I. MỞ ĐẦU
Sinh viên là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát
triển xã hội hiện tại và là người chủ tương lai của đất nước. Đây là giai đoạn mà mỗi
cá nhân đang bắt đầu quá trình chủ động, tích cực tham gia vào đời sống xã hội. Họ có
vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước.
Tuy nhiên phần lớn sinh viên hiện nay, do sự thay đổi môi trường sống từ
nông thôn lên thành thị, từ trường phổ thông lên đại học, từ cuộc sống gia đình
sang cuộc sống tự lập… nên các em gặp phải rất nhiều khó khăn: vấn đề thích nghi
với môi trường nhà trọ; sự thay đổi nội dung, phương pháp học tập; cách quản lý
thời gian, chi tiêu trong cuộc sống; giao tiếp với các bạn ngoài tỉnh; học cách từ
chối với các tệ nạn xã hội
Kĩ năng sống có vai trò rất quan trọng, là một trong những yếu tố góp phần
rèn luyện, hình thành cho sinh viên sống có trách nhiệm hơn và biết lựa chọn cách
ứng xử phù hợp trong cuộc sống; thúc đẩy hành vi mang tính xã hội, giảm bớt tỷ lệ
phạm pháp. Giáo dục kĩ năng sống còn tạo mối quan hệ thân thiện, cởi mở, sự hứng
thú tự tin, chủ động sáng tạo trong học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
Ở trường Đại học Hồng đức, sinh viên vẫn còn thiếu hụt những kĩ năng
sống cơ bản và các em luôn mong muốn được giáo dục kĩ năng sống để nâng
cao vốn KNS của bản thân. Tuy nhiên, trong trường Đại học Hồng Đức hiện nay
vẫn chưa có chương trình cũng như các khóa học chuyên sâu về kĩ năng sống
cho các em, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu được giáo dục KNS của các em.
Với những lý do trên tôi quyết định chọn vấn đề “Nhu cầu được giáo dục kĩ năng
sống của sinh viên trường đại học Hồng Đức” để nghiên cứu.
II. NỘI DUNG
1. Các khái niệm cơ bản
1.1. Nhu cầu
1.1.1. Khái niệm nhu cầu
Vấn đề nhu cầu đã được nhiều nhà TLH nghiên cứu, và cho đến nay cũng có
rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhu cầu.
Theo Từ điển TLH của Nguyễn Khắc Viện thì nhu cầu là “Điều cần thiết để
bảo đảm tồn tại và phát triển. Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu,
2
1.1.2. Đặc điểm của nhu cầu
- Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng: Khi chủ thể gặp đối tượng được ý thức
là có giá trị để thỏa mãn nhu cầu của mình và có điều kiện thực hiện phương thức
thỏa mãn thì nhu cầu đó trở thành động cơ thúc đẩy chủ thể hoạt động nhằm vào
đối tượng. Đối tượng của nhu cầu càng được xác định cụ thể, ý nghĩa của nhu cầu
đối với đời sống cá nhân và đời sống XH càng được nhận thức sâu sắc thì nhu cầu
càng nhanh chóng được nảy sinh, củng cố và phát triển. Đối tượng của nhu cầu
nằm ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu. Bản
thân đối tượng đáp ứng nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan và không tự bộc
lộ ra khi chủ thể tiến hành hoạt động. Khi đối tượng của nhu cầu được chủ thể ý
thức thì nhu cầu thực sự là một sức mạnh nội tại, sức mạnh tâm lý kích thích và
hướng dẫn hoạt động.
Tính đối tượng của nhu cầu được xuất hiện trong hoạt động có đối tượng của
chủ thể. Nhu cầu với tư cách là một năng lực hướng dẫn, điều chỉnh hoạt động khi
được “đối tượng hóa” là điều kiện nảy sinh tâm thế. Với ý nghĩa đó, nhu cầu thực
sự là một cấp độ của phản ánh tâm lý, ở cấp độ này, nhu cầu được phát triển thông
qua sự phát triển nội dung đối tượng của nhu cầu. Đây chính là đặc điểm đặc trưng
của nhu cầu ở con người.
- Nhu cầu có tính ổn định: Trong xu thế vận động, nhu cầu có thể xuất hiện
lặp đi lặp lại (thông thường ở mức độ cao hơn) khi sự đòi hỏi gây ra nhu cầu tái
hiện. Tính ổn định của nhu cầu được thể hiện bởi tần số xuất hiện một cách thường
xuyên, liên tục. Tính ổn định của nhu cầu thể hiện ở cấp độ cao của nhu cầu: cấp độ
tâm lý, nhu cầu là một thuộc tính tâm lý. Nhu cầu càng phát triển ở mức độ cao thì
càng ổn định, càng bền vững.
- Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quy
định. Kết quả nghiên cứu của Đacuyn cho thấy: Nếu chỉ dùng một loại lá cây để
nuôi một loại sâu thì sau này con sâu đó không ăn loại lá cây khác, mặc dù loại lá
cây đó rất thích hợp cho việc nuôi sống nó. Mọi nhu cầu đều là hình thức đặc biệt
của sự phản ánh những điều kiện sống bên ngoài.
+ Ý định: là mức độ cao nhất của nhu cầu. Lúc này chủ thể đã ý thức đầy đủ
cả về đối tượng cũng như cách thức điều kiện nhằm thỏa mãn nhu cầu; xác định rõ
khuynh hướng của nhu cầu và sẵn sàng hành động. Ở mức độ ý định, nhu cầu đã có
hướng và đã được động cơ hóa, xuất hiện tâm thế sẵn sàng hành động.
4
- Căn cứ vào tính tích cực, nhu cầu biểu hiện ở ba mức độ: lòng ham muốn,
lòng say mê, đam mê.
Lòng mong muốn là mức thấp nhất, là nhu cầu có cường độ rất yếu ớt, chưa đủ
sức mạnh để thúc đẩy con người hoat động, hoặc có thì cũng rất mờ nhạt, dễ bỏ cuộc
giữa chừng. Nếu đó là những mong muốn đúng đắn thì chúng ta cần khơi gợi, khuyến
khích để nó nâng cao, trở nên mạnh hơn, rõ hơn. Nếu là những nhu cầu không lành
mạnh thì cần phải tìm cách ngăn chặn, chuyển hướng nó sang khía cạnh tích cực.
Lòng say mê là mức độ thứ hai với cường độ khá mãnh liệt của nhu cầu. Nó
có sức mạnh lớn lao thúc đẩy con người hoạt động tích cực, hăng hái, nhiệt tình.
Lúc này, nhu cầu đã chuyển hóa thanh tình cảm khá mãnh liệt, khiến cá nhân yêu
thích, say sưa với đối tượng của nhu cầu. Tuy nhiên, ở mức độ này, hoạt động vẫn
còn chịu sự chỉ huy sáng suốt của tư duy và lý trí vẫn kiểm soát được tình cảm.
Nếu là nhu cầu chân chính, ta nên khuyến khích, giúp đỡ để nhu cầu để thỏa mãn
và phát triển cao hơn. Ngược lại, với nhu cầu sai trái ta cần điều chỉnh, ngăn chặn.
Đam mê là nhu cầu ở mức độ rất cao, vượt ngưỡng và gắn bó với đối tượng
tới mức không thể thiếu, bất chấp ngoại cảnh, thậm chí mất đi sự soi sáng của lý trí.
1.1.4. Sự hình thành nhu cầu
Quan điểm về sự hình thành nhu cầu có điểm khác nhau giữa các nhà TLH
phương Tây và các nhà TLH Macxit.
Các nhà TLH phương Tây cho rằng nhu cầu sinh vật sẽ quyết định nhu cầu
XH. Nhu cầu sinh vật là cơ bản và có nguồn gốc bẩm sinh, con người không thể ý
thức và can thiệp được bằng ý chí.
A.N. Leonchiev và các nhà TLH Macxit khẳng định mối quan hệ chặt chẽ
giữa nhu cầu và hoạt động: “Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực của hoạt
động, nhưng bản thân nhu cầu lại được nảy sinh, hình thành và phát triển trong
Nhu cầu chính là nguồn gốc, động lực thúc đẩy hoạt động và là một trong những
động cơ mạnh mẽ thúc đẩy chủ thể hoạt động nói chung và thực hiện các hành vi ý chí
nói riêng. Nhu cầu này được thỏa mãn, kích thích bị dập tắt, đồng thời xuất hiện nhu
cầu mới với những kích thích mới. Trong mỗi con người đều tồn tại một hệ thống nhu
cầu. Nhu cầu nào lớn hơn sẽ chi phối các nhu cầu khác và “đòi” con người phải đáp ứng
nhu cầu đó. Trong cùng một thời điểm, con người không thể thỏa mãn được đầy đủ các
nhu cầu. Nhu cầu bao gồm những thang bậc, trình độ khác nhau làm cơ sở cho sự tồn
tại, phát triển của con người. Có nhu cầu tích cực, thúc đẩy con người phát triển theo
6
hướng tích cực. Nhu cầu tiêu cực kìm hãm sự phát triển, đưa con người đến sự suy
thoái.
Nhu cầu thể hiện xu hướng có sự lựa chọn, các ý nghĩ, các rung cảm, và ý
chí của con người. Nó quy định các hoạt động XH của cá nhân và các nhóm XH.
Nhu cầu sống và phát triển của cá nhân và các nhóm XH là một tất yếu. Nhu cầu
xuất hiện, con người “đòi” phải được thỏa mãn. Quá trình “đòi” thỏa mãn nhu cầu
là quá trình thôi thúc con người hành động hướng tới sự phát triển toàn diện.
1.2. Khái niệm kĩ năng sống
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của
UNICEF (1996) “GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh
thiếu niên trong và ngoài trường”. Quan niệm về KNS trong chương trình này chỉ
bao gồm những KNS cốt lõi như: KN tự nhận thức, KNGT, KN xác định giá trị, KN
ra quyết định, KN kiên định, KN đặt mục tiêu … hướng vào các chủ đề GD.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về KNS, có thể kể tới một số quan niệm sau:
* Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc (viết tắt là
UNESCO) có quan niệm coi KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các
chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày, đồng thời coi KNS gắn với 4 trụ
cột của giáo dục, đó là: Học để biết (Learning to know); Học để làm (Learning to
do); Học để chung sống với người khác (Learning to live together); Học để tự
khẳng định (Learning to be).
* Tổ chức y tế thế giới (viết tắt là WHO) từ góc độ sức khỏe xem KNS là
cho người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ, và các KN thích hợp GDKNS có
mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụ động, có thể
gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực, chuyển thành hành vi mang tính xây dựng
tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát
triển bền vững cho xã hội.
GDKNS cho người học thông qua 2 con đường cơ bản:
- Xây dựng và thực hiện các chương trình KN chuyên biệt ( hệ thống các chủ
đề) cho từng đối tượng với mục tiêu cụ thể.
- Tiếp cận KNS trong toàn bộ quá trình GD và đào tạo.
1.3.2. Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho SV
- Giáo dục khả năng thích ứng của con người trước những thay đổi liên tục
của cuộc sống hàng ngày để họ chủ động và sáng tạo trong mọi hành động.
8
- Giáo dục năng lực tư duy sáng tạo, phê phán và năng lực tự đánh giá bản
thân, tự khẳng định mình.
- Giáo dục cách sống với người khác mình.
- Giáo dục về bảo vệ môi trường và sự an toàn của trái đất.
- Giáo dục về sức khỏe và phòng chống các tệ nạn xã hội.
- Giáo dục lối sống lạc quan yêu đời.
Việc xác định nội dung giáo dục kĩ năng sống căn cứ vào đặc điểm tâm sinh
lý của đối tượng, môi trường sống, nhu cầu giao tiếp, khẳng định bản thân, v.v…
1.4. Sinh viên và Nhu cầu giáo dục kĩ năng sống của sinh viên
1.4.1. Sinh viên và các đặc điểm tâm lý của sinh viên
Sinh viên là người đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng. Thuật ngữ
sinh viên có nguồn gốc từ tiếng La – tinh “Student” có nghĩa là người học tập, làm
việc tìm kiếm tri thức. Sinh viên là nhóm xã hội có vai trò, vị trí đặc biệt là nguồn bổ
sung lực lượng lao động có trình độ cao cho đất nước. Học đại học khác rất nhiều so
với học ở trường phổ thông. Vì vậy, tâm lý của người sinh viên đã có sự thay đổi.
* Đặc điểm nhận thức của sinh viên trong học tập
Lứa tuổi sinh viên nổi bật ở độ chín của những điều kiện tâm lí trong hoạt
chỗ yếu của đa số sinh viên, chủ yếu là thái độ thiếu tự tin, cách ứng xử thiếu hài
hòa, ngôn ngữ thiếu mạch lạc và nhất là hành vi giao tiếp lúng túng.
Khát vọng muốn trở thành người thành đạt trong công việc là một nét đặc
trưng ở lứa tuổi này, song trong học tập rất nhiều sinh viên thực hiện thiếu kiên trì,
thiếu phương pháp nên kết quả chưa cao. Cố gắng học tập để có kết quả cao, sau
khi ra trường có việc làm ổn định và được ở gần nhà là đặc điểm chung của họ. Có
một vấn đề rất mừng nhưng rất lo là sinh viên rất trung thành với nghề mình đã
chọn, trong khi đó cơ hội có việc làm không phải là 100%. Các em đánh giá cao
những nghề và việc làm có ý nghĩa xã hội và có môi trường giao tiếp xã hội phong
phú, phong cách hiện đại.
* Những thách thức trong cuộc sống của sinh viên
Theo tác giả Dương Tự Đam, sinh viên ngày nay phải thường xuyên đối mặt
với cuộc cạnh tranh gay go, quyết liệt của kinh tế thị trường khu vực và toàn cầu,
mà thực chất là cạnh tranh về tài năng, trí tuệ, con người, trong khi đất nước chúng
ta đang còn ở điểm xuất phát rất thấp cả về cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng,
cả về năng lực khoa học công nghệ, kiến thức kĩ năng cơ bản và kinh nghiệm sản
10
xuất kinh doanh, quản lý nhà nước trong tình hình mới. Vị trí, vai trò ấy, sinh viên
và trí thức trẻ phải có trách nhiệm đảm nhận, để từng bước đưa đất nước tiến lên.
Những khó khăn tâm lý liên quan đến bản thân sinh viên như: chưa nhận
thức rõ ràng về giá trị sống, chưa xác định rõ mục đích và ý nghĩa các hoạt động
của bản thân, nên một số sinh viên có lối sống hưởng thụ, tha hóa đạo đức, lười
học, thiếu tu dưỡng,rèn luyện nhân cách…
Những khó khăn tâm lí liên quan đến các quan hệ với người khác, với xã hội
như: dụt dè, ngại giao tiếp, không xác định rõ lý tưởng của mình trong các mối
quan hệ xã hội.
Những khó khăn liên quan đến công việc như: khó tìm việc làm, hoặc làm
việc do thu nhập cao mà không quan tâm xem bản thân có đáp ứng được nhu cầu
công việc, do tâm lí lây lan của một số sinh viên khi ra trường đã gây tâm lí hoang
mang, lo lắng cho các sinh viên khác. Do vậy, cần giáo dục kĩ năng sống cho sinh
đến kĩ năng sống.
+ Tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa của nhà trường, trung tâm
giáo dục kĩ năng sống.
+ Sinh viên có mong muốn được học KNS ở mức độ cao, tuy nhiên nhu cầu
của các em vẫn chưa được đáp ứng một cách phù hợp.
1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu giáo dục kĩ năng sống cho sinh viên
a. Yếu tố chủ quan
* Yếu tố di truyền, bẩm sinh
Đây là một yếu tố có ảnh hưởng khá rõ đối với các em SV. Không phải đứa
trẻ nào khi sinh ra cũng được may mắn và đầy đủ các đặc điểm về mặt sinh học. Có
những trẻ sinh ra đã bị khuyết tật một bộ phận hay một chức năng nào đó ảnh
hưởng đến khả năng tự nhận thức của các em, đồng thời ảnh hưởng đến việc hình
thành và phát triển những KNS cơ bản cho các em, cần mất nhiều thời gian và kiên
trì hơn. Ngoài ra những yếu tố mang tính tư chất, kiểu thần kinh cũng ảnh hưởng tới
tính cách, khả năng chịu đựng, kiềm chế cảm xúc của các em.
* Năng lực nhận thức
Năng lực nhận thức ở mỗi cá nhân là khác nhau. Do vậy mới có sự chênh
lệch về học lực hay thành tích học tập giữa các HS. Năng lực nhận thức thể hiện
12
ở: khả năng tập trung chú ý, tri giác, năng lực ghi nhớ, thực hiện các thao tác tư
duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa,…)
Năng lực nhận thức còn được thể hiện thông qua lực học của các em. Những em có
khả năng nhận thức tốt thì học lực sẽ cao hơn so với các em chỉ dừng ở mức trung bình.
* Sự phấn đấu, rèn luyện của bản thân:
Mỗi SV phải có sự tích cực, tự giác, chủ động phấn đấu rèn luyện KNS
cho bản thân nếu không mọi tác động sẽ không mang lại hiệu quả. Nếu sinh viên
nào có ý thức phấn đấu, học hỏi thầy cô, bạn bè và mọi người xung quanh thì em
đó có khả năng giải quyết các tình huống một cách tích cực và hiệu quả. Tuy
nhiên, không phải em nào cũng nhận thức được điều này mà nhà trường và gia
đình cần kết hợp giáo dục để các em nhận thức được điều đó.
Trong môi trường xã hội, SV được tham gia các hoạt động mang tính chất
cộng đồng như tham gia lao động công ích, các phong trào đoàn hội,…các em được
tham gia vào những mối quan hệ với nhiều kiểu người khác nhau sẽ ảnh hưởng tới
sự hình thành và phát triển KNS của các em. Môi trường xã hội vừa là nơi chứa
nhiều thuận lợi vừa là nơi chứa đựng những thách thức, tiềm ẩn những nguy cơ lớn
tác động tới nhận thức, tình cảm và hành vi của các em.
Hình thành và phát triển các KNS cho SV là một mục tiêu quan trọng và cần
được áp dụng vào trong các chương trình dạy học và GD ở trường học. Tuy nhiên
áp dụng và triển khai như thế nào thì cần có sự quan tâm, kết hợp của các tổ chức,
cá nhân liên quan. Đó là sự kết hợp giữa lực lượng GD gia đình và nhà trường, sự
hợp tác với các tổ chức quốc tế phi chính phủ để kêu gọi hợp tác, hỗ trợ từ các tổ
chức khác nhau.
2. Thực trạng nhu cầu được giáo dục kĩ năng sống của sinh viên trường ĐHHĐ
2.1. Nhận thức của sinh viên trường ĐH Hồng Đức về kĩ năng sống
Để tìm hiểu quan niệm về KNS của SV trường ĐHHĐ, chúng tôi tiến hành
thu thập các ý kiến của sinh viên thông qua hình thức điều tra bằng phiếu hỏi, kết
quả thu được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.1. Quan niệm về KNS của sinh viên trường Đại học Hồng Đức
ST
T
Các quan niệm
Xã hội
Tự
nhiên
TLGD
KTQTKD Chung
S
L
%
S
1
7
15.
6
0 0 16 8.1
5
KNS là tổ hợp các KN liên quan
đến thể chất – tinh thần của con
người nhằm giúp cá nhân hoàn
thiện và chung sống với mọi
người xung quanh
0 0 0 0 6
13.
3
0 0 6 3
6
KNS là những khả năng tâm lý –
xã hội cơ bản và cần thiết được cá
nhân sử dụng để ứng phó hiệu quả
trước những yêu cầu, thách thức
của cuộc sống hàng ngày nhằm
đảm bảo cho cá nhân hòa nhập và
có một cuộc sống thuận lợi, có ý
nghĩa
4
5
75
3
9
86.
cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức
cuộc sống hàng ngày”. Trong khi đó thứ nhất và quan niệm thứ 2 không có sinh
viên nào lựa chọn.
Xét riêng từng khoa: Đối với quan niệm được sinh viên lựa chọn nhiều nhất
là quan niệm: “KNS là những khả năng tâm lý – xã hội cơ bản và cần thiết được cá
nhân sử dụng để ứng phó hiệu quả trước những yêu cầu, thách thức của cuộc sống
hàng ngày nhằm đảm bảo cho cá nhân hòa nhập và có một cuộc sống thuận lợi, có
ý nghĩa” có sự khác nhau về tỉ lệ % giữa các khoa. Cụ thể: khoa KTQTKD có tới
95.7% sinh viên; khoa Tự nhiên có 86.7% sinh viên; khoa Khoa học xã hội có 75%
sinh viên và 66.7% sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục lựa chọn quan niệm trên.
Quan niệm được sinh viên lựa chọn nhiều thứ 2 là quan niệm “KNS là khả
năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu
quả với nhu cầu và thách thức cuộc sống hàng ngày”. Thể hiện: có 6.7% sinh viên
khoa Khoa học xã hội, 11.1% sinh viên khoa Tự nhiên và 15.6% sinh viên Khoa
Tâm lý- Giáo dục chọn quan niệm này.
Một số quan niệm“KNS là những KN nhằm bảo vệ thiên nhiên, môi trường”
hoặc “KNS gồm các KN nhỏ khác nhau cần thiết giúp con người có cuộc sống an
toàn, khỏe mạnh” không có sinh viên nào lựa chọn.
Theo chúng tôi, quan niệm về KNS đúng nhất là quan niệm “KNS là những
khả năng tâm lý – xã hội cơ bản và cần thiết được cá nhân sử dụng để ứng phó
hiệu quả trước những yêu cầu, thách thức của cuộc sống hàng ngày nhằm đảm bảo
cho cá nhân hòa nhập và có một cuộc sống thuận lợi, có ý nghĩa”. Bởi vì, đây là
quan niệm đã nói lên được bản chất của KNS cũng như vai trò của nó trong cuộc
sống hàng ngày.
Như vậy, phần lớn các em SV đã có những vốn hiểu biết sâu rộng và chính
xác về KNS chủ yếu dựa trên vai trò của nó trong cuộc sống. Trao đổi với các
em về quan niệm KNS, chúng tôi thấy đa số các em đều cho rằng KNS chính là
những khả năng giúp con người vượt qua những khó khăn, thách thức trong cuộc
sống, hòa thuận với anh chị em, bạn bè, học tập tốt hơn,…
16
31.
9
64 32.5
3 Chưa hài lòng
42 70 29
64.
5
27 60 30
63.
8
12
8
65
Tổng
60 100 45 100 45
10
0
47 100
19
7
100
Có thể biểu diễn kết quả nhận thức của SV trường ĐHHĐ về KNS ở bảng số
liệu trên qua biểu đồ 3.1
17
Biểu đồ 2.1. Mức độ hài lòng với KNS hiện có của bản thân sinh viên
trường Đại học Hồng Đức
Chú thích: 1. Rất hài lòng
2. Hài lòng
3.Chưa hài lòng
Kết quả ở bảng 3.2 cho thấy: xu hướng chung của sinh viên trường ĐHHĐ là
Bảng 2.3: Các mức độ nhu cầu được giáo dục KNS của sinh viên trường
Đại học Hồng Đức
T
T
Các mức độ
XH TN TLGD
KTQTK
D
Chung
S
L
%
S
L
%
S
L
% SL %
S
L
%
1 Rất mong muốn
4
8
80
4
0
88.
9
3
0
4
5
10
0
47 100
19
7
10
0
Có thể minh họa kết quả của bảng trên bằng biểu đồ sau:
19
Biểu đồ 2.2. Mức độ nhu cầu được giáo dục KNS của sinh viên trường
Đại học Hồng Đức
Nhìn vào kết quả ở bảng trên chúng tôi thấy: Nhìn chung nhu cầu được giáo
dục KNS của sinh viên trường ĐHHĐ là rất cao. Thể hiện mức độ rất mong muốn
chiếm 84.3% và mức mong muốn chiếm 15.7% trong tổng số sinh viên.
Đối với các khoa nhu cầu được giáo dục kĩ năng sống có sự khác nhau. Mức
rất mong muốn có 80% sinh viên khoa Khoa học xã hội, 88.9% sinh viên khoa Tự
nhiên, 73.3% sinh viên khoa Tâm lý – giáo dục lựa chọn. Mức độ mong muốn có
20% sinh viên khoa Khoa học xã hội, 11.1% sinh viên khoa Tự nhiên và 26.7%
sinh viên khoa Tâm lý – giáo dục lựa chọn mức độ này; không có SV nào trả lời
không mong muốn được giáo dục KNS. Điều này, chứng tỏ vai trò của KNS đối với
các em SV là vô cùng quan trọng. Mặt khác, qua đó chúng ta thấy nhu cầu tham
vấn KNS của sinh viên là rất cao, các em luôn ý thức được việc trang bị kiến thức
KNS sẽ là hành trang giúp các em tự tin và trưởng thành hơn trong cuộc sống.
Để tìm hiểu rõ hơn, chúng tôi tổ chức buổi thảo luận để tìm hiểu sâu hơn vấn
đề nhu cầu tham vấn KNS của các em. Sinh viên khoa KTQTKD đã chia sẻ: “ em
rất mong muốn được tham gia các lớp học chuyên sâu về KNS hoặc các câu lạc bộ
có nhiều chủ đề gắn với KNS, bởi vì em nhận thấy KN giao tiếp, KH ứng phó với
3 163 2.7 4 135 3.0 1 135 3.0 1 129 2.7 4
4 177 3.0 1 127 2.8 3 127 2.8 3 138 2.9 2
5 157 2.6 5 113 2.5 6 110 2.4 7 110 2.6 5
6 112 1.9 9 99 2.2 9 100 2.2 8 104 2.2 9
7 140 2.3 8 105 2.3 8 95 2.1 9 110 2.3 8
8 172 2.9 2 130 2.9 2 111 2.5 6 141 3.0 1
9 145 2.4 7 110 2.4 7 116 2.6 5 119 2.5 6
21
Chú thích:
1.KN xác định mục tiêu
2.KN tự nhận thức
3.KN giao tiếp
4.KN ra quyết định và xử lý các vấn đề
5.KN làm việc nhóm
6 KN lắng nghe và học hỏi những phê bình của người khác
7.Năng động, tự tin và biết thuyết phục người khác
8.KN ứng phó với căng thẳng
9.KN làm chủ và tự đánh giá bản thân
Qua bảng 2.4 chúng ta thấy rằng: Nhìn chung nhu cầu được giáo dục KNS
của sinh viên trường ĐHHĐ là rất cao ở tất cả các KN. Cụ thể:
KN có mức độ mong muốn cao nhất là nhóm KN giao tiếp, KN ứng phó với
căng thẳng, KN ra quyết định và xử lý các vấn đề. Tuy nhiên giữa các khoa có sự
đánh giá khác nhau về mức độ giữa các KN trên. Theo sinh viên khoa Tự nhiên và
khoa Tâm lý giáo dục KN giao tiếp có ( =3.0) và đồng vị trí thứ 1; trong khi đó
KN giao tiếp của khoa KTQTKD và Khoa học xã hội có ( =2.4) xếp vị trí thứ 4,
do đặc trưng của khoa Khoa học xã hội ngôn ngữ của các em bao giờ cũng tốt hơn,
các em có nhiều môn học liên quan đến kĩ năng thuyết trình, nói trước đám đông
nên KN giao tiếp của các em liên tục được rèn luyện và nâng cao.
KN ra quyết định và xử lý các vấn đề là KN có mức độ nhu cầu cao xếp vị trí
thứ 1 đối với khoa Khoa học xã hội ( =3.0); khoa KTQTKD có ( =2.4) và
nhóm được sinh viên đánh giá là rất cần thiết cũng là điều rất dễ hiểu.
Đối với KN làm chủ và tự đánh giá bản thân là những KN mà sinh viên có
nhu cầu tham vấn tương đối cao trên tất cả các khoa với điểm trung bình dao động
từ 2.4 đến 2.6. Tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành buổi thảo luận với
nội dung nhu cầu được giáo dục KNS của sinh viên hiện nay. Hầu hết sinh viên đều
cho rằng giáo dục KNS là điều rất quan trọng và cần thiết và trong buổi thảo luận
23
chúng tôi đã được lắng nghe chia sẽ của các em sinh viên: “ theo em, sinh viên
ngày nay rất cần phải được rèn luyện KN làm chủ bản thân trước mọi tình huống,
vì thực tế đã có nhiều em sinh viên chỉ vì thiếu tính tự chủ, lập trường không vững
vàng do đó đã bị các nhóm bạn xấu lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, dẫn đến những
hậu quả đau lòng” . Em L.T.M (k14 khoa KTQTKD) còn đưa ra dẫn chứng cụ thể:
“Có lẽ các bạn sinh viên vẫn còn nhớ bạn sinh viên L.T.N của trường ta, một bạn
sinh viên có nhiều thành tích cao trong học tập và nghiên cứu khoa học, được thầy
cô bạn bè yêu mến, tuy nhiên chỉ vì bạn không biết nhận thức đúng bản thân mình,
thiếu tính tự chủ mà lao vào con đường nghiện ngập, ma túy và đã phải bỏ cả
mạng sống của mình khi tuổi đời còn quá trẻ”.
2.5. Thực trạng về mức độ tham gia các khóa học về KNS của sinh viên Trường
Đại học Hồng Đức
Cùng với nhu cầu được giáo dục KNS của sinh viên ở mức độ cao, vậy mức
độ tham gia các khóa học về KNS của sinh viên hiện nay được thể hiện như thế
nào? Sinh viên có hào hứng và tham gia đầy đủ không? Trả lời cho câu hỏi này,
chúng tôi cũng tìm hiểu mức độ tham gia khóa học về KNS của sinh viên trường
ĐHHĐ và thu được kết quả thể hiện ở bảng 2.5.
Qua bảng 2.5 chúng ta nhận thấy:
Nhìn chung 100% các em đều nhất trí sẵn sàng tham gia các khoa học về KNS,
điều này chứng tỏ nhu cầu được giáo dục KNS của các em sinh viên là rất cao, tuy
nhiên có 2 xu hướng khác nhau khi trả lời về vấn đề này.
Bảng 2.5: Mức độ tham gia các lớp học về KNS của sinh viên Trường Đại học
Hồng Đức
9
18 38.3 99 50.
3
24
kinh phí
3 Không 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Tổng 60
10
0
45
10
0
45
10
0
47 100
19
7
10
0
Đối với mức Có nhưng còn phải xem xét thời gian, kinh phí đến chiếm tỉ lệ
50.3% trong số sinh viên. Lý giải cho thực trạng trên là do: theo số liệu tham khảo
của phòng Công tác học sinh sinh viên, chúng tôi được biết, sinh viên trường Đại
học Hồng Đức chủ yếu là sinh viên ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, tỉ lệ hộ
nghèo chiếm ¾ trong tổng số sinh viên. Do vậy, ngay những khoản đóng học trên
trường đối với các em cũng còn khó khăn, nên chi phí cho các lớp về KNS là điều
mà các em còn phải suy nghĩ và tính toán. Mặt khác theo các em hiện nay, việc học
tập theo đào tạo tín chỉ đã làm cho lịch học các môn chính khóa kín hết tuần, các em
không thể sắp xếp thời gian tham gia các lớp học về KNS một cách đầy đủ. Tất cả
những lý do trên đã ảnh hưởng đến nhu cầu được giáo dục KNS của các em.