NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI - Pdf 27

I - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI.
1 – Khái niệm nhượng quyền thương mại.
Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn, bất kì khái niệm nào cũng
đều có những cách hiểu khác nhau. Trên thế giới đã có nhiều định nghĩa về NQTM
được đưa ra dựa trên quan điểm cụ thể của các nhà làm luật tại mỗi nước.
Tuy nhiên, tựu chung lại thì NQTM hiểu theo nghĩa chung nhất là việc một Bên
độc lập (Bên nhận) phân phối (marketing) sản phẩm, hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu
hàng hóa, các đối tượng khác của các quyền sở hữu trí tuệ, và hệ thống kinh doanh
đồng bộ do một Bên khác (Bên giao) phát triển và sở hữu; để được phép làm việc này,
Bên nhận phải trả những phí và chấp nhận một số hạn chế do Bên giao quy định.
Tại điều 284 luật thương mại 2005, pháp luật Việt nam đã lần đầu tiên đưa ra
một định nghĩa chính thức về NQTM theo đó: “Nhượng quyền thương mại là hoạt
động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự
mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ
chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá,
tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh,
quảng cáo của bên nhượng quyền;
2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong
việc điều hành công việc kinh doanh”.
2 – Đặc điểm của hoạt động NQTM
Theo như khái niệm ở trên thì NQTMcó những đặc điểm sau:
a. Về chủ thể
Chủ thể của quan hệ NQTM bao gồm bên nhượng quyền và bên nhận quyền.
Các chủ thể này có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, là công dân trong nước hoặc người
nước ngoài. Trong thực tế đa số các bên tham gia quan hệ NQTM là thương nhân. Tuy
nhiên, cũng có khi họ không phải là thương nhân, đặc biệt là khi NQTM diễn ra trong
lĩnh vực nông nghiệp, thủ công và hành nghề tự do ( Ví dụ: hoạt động của nhà tư vấn
về hôn nhân được thực hiện bởi một bên nhận quyền). Có thể có hai bên hoặc nhiều
bên tham gia vào quan hệ NQTM. Bên nhượng quyền và bên nhận quyền có tư cách
pháp lý độc lập với nhau và tự chịu trách nhiệm đối với những rủi ro trong hoạt động

hợp đồng NQTM còn thường có các quy định về việc ấn định giá bán cho
các thành viên của hệ thống NQTM, các quy định ràng buộc bên nhận quyền
nhằm duy trì tính đặc trưng và uy tín của hệ thống NQTM. Những quy định
này của hợp đồng NQTM thường dẫn Bản chất
Trong thời gian trước đây ở Việt Nam nhượng quyền thương mại được
coi như là một dạng hoạt động chuyển giao công nghệ và chịu sự điều chỉnh
của luật về chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên về bản chất nhượng quyền
thương mại và chuyển giao công nghệ là hai hoạt động khác biệt. Nhượng
quyền thương mại chính là việc nhượng quyền kinh doanh kèm theo đó là uy
tín, nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu, biểu tượng kinh doanh
cũng như các kiến thức, bí quyết kinh doanh dây truyền thiết bị công nghệ cho
một thương nhân. Trên cơ sở đó thương nhân nhận quyền thương mại phát triển
một cơ sở kinh doanh mới, một cơ sở có thể bán, sản xuất kinh doanh một loại
hàng hóa nhất định hoặc cung cấp các dịch vụ có cùng chất lượng, hình thức,
phương thức phục vụ như thương nhân nhượng quyền và dưới thương hiệu của
thương nhân nhượng quyền. Hay nói cách khác “nhượng quyền thương mại là
hoạt động thương mại nhằm mở rộng hệ thống kinh doanh của bên nhượng
quyền thông qua việc chia sẻ quyền kinh doanh trên cùng một thương hiệu cho
bên nhận quyền”. Ngược lại chuyển giao công nghệ thực chất là việc chuyển
giao các kiến thức kỹ thuật từ người có kiến thức cho một người khác, trên cơ
sở đó người nhận kiến thức khai thác các giá trị của công nghệ sản xuất ra hàng
hóa sản phẩm theo ý kiến chủ quan của mình chứ không phải theo một khuôn
mẫu, quy định nào từ phía bên chuyển giao công nghệ. Xuất phát từ sự khác
biệt về bản chất đó, cho nên khi sử dụng các văn bản pháp luật về chuyển giao
công nghệ điều chỉnh việc nhượng quyền thương mại đã tạo ra một số vấn đề
bất cập trong thực tiễn, nhận thức được những vấn đề bất cập đó, đồng thời để
đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cuộc sống và tiến trình hội nhập, Luật
Thương mại 2005 đã chính thức bổ sung thêm một số hoạt động thương mại
vào phạm vi điều chỉnh đó là nhượng quyền thương mại. Đây là chế định góp
phần hoàn thiện pháp luật về thương mại nói chung và nhượng quyền thương

phẩm, thương hiệu càng được nâng cao, giá trị vô hình của công ty càng lớn sẽ
mang lại nhiều thuận lợi cho bên nhận quyền khi sử dụng nhãn hiệu, thương
hiệu của bên nhượng quyền. Và như thế cả bên nhượng quền và bên nhận quyền
ngày càng thu được nhiều lợi nhuận từ việc áp dụng hình thức kinh doanh
nhượng quyền.
+ Hạn chế khả năng cạnh tranh của các đối thủ.
* Đối với bên nhận quyền:
+ Tận dụng được nguồn lực, tiết kiệm được chi phí và thời gian trong việc
xây dựng một mô hình kinh doanh đào tạo đội ngũ quản lý hay xây dựng một
thương hiệu trên thị trường.
+ Giảm thiểu rủi ro: Mục đích chủ yếu của nhượng quyền chính là giảm
thiểu rủi ro. Việc mở cửa hàng, cơ sở kinh doanh mới có rất nhiều rủi ro và tỷ lệ
thất bại cao. Lý do chính của tỷ lệ thất bại cao là do người quản lý là những
người mới bước vào nghề, không có kinh nghiệm và phải mất nhiều thời gian
cho việc học hỏi các đặc trưng riêng của từng loại hình kinh doanh. Khi tham
gia vào hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền sẽ được huấn luyện, đào tạo và
truyền đạt các kinh nghiệm quản lý, bí quyết thành công của các loại hình kinh
doanh đặc thù mà bên nhượng quyền đã tích luỹ được từ những lần trải nghiệm
trên thị trường tức là họ kinh doanh theo một mô hình quản lý có sẵn. Bên nhận
quyền không phải trải qua giai đoạn xây dựng và phát triển ban đầu. Bên
nhượng quyền sẽ hướng dẫn bên nhận quyền các nguyên tắc chung.
+ Được mua nguyên liệu, sản phẩm với giá ưu đãi: bên nhượng quyền luôn
có những ưu đãi đặc biệt về cung cấp sản phẩm, nguyên liệu cho bên bên nhận
quyền. Do đó, bên nhận quyền được mua sản phẩm hoặc nguyên liệu với khối
lượng lớn theo một tỷ lệ khấu hao đầy hấp dẫn. Giá của các sản phẩm, nguyên
liệu đầu vào thấp sẽ là một trong những lợi thế cạnh tranh lớn. Nếu trên thị
trường có những biến động lớn như việc khan hiếm nguồn hàng thì bên nhượng
quyền sẽ ưu tiên phân phối cho bên nhận quyền trước. Điều này giúp cho bên
nhận quyền ổn định đầu vào, tránh được những tổn thất từ biến động thị trường.
+ Rất phù hợp với những thương nhân có quy mô kinh doanh vừa và nhỏ vì

Tại Nhật Bản, nhượng quyền thương mại phát triển mạnh từ năm 1996, đến
năm 2004 đã có 1.074 hệ thống nhượng quyền thương mại và 220.710 cửa
hàng nhận quyền thương mại, doanh thu từ công nghệ nhượng quyền thương
mại là khoảng 150 tỉ USD, tăng trưởng hàng năm 7%.
Từ năm 1980, nhượng quyền thương mại vào Trung Quốc. Đến năm 2004,
nước này đã có 2.100 hệ thống nhượng quyền (nhiều nhất thế giới), với
120.000 cửa hàng nhượng quyền trong 60 lĩnh vực khác nhau. Biểu đồ tăng
trưởng hoạt động nhượng quyền của Trung Quốc dựng đứng kể từ khi nước này
gia nhập WTO. Từ năm 2000, tại Trung Quốc, bình quân mỗi năm hệ thống
nhượng quyền tăng 38% vượt xa mức tăng trưởng 10%/năm của hàng tiêu
dùng, các cửa hàng nhận nhượng quyền tăng 55%. Đặc biệt, hệ thống nhượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status