LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung
thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên.
Hà Nội, ngày …tháng… năm
2013
Người cam đoan
Lương Thị Thanh Vân
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
TCTD : Tổ chức tín dụng
TTCK : Thị trường chứng khoán
CSTT : Chính sách tiền tệ
DTBB : Dự trữ bắt buộc
RRTK : Rủi ro thanh khoản
ALCO : Hội đồng quản lý TSN và TSC
DN : Doanh nghiệp
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
ACB : Ngân hàng TMCP Á Châu
TSN : Tài sản nợ
TSC : Tài sản có
PBOC : Ngân hàng Trung ương Trung Quốc
CCTCPS : Công cụ tài chính phái sinh
CKDT : Chứng khoán đầu tư
DTDH : Đầu tư dài hạn
TGTT : Tiền gửi thanh toán
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
đánh giá hoàn thiện hệ thống quản lý rủi ro thanh khoản tại ngân hàng. Đó là
lý do tôi chọn đề tài:” Rủi ro thanh khoản tại ngân hàng TMCP Á Châu.
Thực trạng và giải pháp” để viết luận văn thạc sỹ kinh tế.
2. Mục đích nghiên cứu luận văn
Trên cơ sở lý luận về rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại, mục
đích của đề tài khóa luận là tập trung làm rõ các vấn đề:
- Hệ thống hóa những vấn đề về rủi ro thanh khoản và quản lý rủi ro
thanh khoản của ngân hàng thương mại để có những căn cứ đánh giá thực
trạng rủi ro thanh khoản tại ngân hàng.
- Phân tích đánh giá thực trạng rủi ro thanh khoản tại NH ACB trong
thời gian quan để đề xuất các biện pháp hạn chế rủi ro thanh khoản tại ngân
hàng TMCP Á Châu.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường công tác hạn chế rủi ro thanh
khoản tại ngân hàng TMCP Á Châu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Thanh khoản và rủi ro thanh khoản, quản lý rủi
ro thanh khoản tại ACB
- Phạm vi nghiên cứu: thanh khoản, rủi ro thanh khoản, thực trạng rủi ro
thanh khoản ngân hàng TMCP Á Châu những năm gần đây.
- Nội dung: Nghiên cứu thực trạng và giải pháp hạn chế RRTK tại NHTM.
- Không gian: Nghiên cứu về quản trị RRTK tại NHTMCP Á Châu.
- Thời gian: Luận văn xem xét thực trạng RRTK và các biện pháp hạn
chế RRTK tại NHTMCP Á Châu trong 3 năm: 2010, 2011, 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học kinh
tế, từ phương pháp duy vật biện chứng và duy vạt lịch sử, đến phương pháp
thống kê, phân tích, tổng hợp, quy nạp…để làm rõ nộ dung nghiên cứu.
2
5. Phương pháp tiếp cận đề tài:
Nghiên cứu các văn bản thuộc quy phạm pháp luật liên quan, các cơ chế
trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của
nền kinh tế hàng hóa đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát
triển của nền kinh tế, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển đến giai đoạn cao
nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và
trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được trong hệ thống tài
chính quốc gia.
Cho đến nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:
Ở Mỹ: “ Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên
cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài
chính”
Ở Pháp: “ Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề
nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức khác,
hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó do chính họ trong
nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng, tài chính”.
Theo luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ban hành năm 2010( điều 4, khoản 3) chỉ rõ: “ Ngân hàng
thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm
mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có
thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật
4
này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm
ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. Cũng
theo Luật các tổ chức tín dụng định nghĩa: “ Tổ chức tín dụng (TCTD) là
doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ
chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức
tài chính vĩ mô và quỹ tín dụng nhân dân”.
Như vậy từ những định nghĩa trên có thể thấy, NHTM là một định chế
tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường mà đặc trưng
là cung cấp các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi,
chưa được sử dụng như: Lợi nhuận chưa phân phối, tiền lương chưa đến hạn
thanh toán, thuế chưa đến kỳ hạn nộp…
* Vốn huy động: Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong số vốn thu hút
từ bên ngoài của các NHTM, gồm: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn,
tiền gửi tiết kiệm… Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là
nguồn vốn quan trọng nhất của NHTM. Đây là nguồn vốn tương đối ổn định
vì ngân hàng nắm được những kỳ luân chuyển của vốn. Vì vậy, ngân hàng có
thể cho vay ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn được.
* Vốn đi vay: Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn
vốn của NTMH. Thuộc loại này bao gồm:
- Vay từ Ngân hàng trung ương (NHTW). Ở Việt Nam NHNN cho
NHTM vay các loại sau:
+ Cho vay bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn: tài trợ vốn theo kế
hoạch, chỉ phân phối cho các NHTM quốc doanh.
+ Chiết khấu và tái chiết khấu.
+ Cho vay bổ sung vốn thanh toán bù trừ của các TCTD.
6
- Vay từ các TCTD khác, vay từ công ty mẹ, vay thị trường tài chính
trong nước, vay nước ngoài…
* Các nguồn vốn khác: Bao gồm vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn
ủy thác để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng, vốn hình thành từ
trong quá trình hoạt động của ngân hàng, ví dụ nghiệp vụ qua lại đồng
nghiệp…
b, Nghiệp vụ sử dụng vốn( Tài sản có- TSC)
Nghiệp vụ TSC của NHTM bao gồm nghiệp vụ liên quan đến việc sử
dụng nguồn vốn của ngân hàng, gồm:
* Nghiệp vụ tiền mặt: Nhằm đảm bảo khả năng thanh toán thường
xuyên, ngân hàng phải luôn giữ một lượng tiền dưới dạng như: Tiền mặt tại
quỹ, tiền kim loại bằng bảng tệ và ngoại tệ. Tiền mặt có khả năng thanh khoản
cao nhưng không có khả năng sinh lời.
tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng, chất lượng tín
dụng phân ra các loại nợ như sau:
Nợ nhóm I: Nợ đủ tiêu chuẩn
Nợ nhóm II: Nợ cần chú ý
Nợ nhóm III: Nợ dưới tiêu chuẩn
Nợ nhóm IV: Nợ nghi ngờ
Nhợ nhóm V: Nợ có khả năng mất vốn
* Nghiệp vụ đầu tư: Là nghiệp vụ mà NHTM dùng vốn của mình mua
các chứng khoán hoặc đầu tư theo dự án. Ở Việt Nam, Luật các tổ chức tín
dụng còn cho phép NHTM dùng vồn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua
cổ phần của doanh nghiệp hay của TCTD khác. Hiện nay NHTM có thể tham
gia đầu tư dưới dạng:
8
- Mua trái phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, tham gia thành lập các
doanh nghiệp khác….Thông thường đây là các khoản đầu tư dài hạn.
- Mua kỳ phiếu, giấy tờ có giá khác do các NHTM khác phát hành. Cá
loại giấy tờ chủ yếu ngắn hạn. Mục tiêu đầu tư là tạo khả năng thanh khoản và
thu nhập.
- Thành lập các công ty trực thuộc như công ty chứng khoán, công ty xử
lý và thu hồi nợ…
* Tài sản cố định và tài sản có khác: Bao gồm những khoản chính sau:
Trụ sở và thiết bị
Bất động sản khác thuộc sở hữu ngân hàng
Tài sản vô hình và tài sản có khác
c, Các nghiệp vụ khác của ngân hàng:
* Bảo lãnh: Bằng uy tín và khả năng tài chính của chính mình, ngân
hàng có thể cung cấp dịch vụ bảo lãnh như bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh
toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và cá hình thức bảo lãnh
khác cho tổ chức và cá nhân. Trong trường hợp, khi ngân hàng thực hiện cam
kết của mình đối với bên nhận bảo lãnh người được bảo lãnh không có hoặc
các tiêu chí sau: Có sẵn lượng để mua hoặc bán, có sẵn thị trường để giao
dịch, có sẵn thời gian để giao dịch, giá cả hợp lý”.
Trong thực tế những tài sản có tính thanh khoản cao gồm các giấy tờ có
giá như: Tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, lệnh phiếu, hối phiếu những
tài sản có tính thanh khoản thấp như bất động sản(BĐS) , dây chuyền sản
xuất, máy móc thiết bị…
Dưới góc độ ngân hàng: “Thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng
đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động
10
giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch
tài chính khác”.
Khả năng và yêu cầu về thanh khoản được thể hiện trong nguồn cung và
cầu thanh khoản:
Cung thanh khoản Cầu thanh khoản
-Nhận tiền gửi từ khách hàng
-Doanh thu từ các dịch vụ
-Tín dụng được hoàn trả
-Bán tài sản
Vay từ thị trường tiền tệ
-Khách hàng rút tiền gửi
-Cấp tín dụng cho khách hàng
-Hoàn trả các khoản đi vay
-Chi phí nghiệp vụ về thuế
-Chi trả cổ tức bằng tiền
Sự khác biệt giữa cung và cầu thanh khoản xác định trạng thái thanh
khoản ròng của ngân hàng( NLP)
Trạng thái thanh khoản ròng= Tổng cung thanh khoản- Tổng cấu thanh khoản
- Nếu NLP> 0: Ngân hàng phải đối mặt với thặng dư thanh khoản, cần
xác định nên đầu tư khoản thặng dư thanh khoản này như thế nào cho đến khi
cần sử dụng để đáp ừng nhu cầu thanh khoản trong tương lai.
vay vốn trên thị trường với điều kiện không thuận lợi để cải thiện thanh khoản
- Rủi ro thừa thanh khoản- Nguồn vốn thanh khoản cao khả năng sinh lời
thấp. Ngân hàng dự trữ thanh khoản vượt yêu cầu sẽ làm cho thu nhập của
ngân hàng giảm.
Rủi ro tiềm ẩn làm mất cân đối thanh khoản có thể ẩn trong:
- Sự không phù hợp giữa cơ cấu TSN- TSC
- Thay đổi tỷ giá ngoại tệ
- Thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ
- Mức độ ổn định tài sản nợ
- Chất lượng và khả năng biến tấu cơ cấu TSC
12
* RRTK đến từ TSN: phát sinh bất kỳ lúc nào khi người gửi tiền rút tiền
dúng hạn hoặc trước hạn nhưng NHTM không có sẵn nguồn vốn để thanh
toán, chi trả. Với lượng tiền gửi lớn ngân hàng buộc đi vay vốn bổ sung trên
thị trường tiền tệ, huy động vốn với chi phí vượt trội…
* RRTK đến từ TSC: phát sinh liên quan đến việc thực hiện các cam kết,
tín dụng cho vay. Có cam kết tín dụng cho phép người vay vốn tiến hành rút
tiền bất cứ lúc nào theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Ngân
hàng phải đảm bảo đủ tiền ngay lập tức đáp ứng nhu cầu khách hàng nếu
không sẽ phải đối diện với việc mất uy tín trên thị trường , thậm chí đối mặt
với việc mất khả năng thanh toán. Ngân hàng phải HĐV mới với chi phí cao
hoặc bán tài sản với giá thấp.
* RRTK từ hoạt động ngoại bảng: RRTK đến từ hoạt động ngoại bảng
ngày càng tăng. Khi các nghĩa vụ thanh toán bất thường xảy ra: cam kết bảo
lãnh, thanh toán các hợp đồng kỳ hạn…Khi đó ngân hàng sẽ phải đối diện với
RRTK nếu không có kế hoạch chuẩn bị thanh khoản kịp thời.
Đây là các tình huống mà các nhà quản trị điều hành NHTM không bao
giờ muốn bị xảy ra trong quá trình hoạt động. Vì vậy các nhà quản trị ngân
hàng phải quan tâm xây dựng các biện pháp dự phòng để tránh.
b. Những biểu hiện RRTK trong hoạt động kinh doanh NHTM
giao dịch trả cho người môi giới liên quan đến việc bán tài sản.
Thiếu khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng: Cho vay là
một trong những hoạt động quan trọng nhất của NHTM vì hoạt động này tạo
nhiều lợi nhuận nhất và kéo theo các nghiệp vụ khác phát triển. Do đó, khi
ngân hàng không đáp ứng đầy đủ và kịp thời các cam kết tín dụng thì chứng
tỏ ngân hàng đang thiếu nguồn cung thanh khoản
Thường xuyên vay vốn từ ngân hàng trung ương (NHTW): NHTW
14
giữ vai trò là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM. Cho nên, khi một
ngân hàng có dấu hiệu buộc phải đi vay NHTW với khối lượng lớn và thường
xuyên thì ngân hàng đó cần phải xem xét lại chính sách quản lý thanh khoản
của mình để lấy lại niềm tin của công chúng.
Nếu như xuất hiện bất cứ một dấu hiệu thị trường nào nêu trên đây mà
không có các biện pháp củng cố khả năng thanh khoản kịp thời thì nguy cơ
ngân hàng đó rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản là không nhỏ. Các
nhà quản trị ngân hàng cần phải tập trung xem xét lại một cách các chính sách
và thực tiến công tác quản lý thanh khoản của ngân hàng để giải quyết xem
những thay đổi gì cần phải thực hiện để cải thiện khả năng thanh khoản và lấy
lại niềm tin nơi công chúng
1.2.2. Các chỉ tiêu đo lường RRTK
Theo Peter Rose, tác giả cuốn Commercial Banking Management, trong
những năm gần đây, một số phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản đã
được phát triển bao gồm: Phương pháp tiếp cận nguồn và sử dụng thanh
khoản; phương pháp cung cầu thanh khoản; phương pháp chỉ số thanh khoản
và một số phương pháp khác. Mỗi phương pháp nêu trên đều được xây dựng
dựa trên một số giả định là ngân hàng chỉ có thể ước lượng gần đúng mức cầu
thanh khoản thực tế tại một thời điểm nhất định. Đó chính là lý do vì sao nhà
quản lý thanh khoản phải luôn sẵn sàng điều chỉnh mức dự tính về yêu cầu
thanh khoản mỗi khi ngân hàng nhận được thông tin mới
a) Phương pháp tiếp cận vốn và sử dụng vốn
+ Nguồn vốn nóng: Vốn vay và tiền gửi nhạy cảm với lãi suất howacj
dự tính sẽ bi rút khỏi ngân hàng trong kỳ kế hoạch.
+ Nguồn vốn kém ổn định: Các khoản tiền gửi của khách hàng trong đó
16
có một phần đáng kể(25-30%) sẽ có thể bị rút khỏi NH tại một thời điểm nào
đó trong kỳ kế hoạch
+ Nguồn vốn ổn định: ( TG cơ sở hay vốn cơ sở) khoản mục vốn mà
các nhà quản trị ngân hàng tin tưởng rằng ít có khả năng bị chuyển khỏi ngân
hàng
-Thứ 2: Xác định yêu cầu thanh khoản cần thiết cho nguồn vốn trên.
Nhà quản lý thanh khoản phải dành riêng một phần vốn thanh khoản tùy théo
những nguyên tắc quản lý đối với mỗi nhóm vốn trên bằng các quy định tỷ lệ
dự trữ thanh khoản cho từng nhóm vốn trên.
-Thứ 3: Xác định yêu cầu dự trữ thanh khoản đối với khoản cho vay
chất lượng. Đối với cho vay, NH luôn phải sẵn sàng thực hiện các khoản cho
vay chất lượng cao vào mọi lúc, nghĩa là đáp ứng nhu cầu tín dụng hợp pháp
của những KH thỏa mán các tiêu chuẩn cho vay của NH đề ra.
-Thứ 4: Xác định tổng yêu cầu thanh khoản của NH. Tổng yêu cầu thanh
khoản của NH được xác định bằng tổng yêu cầu dự trữ thanh khoản vốn và
yêu cầu thanh khoản cho vay:
Tổng dự trữ thanh khoản= Dự trữ thanh khoản vốn+ Dự trữ thanh khoản cho vay
-Thứ 5: Dự đoán yêu cầu thanh khoản một cách chính xác hơn, nhà quản
trị sẽ tiếp tục xây dựng các tình huống trong điều kiện khác nhau và xác định
xác suất xảy ra cho từng tình huống.
c) Phương pháp tiếp cận chỉ số thanh khoản
Sử dụng các chỉ số tài chính cũng là một cách để ước tính yêu cầu thanh
khoản dựa trên kinh nghiệm và mức bình quân ngành. Mỗi chỉ số thể hiện
một khía cạnh về năng lực thanh khoản của ngân hàng:
17
-Tỷ lệ khả năng chi trả
tệ và tài sản trên thị trường tiền tệ, tài sản có thể bán nhanh chóng để đáp ứng
nhu cầu rút vốn từ thị trường tiền tệ.
Tiền nóng là các loại tài sản nhạy cảm với lãi suất thường bao gồm: tiền
mặt, TGKKH, CK chính phủ ngán hạn và các tài sản khác có thể chuyển hóa
thành tiền trong ngắn hạn. Nếu chỉ số tiền nóng của nNH càng cao thì tính
thanh khoản NH càng tốt.
- Tỷ số đầu tư ngắn hạn trên vốn nhạy cảm
Tỷ số DTNH trên vốn nhạy cảm= ĐTNH/Vốn nhạy cảm
Tỷ số này càng cao gợi ý rằng trạng thái thanh khoản của NH càng tốt
- Chỉ số cấu trúc tiền gửi
Chỉ số cấu trúc tiền gửi= Tiền gửi giao dịch/Tiền gửi kỳ hạn
Trong đó tiền gửi giao dịch bao gồm những khoản tiền có thể được rút
thông qua việc phát hành séc. Tiền gửi kỳ hạn có kỳ hạn cố định và phải chịu
phạt nếu KH rút trước hạn. Tỷ lệ này đo lường tính ổn định của cơ sở tiền gửi
mà NH sở hữu. Tỷ lệ này giảm thể hiện tính cao hơn của vốn tiền gửi do đó
yêu cầu thanh khoản sẽ giảm
- Chỉ số (TM+TG tại các TCTD)/Tiền gửi KH
Chỉ số này càng cao càng có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản
nhưng không có hiệu quả kinh doanh cao.
d. Phương pháp thang đáo hạn.
Phương pháp này ngân hàng lên các luồng tiền thanh khoản sau đó phân
loại các luồng tiền được nhận biết và phân biệt các luồng tiền xác định ngẫu
nhiên, cuối cùng lập báo cáo thanh khoản. Từ đó xác định các dòng tiền cộng
dồn, dự trữ vốn khả dụng cộng dồn…
1.2.3. Nguyên nhân & ảnh hưởng rủi ro thanh khoản đến hoạt động
kinh doanh Ngân hàng
a, Nguyên nhân
19
* Nguyên nhân chủ quan:
- Cơ cấu khách hàng và chất lượng tín dụng kém: Ngân hàng tập trung
- Quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc (DTBB): là biện pháp điều chỉnh mà
NHNN bắt buộc các NHTM phải duy trì một tỷ lệ dự trữ tiền gửi tối thiểu tại
NHNN. Nếu tỷ lệ DTBB cao thì nguồn cung thanh khoản của NHTM tăng và
ngược lại.
- Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu: là lãi mà NHTM áp dụng khi
NHNN chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá từ NHTM. Nếu lãi
suất này thấp thì chi phí tiền vay từ NHNN rẻ,biến động lãi suất, tính chất đặc
biệt của ngành kinh doanh tiền tệ đòi hỏi NHTM phải luôn sẵn sàng đáp ứng
nhu cầu thanh khoản
* Những nhân tố khác làm gia tăng RRTK cho NHTM: Điều này đã từng
xảy ra đối với NHTM Cổ phần Á Châu năm 2003 khi có tin đồn Tổng giám
đốc ACB bỏ trốn khách hàng đã ồ ạt kéo đến các điểm giao dịch ACB rút
tiền. Mặc dù là tin đồn thất thiệt nhưng việc rút tiền đồng loạt của khách hàng
đã gây khó khăn trầm trọng cho ACB. NHNN đã phải hỗ trợ hàng trăm tỷ
đồng đe ACB có đủ nguồn vốn chi trả cho khách hàng.
b. Ảnh hưởng của RRTK đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
RRTK là rủi ro nguy hiểm nhất của ngân hàng, có liên quan đến sự sống
còn của ngân hàng. Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo đáp
ứng được các nhu cầu thanh toán trong hiện tại, tương lai và các nhu cầu
thanh toán đột xuất. Một khi RRTK xuất hiện thì nó không chỉ ảnh hưởng đến
bản thân NHTM mà còn ảnh hưởng đến cả một nền kinh tế - xã hội
Đối với ngân hàng thương mại
Thứ nhất, nếu RRTK xảy ra, tùy mức độ nghiêm trọng, NHTM có thể
phải chịu:
21