MỞ ĐẦU
Cạnh tranh là vấn đề tất yếu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Trong
cuộc ganh đua đó, các doanh nghiệp sử dụng mọi giải pháp để tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội
bán hàng và cung ứng dịch vụ như: Tuyên truyền, giới thiệu, khuyếch trương hàng hóa
dịch vụ, tổ chức việc bán hàng có giảm giá, có quà tặng… Các hoạt động này được gọi là
xúc tiến thương mại và là quá trình tất yếu mà doanh nghiệp phải tiến hành để đáp ứng nhu
cầu cạnh tranh. Một trong những hình thức xúc tiến thương mại mà ta không thể không kể
tới là hình thức khuyến mại, vậy để tìm hiểu khuyến mại có những hình thức nào được
pháp luật quy định và thực tiễn áp dụng quy định về khuyến mại như thế nào, nhóm em đã
quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu các hình thức khuyến mại và thực tiễn áp dụng” là bài tập
nhóm lần này.
Dù đã cố gắng rất nhiều, song do hiểu biết còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót trong quá trình làm bài, vậy kính mong nhận được sự quan tâm tạo điều
kiện của các thầy cô trong tổ bộ môn giúp chúng em hoàn thiện bài tập của mình.
Chúng em xin chân thành cảm ơn.
NỘI DUNG
1. Khái niệm và đặc điểm của khuyến mại
1. 1.Khái niệm
Các doanh nghiệp nhận thức được rằng muốn thu hút và hướng sự lựa chọn của khách
hàng tới sản phẩm của mình, ngoài việc phải xây dựng một chiến lược kinh doanh cụ thể
thì khuyến mại giữ một vai trò cực kì quan trọng, quyết định đến sự thành bại của doanh
nghiệp. Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, các chủ thể kinh doanh càng nhiều, sự
cạnh tranh càng lớn và khuyến mại trở thành công cụ thiết yếu. Vậy khuyến mại là gì và có
tác dụng như thế nào? Tại sao các thương nhân lại chấp nhận bỏ ra một khoản tiền khổng
lồ cho hoạt động khuyến mại?
Khuyến mại xuất hiện khá muộn ở Việt Nam, chỉ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang
cơ chế thị trường thì loại hình hoạt động đa dạng này mới thực sự được biết đến. Song
hành cùng với nó là các quy định của nhà nước trong Luật thương mại nhằm quản lí, điều
chỉnh cách mối quan hệ phát sinh trong hoạt động khuyến mại, để bảo vệ quyền lợi của
1
người tiêu dùng cũng như đảm bảo cho hoạt động xúc tiến thương mại của các thương
2
nữa đến hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lượng hàng đặt mua… thông qua đó tăng thị
phần của doanh nghiệp trên thị trường.
Khi sử dụng cách thức để xúc tiến thương mại là khuyến mại, thương nhân cũng nhận
thấy đây là một hình thức pháp lý để giúp mình tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán, cung
ứng dịch vụ. Mục đích này xuyên suốt quá trình thương nhân tiến hành khuyến mại, giúp
kích đẩy thương vụ và tìm kiếm cơ hội mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho mình.
2. Quy định về các hình thức khuyến mại và thủ tục khuyến mại
Luật Thương mại 2005 và Nghị định số 37/2006/NĐ-CP đã quy định nhiều hình thức
khuyến mại khác nhau để thương nhân có thể lựa chọn được hình thức phù hợp với mục
tiêu khuyến mại, điều kiện kinh phí… của doanh nghiệp mình nhằm dành thêm cho khách
hàng những lợi ích nhất định. Đó là những lợi ích mà khách hàng có thể sẽ được hưởng
trước, trong và sau khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ do thương nhân cung cấp trong thời
gian khuyến mại. Các hình thức khuyến mại bao gồm:
1. Hình thức đưa hàng hóa mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không
phải trả tiền.
Hàng mẫu đưa khách hàng dùng thử phải là sản phẩm cần được tăng sức mua thông
qua khuyến mại. Hàng mẫu phải là hàng có chất lượng, kiểu dáng như hàng đang bán hoặc
sẽ bán trên thị trường và nó thường có khối lượng nhỏ hơn so với khối lượng thông thường
của sản phẩm.
Hình thức khuyến mại này có ý nghĩa là thương nhân tạo điều kiện cho khách hàng
được sử dụng sản phẩm miễn phí và phải chính là sản phẩm nằm trong chiến dịch xúc tiến
thương mại của thương nhân. Đây có thể xem là cách quảng cáo tốt, gây ấn tượng rất mạnh
đối với khách hàng: dùng sản phẩm để quảng cáo cho chính sản phẩm đó.
Việc đưa hàng mẫu cho khách hàng dùng thử là cách thức khuyến mại đem lại hiệu
quả cao, nhưng cũng là hình thức tốn kém nhất, đòi hỏi thương nhân phải có một tiềm năng
kinh tế lớn và sử dụng phương tiện này một cách hiệu quả. Để áp dụng đạt kết quả cao cần
lưu ý một số điều kiện nhất định:
• Sản phẩm mẫu phải làm cho công chúng yêu thích;
• Sản phẩm đó phải có lợi ích, công dụng không thể thể hiện hết qua các hình thức
Việc pháp luật cho phép sử dụng hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác không chỉ
thúc đẩy hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ mà còn gián tiếp giúp quảng cáo hàng hóa,
dịch vụ cho các thương nhân khác. Qua đó, góp phần khuyến khích sự liên kết, xúc tiến
thương mại, nhằm khai thác tối đa lợi ích của các thương nhân.
4
3. Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá hàng hóa, giá cung ứng dịch
vụ trước đó (hay còn gọi là khuyến mại bằng cách giảm giá).
Đây là hình thức bán hàng giảm giá. Giảm giá là hành vi bán hàng, cung ứng dịch vụ
trong thời gian khuyến mại với giá thấp hơn giá bán, giá cung ứng dịch vụ bình thường
trước đó được áp dụng trong thời gian khuyến mại mà thương nhân đã đăng kí hoặc thông
báo. Ví dụ như điện thoại Avio 2005 giảm giá 18% từ 860.000 đồng xuống 699.000 đồng
trong thời gian khuyến mại… Có thể thấy hình thực khuyến mãi này rất hiệu quả trong việc
tác động tới tâm lí khách hàng. Nó có sức hấp dẫn với những người tiêu dùng mới và lôi
kéo được những người tiêu dùng cũ. Từ đó, sức mua đối với sản phẩm tăng lên.
Tuy nhiên không phải nhà nước thả lỏng cho thương nhân toàn quyền giảm giá. Để làm
cho hình thúc khuyến mãi này không bị lạm dụng thì pháp luật có những quy định: trong
trường hợp khuyến mại bằng hình thức giảm giá thì mực giảm giá trong thời gian khuyến
mại của bất cứ thời điểm nào không được vượt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngay
trước thời gian khuyến mại.
Đối với hàng hóa, dịch vụ được Nhà nước quản lí giá thì việc khuyến mại này được
thực hiện theo quy định của chính phủ. Đối với tình huống này, các thương nhân cũng cần
phải lưu ý về tổng thời gian tiến hành chương trình khuyến mại khong vượt quá 90 ngày
trong một năm, một chương trình khuyến mại cũng không được vượt quá 45 ngày. Đặc
biệt, pháp luật cấm các hành vi lợi dụng hình thức này để bán phá giá nhằm cạnh tranh
không lành mạnh.
4. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để
khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định.
Phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ kèm theo hàng hóa được bán, dịch vụ được
cung ứng là phiếu để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của chính thương nhân đó hoặc
để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của thương nhân, tổ chức khác. Theo các chương
hoặc tách rời với việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của khách hàng. Chẳng hạn như:
chương trình cào trúng thưởng, bật nắp chai trúng thưởng, bốc thăm may mắn. Đây là cách
tạo sức hấp dẫn đối với khách hàng, kích thích tâm lý muốn thử vận may của người tiêu
dùng. Tuy nhiên, nếu không có sự quản lý chặt chẽ từ phía Nhà nước thì rất có thể dẫn đến
sự lừa dối khách hàng để trục lợi.
Hiện nay, pháp luật quy định: việc mở thưởng chương trình khuyến mại mang tính
may rủi phải được tổ chức công khai, theo thể lệ đã công bố, có sự chứng kiến của khách
6