Nghiên cứu tình hình outsourcing tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình outsourcing tại
Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, tác giả đã tích lũy được nhiều
kinh nghiệm bổ ích, ứng dụng các kiến thức đã học ở trường vào thực tế. Để hoàn
thành luận văn này, tác giả đã được sự hướng dẫn giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo
trong Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội và các đồng nghiệp tại Công ty CP Giải
Pháp Công Nghệ VTECOM.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hoàng Ánh – giáo viên
hướng dẫn khoa học, cùng các thầy cô giáo Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
đã tận tâm giúp đỡ trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện
luận văn.
Tác giả cũng xin cám ơn Ban lãnh đạo, các đồng nghiệp Công ty CP Giải
Pháp Công Nghệ VTECOM, bạn bè và gia đình những người đã giành cho tôi điều
kiện tốt nhất trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày ……tháng…… năm 2011
Học viên
Nguyễn Thị Thùy Dương
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KPMG, Inside the Dragon: Outsourcing destinations in China, 2010,
http://www.kpmg.com/cn/en/issuesandinsights/articlespublications/pages/outsourcing
-destinations-201003.aspx 100
Michael Corbett, The Outsourcing Revolution: Why It Makes Sense and How to Do
It Right, Kaplan Publishing 2009 100
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt tiếng Viêt
CNTT Công nghệ Thông tin
CNTT -TT Công nghệ Thông tin – Truyền thông
DN Doanh nghiệp
Chữ viết tắt tiếng Anh

Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp
GDP Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm nội địa
IPR Intellectual Property Rights Quyền sở hữu trí tuệ
IT Information Technology Công nghệ thông tin
ITO
Information Technology
Outsourcing
Outsourcing về Công nghệ Thông
tin
HTML
Hypertext Markup
Language
Ngôn ngữ liên kết siêu văn bản
HTTP
HyperText Transfer
Protocol
Giao thức truyền tải siêu văn bản
KPO
Knowledge Process
Outsourcing
Outsourcing về kiến thức
M&A Merges and Acquisition Mua lại và sáp nhập
R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển
SO Strategic Ousourcing Outsourcing về chiến lược
SOAP
Simple Object Access
Protocol
Giao thức truy cập đối tượng đơn

LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng nổi trội và do đó đã trở thành
môi trường của các cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước trên phạm vi toàn thế
giới. Do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới hiện nay đang chuyển
thành một hệ thống liên kết ngày càng chặt chẽ thông qua các mạng lưới công nghệ
thông tin. Trong bối cảnh đó, outsourcing được sử dụng rộng rãi bởi các tổ chức
trên toàn cầu và được xem như là như “là một trong những công cụ mạnh nhất hiện
nay để xây dựng công ty tốt hơn và nền kinh tế tốt hơn”. (Michael Corbett, 2009).
Với những lợi ích mà outsourcing mang lại, ngày càng có nhiều doanh nghiệp sử
dụng phương thức này trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Outsourcing
đã không chỉ còn là giải pháp tạm thời mà còn là định hướng chiến lược phát triển
của nhiều doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai.
Hiện nay, Trung Quốc là một trong những nước rất thành công trong việc phát
triển outsourcing, thu hút rất nhiều đối tác nước ngoài đầu tư trong lĩnh vực này.
Chỉ thực sự phát triển trong khoảng 10 năm gần đây nhưng outsourcing đã có rất
nhiều đóng góp trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội của Trung Quốc.
Tại Việt Nam, outsourcing cũng đã có những bước hình thành và phát triển từ
năm 2000, và đạt được những kết quả nhất định trong việc phát triển các doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ outsourcing đặc biệt là về outsourcing phần mềm. Tuy
nhiên, quá trình phát triển của outsourcing từ đó đến nay vẫn chưa thực sự đạt được
những kết quả nổi bật và tương xứng với những tiềm năng mà chúng ta có. Do vậy,
việc tìm hiểu kinh nghiệm từ Trung Quốc là nước đi trước và đã có những thành
công trong phát triển outsourcing có ý nghĩa thiết thực về lý luận và thực tiễn đối
với Việt Nam. Chính vì vậy, tác giả đã chọn vấn đề: “Nghiên cứu tình hình
outsourcing tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu của luận văn.
2.Tình hình nghiên cứu
Hiện nay đã có nhiều bài viết về outsourcing nhưng đa số mới chỉ dừng ở mức
1

mới chỉ phân tích hoạt động outsourcing trên góc độ về outsourcing công nghệ
thông tin đặc biệt là outsourcing phần mềm của Việt Nam.
2
Cho đến nay chưa có đề tài luận văn nào nghiên cứu về tình hình outsourcing
tại Trung Quốc từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Vì vậy có thể
nói rằng đề tài có kế thừa một số vấn đề thuộc cơ sở lý luận về outsourcing nhưng
không trùng lắp với những đề tài đã nghiên cứu.
3.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình outsourcing của Trung Quốc, luận văn rút ra
những bài học kinh nghiệm từ đó đưa ra những biện pháp thích hợp đối với Việt
Nam để phát triển hoạt động outsourcing trong thời gian tới.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu tình hình outsourcing của
Trung Quốc từ đó phân tích những nguyên nhân thành công của sự phát triển
outsourcing tại Trung Quốc
Phạm vi nghiên cứu: Quá trình phát triển outsourcing tại Trung Quốc trong
khoảng thời gian từ những năm 1980 đến năm 2010. Tuy nhiên để làm rõ thêm nội
dung nghiên cứu, luận văn có cập nhật thêm những thông tin về tình hình
outsourcing năm 2011.
Luận văn nghiên cứu kỹ tình hình phát triển của Trung Quốc trong lĩnh vực
outsourcing về công nghệ thông tin, outsourcing về quy trình kinh doanh và
outsourcing về kiến thức tập trung chủ yếu tại 21 thành phố mô hình về outsourcing
tại Trung Quốc.
5.Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử, đã kết hợp với các phương pháp nghiên cứ như: phương pháp tổng hợp,
phân tích các số liệu thu thập từ các bài nghiên cứu, sách báo, Internet để đánh giá
tình hình. Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng kỹ thuật phân tích S.W.O.T và các
phương pháp số lượng hóa qua thống kê, so sánh biểu đồ.
6.Bố cục của luận văn

chiến lược kinh doanh mới, trong đó tập trung vào các giá trị kinh doanh cốt lõi và
thuê các công ty bên ngoài làm các phần còn lại. Hầu hết các công ty không hoàn
toàn tự mình thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh mà
đã thuê các tổ chức bên ngoài thực hiện những chức năng mà họ không có năng lực
5
nội bộ. Một trong những doanh nghiệp đầu tiên thực hiện outsourcing một cách
chính thức là ngành công nghiệp xuất bản. Các nhà xuất bản thường buộc phải tìm
kiếm các bên thứ ba thực hiện các chức năng phụ trợ nhưng không kém phần quan
trọng như khâu nguyên liệu giấy, mực, khâu in ấn… Các nhà xuất bản sẽ ký hợp
đồng với các đối tác thứ ba này để thực hiện các công đoạn này với một chí phí nhất
định trong khoảng thời gian xác định. Với việc đó, các nhà xuất bản chỉ cần tập
trung vào công đoạn của quá trình xuất bản như biên tập, chỉnh sửa nội dung …
1.1.1.2 Giai đoạn phát triển
Năm 1989, Eastman Kodak – công ty đa quốc gia lớn của Mỹ đã khiến cả thế
giới sửng sốt khi tuyên bố khoản đã chi trả cho dịch vụ outsourcing trong lĩnh vực
công nghệ thông tin là 250 triệu đô la Mỹ. Với quyết định outsourcing này đã giúp
cho họ đạt được rất nhiều thành công và thu được lợi nhuận khổng lồ. Đây cũng
được coi là một dấu mốc trong lịch sử outsourcing – tạo nên một hiệu ứng Kodak
(“Kodak’s effect) ảnh hưởng rất lớn đến quyết định outsourcing của các doanh
nghiệp trên toàn thế giới sau đó.
Trong giai đoạn này (từ năm 1989 đến 1998), outsourcing chính thức được coi
như là một chiến lược kinh doanh của các công ty (R.Mullin, 1996). Các doanh
nghiệp bắt đầu tập trung vào các biện pháp cắt giảm chi phí, họ áp dụng outsource
ngày càng nhiều hơn những hoạt động cần thiết vận hành công ty nhưng không liên
quan trực đến giá trị kinh doanh cốt lõi vủa mình. Do đó, các công ty bắt đầu ký kết
hàng loạt hợp đồng với những nhà cung cấp dịch vụ kế toán, quản trị nhân sự, xử lý
dữ liệu, truyền thư, bảo vệ và triển khai kế hoạch,… tất cả đều là loại công việc liên
quan đến việc vận hành. Thực tế, outsourcing đã góp phần không nhỏ trong việc
giúp các nhà quản lý cắt giảm chi phí cải thiện tình hình tài chính công ty.
1.1.1.3 Giai đoạn hợp tác phát triển

1.1.2.1 Khái niệm về outsourcing
Hiện nay, phần lớn các quốc gia trên thế giới đều sử dụng từ gốc
“outsourcing” mà không dịch sang ngôn ngữ bản địa. Chính vì thế, trong bài luận
văn của mình, người viết cũng sử dụng thuật ngữ gốc này để bảo đảm tính chính
xác và tính bao hàm rộng của nó. Cùng với quá trình phát triển cũng như góc độ
7
tiếp cận, outsourcing được định nghĩa với nhiều cách khác nhau và vẫn chưa có một
khái niệm thống nhất chung. Dưới đây là một số định nghĩa khác nhauvề
outsourcing như:
Theo M.Babu “outsourcing là việc mua dịch vụ hoặc sản phẩm như các linh
kiện sử dụng trong sản xuất ô tô, từ một nhà cung cấp hay sản xuất bên ngoài để
cắt giảm chi phí”(Mohan Babu, 2005)
Theo tổ chức Venture Outsource thì “outsourcing là việc thuê lại một bên thứ
ba thực hiện các hợp đồng hoặc một phần hợp đồng xây dựng một quy trình như
thiết kế hoặc sản xuất sản phẩm” (Venture Outsource, 2007)
Tuy nhiên hiện tại được công nhận và phổ biến hơn cả là định nghĩa của
Stephanie Overby – một chuyên gia nghiên cứu về outsourcing và có rất nhiều bài
viết trên tạp chí CIO Asia và MIS Financial Review:
“Tùy theo từng cách tiếp cận với vấn đề thì cách định nghĩa khác nhau về
outsourcing, nhưng xét một cách căn bản thì outsourcing là việc chuyển một
phần dịch vụ cho bên thứ ba”.(Stephen Overby,2006)
Theo định nghĩa trên, outsourcing thực chất là một giao dịch mà qua đó một
công ty ủy thác các dịch vụ, hoạt động cho một công ty khác trong khi vẫn giữ
quyền sở hữu và chịu trách nhiệm cơ bản với những dịch vụ, hoạt động đó. Khái
niệm outsourcing đã được mở rộng hơn rất nhiều không chỉ bao hàm trong lĩnh vực
công nghệ thông tin thông thường mà đã được mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác như
tài chính, kế toán, quản lý nhân sự, nghiên cứu và phát triển các ứng dụng sinh
học “Bên thứ ba” trong định nghĩa mà doanh nghiệp ủy thác dịch vụ thường là
những công ty chuyên về lĩnh vực dịch vụ này, có trụ sở cùng nước sở tại (inshore
outsourcing) hoặc ở một quốc gia khác (offshore outsourcing).

nước với công ty
thuê dịch vụ
Công ty cung cấp
dịch vụ ở trong
nước với công ty
thuê dịch vụ.
Nguồn: http://www.linux.com/archive/feature/34505
Như vậy có thể thấy, điểm khác biệt cơ bản nhất giữa outsourcing với
contracting, offshoring là bên cung cấp dịch vụ. Trong outsourcing, mặc dù vẫn giữ
những mối quan hệ nhất định với bên cung cấp dịch vụ nhưng xét về mặt pháp lý,
và tính chất sở hữu doanh nghiệp thì bên cung cấp dịch vụ hoàn toàn độc lập với
công ty ủy thác. Tuy vậy outsourcing khác với việc mua sản phẩm hoặc dịch vụ đơn
thuần bởi giữa bên ủy thác và bên cung cấp sẽ giữ mối quan hệ thân thiết và bên ủy
thác vẫn giữ quyền sở hữu, trách nhiệm cơ bản đối với dịch vụ khi bên cung cấp
đang tiến hành thực hiện. Và theo Friedmand, cả ba hình thức hợp tác trên đều là
những nhân tố có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hình thành thế giới phẳng
(Thomas L. Friedman, 2004).
1.1.3 Phân loại outsourcing
Outsourcing là một khái niệm bao hàm nhiều lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh
và cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới thì các lĩnh vực hoạt động của
outsourcing ngày càng được mở rộng hơn. Tùy theo mỗi tiêu thức phân loại,
9
outsourcing có thể phân loại thành các loại hình khác nhau. Dưới đây là một số tiêu
thức phân loại outsourcing phổ biến đang được áp dụng trên thế giới hiện nay.
1.1.3.1 Phân loại theo nội dung công việc
Phân loại theo nội dung là tiêu thức phân loại được áp dụng phổ biến nhất đối
với outsourcing. Outsourcing đã và đang được ngày càng áp dụng mở rộng với các
lĩnh vực khác nhau nhưng tựu trung lại có thể phân chia thành 3 loại hình
outsourcing chính sau:
- Outsourcing công nghệ thông tin (ITO–Information Technology

công nghệ thông tin
(Basic IT service)
Tổng hợp các dịch vụ vận hành các cơ
sở hạ tầng thông tin như quản lý hệ
thống thông tin, dịch vụ trung tâm dữ
liệu, dịch vụ an ninh mạng, các dịch vụ
truyền thông…
2. DV phát triển
phần mềm
(Software
Development)
Nghiên cứu và phát
triển phần mềm
(Software R&D)
Tổng hợp các dịch vụ phát triển phần
mềm đóng gói (có thể sử dụng ngay sau
khi cài đặt vào các thiết bị hay hệ thống)
Phát triển phần mềm
tùy chọn(Customized
Software)
Dịch vụ phát triển phần mềm chuyên
dụng theo yêu cầu cụ thể riêng biệt của
từng khách hàng
Phần mềm nhúng
(Embedded Software)
Dịch vụ cài đặt sẵn các phần mềm vào
thiết bị và được sử dụng cùng thiết bị mà
không cần sự cài đặt của người sử dụng
Phần mềm địa
phương

outsourcing sẽ nhận cung cấp nguồn nhân lực cần thiết cho việc vận hành và quản
lý thiết bị và phần mềm của khách hàng. Vào cuối những năm 1980, outsourcing
quản lý trang thiết bị đặc biệt phát triển và phổ biến khi có sự thiếu hụt lớn về đội
ngũ nhân viên CNTT có năng lực cần thiết để quản lý vận hành trung tâm dữ liệu.
Đối với hình thức này, khả năng linh hoạt về công nghệ cao còn khả năng linh
động của nhân lực thấp.
3.Outsourcing tích hợp hệ thống: là việc bên cung cấp dịch vụ outsourcing sẽ
nhận vai trò quản lý việc lắp đặt và vận hành hệ thống CNTT phức tạp của bên ủy
thác sao hệ thống này được thống nhất và có thể liên kết với hệ thống thông tin
trong các tổ chức đó. Vì hiện nay hoạt động liên kết hệ thống CNTT giữa các tổ
chức khác nhau ngày càng trở nên phổ biến nên hình thức hợp đồng này càng được
sử dụng nhiều hơn. Đối với hình thức này, khả năng linh hoạt về công nghệ và nhân
lực ở mức trung bình.
- Outsourcing quy trình kinh doanh (BPO- Business Process Outsourcing)
Outsourcing quy trình kinh doanh là việc chuyển giao một số quy trình trọng
tâm hoặc không trọng tâm trong hoạt động của công ty cho một nhà cung cấp dịch
vụ bên ngoài. Nhà cung cấp dịch vụ này sẽ chịu trách nhiệm cải tiến các quy trình
và quản lý các chức năng đó theo tiêu chuẩn chất lượng đã được hai bên thỏa thuận
12
trước, thông thường với mức chi phí thấp hơn so với việc công ty tự tiến hành các
hoạt động đó bằng nguồn lực của mình.
Các quy trình kinh doanh thường được các công ty tiến hành làm thuê bên
ngoài có thể là dịch vụ khách hàng, tài chính kế toán, nhập và xử lý dữ liệu hay
quản lý nguồn nhân lực và tuyển dụng. Theo chức năng hoạt động, BPO được phân
chia thành 2 loại: Outsourcing hậu cần (Back office service) và Outsourcing tiếp
xúc trực tiếp với khách hàng (Front office service). Dưới đây là bảng phân loại chi
tiết BPO theo chức năng hoạt động
Bảng 1.3 : Phân loại BPO theo chức năng hoạt động
Các dịch vụ
tiếp xúc

- Nhận phản
hồi
- Xử lý séc,
thẻ tín
dụng, thẻ
ghi nợ.
- Thu mua
trực tiếp và
gián tiếp.
-Quản lý
phương tiện
vận tải.
- Hậu cần
và xuất
hàng.
- Quản lý
kho bãi.
- Quản lý
kỹ thuật.
-Phát triển
ứng dụng.
- Kiểm tra
ứng dụng.
- Bàn hỗ
trợ IT
- Dịch vụ
quản lý hóa
đơn.
- Quản lý
tài khoản có

KPO được coi như một hình thức mở rộng phát triển hơn của BPO và phù
hợp với xu hướng phát triển của tương lai bởi các dịch vụ outsourcing trong loại
hình này liên quan đến tri thức cao, đòi hỏi nhiều kỹ năng, trình độ và chuyên môn
hơn. KPO đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân viên có kiến thức chuyên sâu hơn với
hoạt động BPO thông thường. KPO bao gồm các hoạt động điển hình là nghiên cứu
và phát triển, phát triển sản phẩm, quản lý về mặt pháp lý cũng như nhiều chức
năng kinh doanh khác. Các hợp đồng về KPO trên thế giới hiện nay chưa nhiều, tuy
nhiên đang có xu hướng gia tăng về cả số lượng cũng như quy mô hợp đồng. So với
loại hình dịch vụ ITO và BPO, thì KPO được đánh giá là đem lại giá trị thặng dư
lớn nhất bởi những yêu cầu cao khi thực hiện dịch vụ này.
Các hoạt động KPO chủ yếu trên thế giới hiện nay là:
+ Phân tích và khai thác dữ liệu: Bao gồm những hoạt động liên quan đến cơ
sở dữ liệu như điều tra thị trường, thống kê và mô hình hóa kinh tế, mô hình hóa tối
ưu (lợi nhuận, doanh thu), các giải pháp về quản lý chuỗi cung. Những dịch vụ này
cần phải sử dụng các chương trình toán học và phân tích thống kê.
+ Nghiên cứu và phát triển trong ngành dược phẩm và công nghệ sinh học:
Thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu và sáng chế thuốc, sản xuất thuốc.
+ Bảo hiểm: Đánh giá rủi ro và quản lý tài sản, giải quyết khiếu nại và các đơn
bảo hiểm, trung tâm liên lạc, và hỗ trợ khách hàng.
+ Nghiên cứu và cố vấn kinh doanh: Bao gồm nghiên cứu kinh tế, nghiên cứu
công ty và ngành công nghiệp, lưu trữ tài liệu, lập báo cáo tổng hợp, tiếp cận dữ liệu
+ Nghiên cứu về ngân hàng và đầu tư: gồm có tài chính doanh nghiệp, mô
hình hóa và phân tích.
14
+ Nghiên cứu về quyền sở hữu trí tuệ, bằng sáng chế.
Các doanh nghiệp tham gia vào thị trường cung cấp dịch vụ KPO có thể phân
thành 3 nhóm chính:
+ Các doanh nghiệp cung cấp nhiều dịch vụ tích hợp: Đa số những doanh
nghiệp này là những doanh nghiệp đã từng cung cấp các dịch vụ outsourcing khác
như ITO và BPO. Họ có thể đảm nhiệm cung cấp các dịch vụ KPO khác nhau từ

1.1.4.1 Tác dụng tích cực
Outsourcing ngày càng phát triển và được sử dụng phổ biến hơn trên thế giới
bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại. Dưới đây là một số những những lợi ích
lớn mà outsourcing đem lại.
Đối với doanh nghiệp ủy thác dịch vụ:
-Tiết kiệm được chi phí kinh doanh
Các nhà cung cấp dịch vụ outsourcing có thể cung cấp các dịch vụ tương tự
thậm chí tốt hơn các dịch vụ do chính bên ủy thác tự thực hiện với một mức chi phí
thấp hơn. Sự tiết kiệm chi phí này chủ yếu là do sự khác nhau về mức lương giữa
các nơi trên thế giới. Chính vì thế các công ty thường tiến hành áp dụng outsourcing
các lĩnh vực vốn không phải là thế mạnh của mình, từ đó các công ty này sẽ ít phải
quan tâm hơn tới những lĩnh vực này đồng thời tránh được việc lãng phí nguồn
nhân lực hay chi phí quản lý cho bộ máy hoạt động kém hiệu quả.Việc sử dụng
những nhân viên hợp đồng có trình độ cao từ các nhà cung cấp chuyên nghiệp sẽ
giúp họ tiết kiệm chi phí đáng kể so với tái thiết một hệ thống vận hành riêng trong
công ty. Hơn nữa, với việc lựa chọn các công ty cung cấp dịch vụ outsourcing thích
hợp, doanh nghiệp có thể tiết kiệm chi phí về thuế.
Đây chính là lợi ích lớn nhất mà các doanh nghiệp ủy thác dịch vụ outsourcing
nhận được đồng thời cũng là nhân tố quan trọng để xem xét quyết định có nên tiến
hành outsourcing một dịch vụ nào đó hay không.
- Tái cơ cấu chi phí
Khi sử dụng dịch vụ outsourcing, một phần chi phí cố định của doanh nghiệp
ủy thác sẽ chuyển thành chi phí biến đổi từ đó làm thay đổi đòn bẩy tài chính trong
16
doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp phân bổ nguồn lực và tái cơ cấu
chi phí một cách hiệu quả hơn khi và có cơ hội đầu tư nhiều vào các lĩnh vực trọng
yếu và chiếm ưu thế để nâng cao hiệu suất kinh doanh.
- Thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ
Mỗi công ty đều có thế mạnh riêng của mình vì thế một trong những vai trò rất
lớn của outsourcing là giúp cho doanh nghiệp tập trung vào chuyên môn đồng thời

- Tạo nguồn thu nhập cho công ty
Thông qua việc cung cấp các dịch vụ outsourcing, doanh nghiệp sẽ thu được
doanh thu và lợi nhuận từ các công ty ủy thác. Đây chính là nguồn tài chính để công
ty có thể vận hành và tiếp tục phát triển hoạt động kinh doanh của mình
- Học hỏi kinh nghiệm từ các đối tác
Các doanh nghiệp ủy thác dịch vụ outsourcing thường là những doanh nghiệp
có quy mô lớn, có kinh nghiệm chuyên môn trong một lĩnh vực nhất định. Khi tiến
hành thực hiện một dịch vụ outsourcing nào đó, doanh nghiệp này cũng thường phải
đưa ra các yêu cầu của công việc, cũng như những hướng dẫn cần thiết để bên cung
cấp có thể hoàn thành tốt dịch vụ. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sẽ học hỏi,
tiếp thu thêm được rất nhiều những kỹ năng xử lý công việc của đối tác khi tiến
hành cung cấp dịch vụ cho họ.
- Nâng cao chất lượng dịch vụ và chuyên môn hóa
Bản thân các doanh nghiệp khi cung cấp dịch vụ outsourcing phải đáp ứng
được những yêu cầu nhất định đối với dịch vụ đó. Thông qua việc thường xuyên
cung cấp các dịch vụ outsourcing với các đối tác bên ngoài, doanh nghiệp sẽ dần
công ăn việc làm cho người lao động ở các nước cung cấp dịch vụ. Với việc tiến
hành nhận outsourcing, các công ty sẽ có nhiều dự án cần nhiều lao động cả về trình
độ lao động phổ thông hoặc trình độ chuyên môn cao chính vì thế sẽ giải quyết
được một số lượng không nhỏ về công ăn việc làm cho người lao động.
18
Đối với quốc gia có công ty cung cấp dịch vụ outsourcing
- Giảm tỷ lệ thất thất nghiệp trong xã hội
Các công ty cung cấp dịch vụ outsourcing sẽ sử dụng một số lượng lớn lao
động, chính vì thế sẽ tạo công ăn việc làm cho rất nhiều đối tượng đặc biệt là những
lao động trẻ, tri thức.
- Tăng nguồn thu ngân sách
Thông qua hoạt động kinh doanh của các công ty cung cấp dịch vụ
outsourcing sẽ góp phần tăng tổng GDP của quốc gia, đồng thời nhà nước cũng sẽ
tăng nguồn thu ngân sách thông qua các loại thuế mà doanh nghiệp sẽ nộp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status