
động theo nghĩa rộng.
1.2.3. ảnh hởng chất lợng nguồn nhân lực đối với kinh tế và cơ cấu lao động.
1.2. ý nghĩa của việc sử dụng nguồn nhân lực hợp lý ở Hà Nội,
Chơng II. Phân tích tình hình sử dụng nguồn nhân lực ở
Hà Nội.
2.1. Các đặc điểm có liên quan đến sử dụng tổng số nguồn nhân lực ở Hà Nội.
2.1.1. Cơ cấu tuổi và giới tính.
2.1.2. Các đặc trng về trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật
2.1.3. ảnh hởng của chất lợng nguồn nhân lực đối với Hà Nội theo hớng Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá.
2.2. Phân tích tình hình sử dụng nguồn nhân lực ở Hà Nội.
2.2.1. Việc làm thất nghiệp.
2.2.2. Thu nhập
Ch ơng 3. Phơng hớng biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng nguồn nhân lực ở Hà Nội đến năm 2010.
3.1. Phơng hớng sử dụng nguồn nhân lực ở Hà Nội.
3.1.1. Những quan điểm cơ bản để nâng cao chất lợng nguồn lao động ở Hà
Nội.
3.1.2. Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả nguồn lao động ở Hà Nội đến
năm 2010.
Kết luận chung
49
Mở đầu
Nâng cao sử dụng nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội nớc ta đến năm 2010 và những
Hiện nay trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Nói chung
vấn đề nâng cao sử dụng nguồn nhân lực cha đợc đặt ra. Điều này đang là cản
trở khó khăn rất lớn trong việc đào tạo bố trí sử dụng lao động... nói chung đặc
biệt đối với các khu công nghiệp tập trung, khu chế suất ở Thủ đô. Việc nghiên
cứu để hình thành phơng pháp lập quy hoạch nâng cao nguồn nhân lực cho Thủ
đô là cơ sở để tạo thế chủ động, gắn liền ngay từ đầu hoặc chuẩn bị trớc cho
định hớng phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô.
Với những ý nghĩa đó, đề tài đợc thể hiện ở 3 chơng
Chơng 1. ý nghĩa của việc sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực ở Hà Nội.
Chơng 2. Phân tích tình hình sử dụng nguồn nhân lực ở Hà Nội
Chơng 3. Phơng hớng biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực
ở Hà Nội đến năm 2010
51
Ch ơng 1
Lý luận cơ bản và ý nghĩa của việc sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực ở Hà Nội
1.1. Các khái niệm cơ bản:
1.1.1. Khái niệm về nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực trớc hết có thể hiểu nh một tổng hợp những nguồn lực cả
về thể lực và trí lực của một nhóm ngời, đơn vị, cộng đồng hoặc 1 quốc gia.
Dới góc độ đánh giá tiềm năng của mỗi vùng, mỗi quốc gia thì nguồn
nhân lực là tài nguyên cơ bản nhất. Nếu nh vốn nguồn tài nguyên thiên nhiên là
những nhân tố thụ động của quá trình sản xuất, thì nguồn nhân lực đóng vai trò
là các nhân tố tích cực, chủ động là điều kiện để khai thác các nguồn tự nhiên,
phát triển kinh tế đất nớc.
1.1.2. Những đặc trng cơ bản về nguồn nhân lực đối với kinh tế và cơ
cấu lao động theo nghĩa rộng.
Dới góc độ xem xét nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, cũng làm rõ hệ thống
quan hệ của nguồn nhân lực về số lợng - chất lợng - cơ cấu với nhóm hệ thống
các nhân tố liên quan đến dân số và chất lợng cuộc sống, cụ thể cần phân tích.
con ngời", nhằm phản ánh trình độ phát triển của các nớc. Đây là một khái niệm
tổng hợp bao hàm nhiều mặt kinh tế, xã hội, chính trị, môi trờng đồng thời thể
hiện sự phân phối công bằng thành quả của sự phát triển. Do vậy, việc lợng hoá
nó chỉ mang ý nghĩa đo lờng một cách tơng đối.
53
Chỉ số HDI đợc căn cứ vào 3 chỉ tiêu: Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu ngời, tình độ dân trí, tuổi
thọ bình quân.
* Chỉ số GNP hoặc GDP bình quân đầu ngời với NNL:
Chỉ số này có liên quan và ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng cuộc sống của
con ngời lao động và đến mặt thể lực của nguồn nhân lực... Quan hệ giữa chỉ số
này và dân số là để tăng đợc chỉ tiêu GDP trên đầu ngời thì tổng sản phẩm quốc
nội phải tăng nhanh hơn tỷ lệ gia tăng dân số (nếu không làm GDP giảm sút)
cũng sẽ làm tăng GDP trên đầu ngời.
Do ảnh hởng đến trực tiếp tới khả năng tích luỹ và tiêu dùng của dân số
nói chung và ngời lao động nói riêng, quan hệ giữa chỉ số này với nguồn nhân
lực đợc cụ thể hoá trong một loạt các chỉ số nh: Điều kiện dinh dỡng (số lơng
thực, thực phẩm/ngời; số calo/ngời/ngày; số rotein/ngời/ngày...). Điều kiện nhà
ở (diện tích ở bình quân/ngời; chất lợng nhà...) mức tiêu dùng điện năng... Đây
là những chỉ tiêu liên quan và phản ánh trực tiếp tình trạng thể lực, trình độ phát
triển mức độ tiêu dùng của nguồn nhân lực.
* Nguồn nhân lực và chỉ số trình độ dân trí:
Đây là chỉ tiêu phản ánh và liên quan trực tiếp đến mặt trí lực của nguồn
nhân lực khi tính HDI thì trình độ dân trí đợc tính bằng 2 chỉ tiêu: Tỷ lệ ngời
biết chữ (thờng tính 15 tuổi trở lên) và số năm đi học bình quân. Tuy nhiên, để
phân tích đợc đầy đủ hơn quan hệ của nguồn nhân lực với chỉ số trình độ dân trí
này, cần xem xét thêm cá chỉ tiêu cụ thể sau đây: Tỷ lệ biết chữ hoặc trình độ
học vấn theo nhóm tuổi, giới tính, tình hình giáo dục phổ thông, trung học
chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và đào tạo công nhân kỹ thuật.
Trình độ dân trí của nguồn nhân lực của mỗi vùng, mỗi quốc gia chịu tác
theo thành phần kinh tế, theo khu vực (thành thị - nông thôn), có việc làm và
không có việc làm.
55
- Về chất lợng: trớc hết phải xem xét trình độ dân trí, trình độ học vấn của
dân số nói chung và của lực lợng lao động, cơ cấu trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, trình độ đào tạo của dân c, lao động theo nhóm tuổi, khu vực, vùng. Khi
xem xét chất lợng nguồn nhân lực nói chung và cho Thủ đô, cần xem xét khả
năng đáp ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hoá trình độ và cơ cấu ngành
nghề, về sự hiểu biết luật pháp... của ngời lao động.
+ Nếu xem xét nguồn nhân lực ở góc độ tham gia hoạt động kinh tế tạo
thu nhập cho xã hội, ta chia ra: dân số hoạt động kinh tế và dân số hoạt động
không kinh tế.
Qua quá trình phân tích, xem xét khái niệm và một số đặc trng của nguồn
nhân lực theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, ta thấy sự mở rộng, phát triển của hệ
thống các chỉ tiêu cụ thể phản ánh nội dung từng loại khái niệm. Tuy nhiên
phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu những đặc trng nghĩa hẹp. Việc phân tích các chỉ
tiêu phản ánh đặc trng của nguồn nhân lực và các động thái phát triển của nó là
tiền đề cho công tác nâng cao sản lợng nguồn nhân lực đối với ở Thủ đô.
1.1.3. ảnh hởng chất lợng nguồn nhân lực đối với kinh tế và cơ cấu lao
động
Nguồn nhân lực là các quá trình kinh tế - xã hội theo quan quan điểm phát
triển của mỗi ngời lao động cùng một lúc vừa là ngời sản xuất, vừa là ngời tiêu
dùng, ở góc độ thứ nhất lao động tạo ra GDP (tổng sản phẩm quốc nội) và làm
nảy sinh các quan hệ cấu trúc nội tại của yếu tố bản thân của quá trình hình
thành và dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động. ởgóc độ thứ hai, với t
cách là ngời tiêu dùng, sức mua của ngời lao động, cũng nh nhu cầu nâng cao
phúc lợi xã hội và các giá trị vật chất, tinh thần cho con ngời, lại là động lực và
định hớng cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nh vậy cơ cấu lao động theo hớng công nghiệp hoá và hiện đại hoá cả về
quy mô và cờng độ.
nông nghiệp theo hớng phục vụ xuất khẩu và đô thị, bảo đảm an toàn lơng thực.
- Cơ cấu kinh tế đợc dịch chuyển theo một trình tự nhất định thích hợp
đồng thời đảm bảo có thể tạo ra đột phá, tạo đà cất cánh sau một thời gian
không xa trên nền tảng một nền công nghiệp hiện đại, đợc bảo đảm các điều
kiện hạ tầng phát triển, với các thể chế thật sự thông thoáng, hợp lý với yêu cầu
hoàn thiện và phát triển nền kinh tế thị trờng theo hớng xã hội chủ nghĩa, xã hội
công bằng văn minh.
Nh vậy, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đòi hỏi cả 2 mặt:
+ Một mặt phải có sự tăng trởng nhanh chóng của cả 3 khu vực: nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ theo hớng phát triển mạnh nền sản xuất hàng
hoá với khoa học công nghệ và kỹ thuật hiện đại, hệ thống thể chế thông thoáng
phù hợp với yêu cầu hoàn thiện và phát triển nền kinh tế thị trờng theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa.
+ Mặt khác, phải giảm tỷ trọng GDP từ nông nghiệp tức là từ tốc độ tăng
trởng của khu vực công nghiệp và dịch vụ phải bứt lên vợt hẳn so với nông
nghiệp để đạt đợc sự giảm tơng đối của khu vực này.
ở mặt thứ nhất: Sự tăng trởng GDP [IQ (P)] ở mỗi khu vực cũng nh của
toàn nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào tốc độ gia tăng của hai nhân tố: Quy
mô lao động sử dụng (IW). Thể hiện bằng công thức.
Ta có quan hệ tuyến tính sau:
I
Q(P)
= I
T
x I
W
(1)
Trong đó:
I
KC
hoàn toàn phụ thuộc vào sự gia tăng của các
nhân tố về chất lợng lao động và trình độ công nghệ kỹ thuật, trình độ quản lý,
sự gia tăng của I
KC
là kết quả chuyển dịch cơ cấu lao động sử dụng giữa các khu
vực theo hớng công nghiệp hoá. Bởi vì I
KC
chỉ đạt đợc số lớn hơn một khi lao
động làm việc trong một nhóm ngành dịch vụ và công nghiệp (khu vực có năng
suất lao động cao) tăng nhanh hơn so với lao động làm việc trong nhóm ngành
nông nghiệp (khu vực có năng suất lao động thấp hơn).
Từ công thức (1) và (2) ta rút ra:
I
Q(P)
= I
KB
x I
KC
x I
T
Hệ thống (3) là mô hình về mối quan hệ chặt chẽ giữa sự tăng trởng về
kinh tế với các nhân tố ảnh hởng trực tiếp đến quá trình này là năng suất lao
động, cơ cấu lao động và khả năng thu hút lao động.
ởmặt thứ hai: Khả năng giảm tỷ trọng GDP từ nông nghiệp trong tổng
GDP của toàn nền kinh tế phụ thuộc vào tơng quan của tốc độ tăng trởng giữa
khu vực công nghiệp và dịch vụ so với khu vực nông nghiệp. Quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH - HĐH đạt ra yêu cầu có tính nguyên tắc và
đảm bảo an toàn lơng thực, ổn định xã hội. Do đó không thể giảm tỷ trọng GDP
từ nông nghiệp bằng cách giảm thấp sự phát triển của khu vực này. Trái lại trên
sử cơ cấu lao động của một quốc gia.
60
Cơ cấu lao động cũng mang tính xã hội đậm nét và sâu sắc, xét về phơng
diện lực lợng sản xuất, mỗi khi sức sản xuất phát triển và nhảy vọt, lại đánh dấu
sự phân công lao động mới. Quá trình phân công lao động phản ánh quá trình
phát triển của nền sản xuất và sự tiến hoá lịch sử của xã hội loài ngời.
Tính lịch sử, cụ thể và khách quan của phạm trù cơ cấu lao động cũng nh
ảnh hởng của các nhân tố đến quá trình này, cần đứng trên quan điểm khách
quan, lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật, đồng thời phải tính tới toàn bộ
các yếu tố cấu thành cơ cấu lao động cả về mặt kinh tế - xã hội trong mỗi giai
đoạn phát triển.
Xu hớng chung của quá trình cơ cấu lao động ở Thủ đô theo hớng CNH-
HĐH là tăng nhanh cả về số lợng và chất lợng lao động làm việc trong khu vực
công nghiệp và dịch vụ Thủ đô, chuyển lao động Thủ đô từ khu vực nông
nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ trên cơ sở đảm bảo đợc an toàn l-
ơng thực và ổn định xã hội.
1.2. ý nghĩa của việc sử dụng nguồn nhân lực hợp lý ở Hà
Nội:
1.2.1. Vài nét chủ yếu về dân số và nguồn nhân lực:
Theo điều tra dân số và nguồn nhân lực ngày 1/4/1999 Thủ đô Hà Nội có
2.672.122 ngời. Là địa phơng lớn thứ hai sau thành phố Hồ Chí Minh còn theo
số liệu thực trạng lao động việc làm ở Việt Nam năm 1997 Hà Nội có 2.306.498
nhân khẩu thực tế thờng trú trong hộ gia đình, trong số đó có 1.177.712 nữ
chiếm 51,06% dân số của Thủ đô. Trong số nhân khẩu thực tế thừ trú, Hà Nội
có 1.241.109 ngời chiếm 53,80% sống ở thành thị và 1.065-389 ngời sống ở
nông thôn. Nh vậy sau 2 năm, tỷ lệ dân số sống ở thành thị đã tăng lên hơn 6%.
Nguồn lao động của Hà Nội khá dồi dào. Theo điều tra lao động việc làm
ngày 1/7/1999 cho thấy lực lợng lao động thờng xuyên của Hà Nội là 1,2 triệu
ngời. Cha kể số lao động ở nơi khác vào Hà Nội tạm trú. Theo điều tra lao động
- việc làm, năm 1997 ở Hà Nội có 523.365 lao động dới độ tuổi lao động còn
62
Gần một nửa số ngời ở Hà Nội thuộc khu vực nông thôn. Nên cần phải
phân tích kỹ khu vực này. Riêng khu vực nông thôn, trong tổng số 542.856 ngời
điều tra có 443.815 ngời không có chuyên môn kỹ thuật, chiếm 81,75%, 19.154
ngời có trình độ trung học chuyên nghiệp chiếm 3,52%; 10.978 ngời có trình độ
cao đẳng, đại học chiếm 2,02% và 700 ngời có trình độ trên đại học chiếm
0,12%. Từ số liệu trên có thể nói trên 80% lao động nông thôn thuộc loại không
có chuyên môn kỹ thuật.
Bảng 1. Bảng phân bố lao động ở Hà Nội vào các ngành
Đơn vị: %
Năm Tên Nông nghiệp Công nghiệp - Xây
dựng
Dịch vụ
1996 Hà Nội 40,08 21,93 37,99
Thành thị 3,38 29,87 66,75
Nông thôn 0,73 11,65 11,62
1997 Hà Nội 31,71 17,26 51,02
Thành thị 1,88 22,40 75,71
Nông thôn 62,56 11,95 25,47
Nhìn chung lực lợng lao động cha có việc làm ở Thủ đô còn rất lớn. Theo
kết quả điều tra lao động việc làm khu vực thành thị của Hà Nội là 7,95% cao
nhất cả nớc, nhng đã giảm khá nhiều.
Hiệu suất sử dụng thời gian lao động còn thấp, bình quân 1 lao động Hà
Nội làm việc 227 ngày/năm, với hệ số sử dụng thời gian khoảng 75% đồng thời
do trình độ trang bị còn thấp cho nên dẫn đến năng suất lao động cha cao
(khoảng 48 triệu đồng/ngời/năm).
Do ảnh hởng nặng nề của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, đến nay đội ngũ
lao động của Thủ đô vẫn còn những hạn chế so với nhu cầu ngày càng cao của
CNH - HĐH và hội nhập kinh tế cha hợp lý, số lợng lao động có trình độ đào
63
Tinh thần kỷ luật, tác phong công nghiệp, khả năng hợp tác với đồng nghiệp, ý
chí phấn đấu, thực hiện tốt các nhiệm vụ của cá nhân, xã hội chủ nghĩa, vấn đề
này liên quan đến trách nhiệm của các tổ chức chính trị xã hội, nhà trờng, đoàn
thể cũng nh giáo dục gia đình và cộng đồng dân c.
65
Ch ơng 2
Phân tích tình hình sử dụng nguồn nhân lực ở Hà Nội
2.1. Các đặc điểm có liên quan đến sử dụng tổng số nguồn
nhân lực ở Hà Nội
2.1.1. Cơ cấu tuổi và giới tính
Phân tích cơ cấu giới tính của lao động khoa học kỹ thuật nói chung, lao
động có trình độ cao nói riêng cho thấy rằng: Đa số lao động đợc đào tạo của cả
nớc ta trong thời gian qua là nam giới (chiếm 72,5%) và phần lớn nằm ở độ tuổi
40-60 tuổi. Nguyên nhân của tình hình này là do kế hoạch đào tạo không cân
đối giữa các thời kỳ. Hầu hết các cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành
nghề đợc đào tạo ồ ạt nhất vào thời kỳ 1960-1975. Thời kỳ 1980 lại đây một
mặt do khả năng đào tạo trong nớc hạn chế và mặt khác việc hợp tác đào tạo ở
nớc ngoài giảm. Nên số tốt nghiệp ở các trờng trung đại học trở nên hàng năm
cha đủ 1.000 ngời cho tất cả các loại. Vì vậy cán bộ có trình độ trung Đại học
trẻ (ở nóm dới 45 tuổi) chiếm tỷ lệ thấp.
Bảng 2. Cơ cấu giới tính và độ tuổi của cán bộ khoa học kỹ thuật và
công nhân lành nghề
Đơn vị: %
Giới tính Nhóm tuổi
Nam Nữ <30 tuổi 31-45 tuổi 46-60 tuổi
1 Trên Đại học 81,00 19,00 6,10 38,00 55,90
2 Đại học và t-
ơng đơng
75,00 27,00 15,60 41,00 43,40
3 Trung học
2.1.2. Các đặc trng về trình độ văn hoá và chuyên môn kỹ thuật.
+ Về trình độ văn hoá: Số lao động ở Hà Nội có trình độ văn hoá khá cao
(xem bảng 2)
Xét về trình độ văn hoá, Hà Nội đứng đầu trong cả nớc về tỷ lệ số lao động
tốt nghiệp cấp III. Bình quân tỷ lệ chung cả nớc là 13,47% (năm 1996) và
14,70% (năm 1997) trong khi tơng ứng của Hà Nội là 36,71% và 41,17%.
67
+ Về trình độ chuyên môn kỹ thuật: Theo số liệu điều tra của Tổng liên
đoàn Việt Nam, ở một số tỉnh, thành phố tỷ lệ công nhân bậc 1-2 của Hà Nội là
19,45%, bậc 3-4 là 59,15%, bậc 6-7 là 10,22% và số công nhân cha đợc xếp bậc
thợ do cha qua đào tạo nghề chiếm 9,56%.
Nhìn chung số cán bộ có trình độ chuyên môn tập trung phần nhiều ở
thành thị và tăng nhanh. Thực tế lực lợng lao động của nớc ta trớc đây đợc đào
tạo theo một quy trình "cứng" tức là nặng về lý thuyết. Nhng nhẹ về thực hành,
theo công nghệ cũ, lạc hậu, không theo kịp với trình độ phát triển của khoa học
kỹ thuật và công nghệ. Vì thế khi nhà nớc thực hiện mở cửa nền kinh tế, cho
phép ngời nớc ngoài đầu t vào Việt Nam thì lực lợng lao động của cả nớc nói
chung và Hà Nội nói riêng cha đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của công nghệ
mới. Vì thế phải tiến hành đào tạo lại ở nhiều khâu phải do lao động khoa học
nớc ngoài đảm nhiệm trong khi nguồn lao động của thành phố còn rất dồi dào.
Quá trình đổi mới cũng cho thấy chúng ta đang thiếu một đội ngũ lao động có
trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh giỏi, thiếu một đội ngũ khoa học bậc cao
trong các ngành và các lĩnh vực kinh doanh hay kinh tế, cũng nh ý thức tổ chức
kỷ luật lao động còn kém: tác phong công nghiệp còn chậm do còn mang nặng
tác phong của nền sản xuất nhỏ, manh mún.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp đã dẫn tới tình trạng trong nhiều ngành
nghề lao động không có chuyên môn kỹ thuật, phải đảm nhiệm những công việc
đơn giản, nặng nhọc, lao động chân tay chấp nhận thu nhập thấp. Trong các cơ
quan doanh nghiệp nhà nớc khi sắp xếp lại tổ chức, thay đổi quy trình lao động
công nghệ, số ngời phải nghỉ việc phần đông lại rơi vào những ngời không có