Nghiên cứu những nhân tố tác động đến chất lượng Thông Tin Kế Toán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương - Pdf 27

Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Minh Hà

i

MỤC LỤC
1 Lý do nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Cơ sở lý thuyết 3
5.1 Thông tin và chất lượng thông tin 3
5.2 Các quan điểm về thông tin kế toán 5
5.2.1 Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ - FASB 5
5.2.2 Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế - IASB 7
5.2.3 Quan điểm hội tụ IASB - FASB 8
5.2.4 Quan điểm của chuẩn mực kế toán Việt Nam 10
5.3 Các nghiên cứu trước về các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin kế toán 11
5.3.1 Nghiên cứu của S. H. Badloe (2011) 11
5.3.2 Nghiên cứu của Ahmad Al-Hiyari và ctg (2013) 12
5.3.3 Nghiên cứu của Rapina (2014) 12
6 Phương pháp nghiên cứu: 13
6.1 Phương pháp nghiên cứu: 13
6.2 Mô hình nghiên cứu 14
6.2.1 Mô hình đề xuất: 14
6.2.2 Các giả thiết nghiên cứu 18
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Minh Hà

ii


Nắm chắc TTKT không chỉ là công cụ đắc lực cho việc kiểm soát, điều hành và ra
quyết định của các cấp quản lý bên trong và bên ngoài tổ chức mà còn đóng vai trò ngày
càng quan trọng trong việc phối hợp hoạt động và nâng cao hiệu quả tác nghiệp của các
bộ phận chức năng. Thông tin chính xác, kịp thời được cung cấp từ hệ thống thông tin kế
toán sẽ hỗ trợ một cách tích cực các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định và quản lý
doanh nghiệp. Ngược lại, thông tin được cung cấp mà thiếu chính xác sẽ là nguyên nhân
gây ra một chuỗi các vấn đề phức tạp trong doanh nghiệp.
Trong xu hướng hiện nay, vấn đề chất lượng thông tin kế toán đang ngày càng được
quan tâm. Với các vai trò cung cấp thông tin nêu trên, thông tin kế toán có ảnh hưởng trực
tiếp lên chất lượng và hiệu quả quyết định của người sử dụng thông tin. Hiện nay, trên thế
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Minh Hà Nhóm thực hiện: nhóm 4B 2

giới đã tồn tại nhiều tiêu chuẩn để kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin, ví dụ ITIL
ver 3 – ITSMF 2007 hay CobiT 4.1 (ITGI – 2007) – giới thiệu một cách rộng rãi về các
ứng dụng kiểm soát hệ thống thông tin. Tuy nhiên, vẫn chưa có một tiêu chuẩn cụ thể nào
đề cập về chất lượng của thông tin kế toán. Nắm bắt được tầm quan trọng của TTKT tôi
lựa chọn đề tài “Nghiên cứu những nhân tố tác động đến chất lượng TTKT của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu, đánh giá và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng thông tin kế toán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Thủ
Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Để thực hiện được mục tiêu đó, đề tài nghiên cứu cần tìm
hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán.
Tóm lại, đề tài nghiên cứu này có những mục tiêu sau:
Thứ nhất, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán.
Thứ hai, Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin kế toán
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

mong đợi của người sử dụng thông tin”. Trong một tình huống lý tưởng sẽ không có sự
khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt được. Việc đo lường chất lượng thông tin
có tính cảm tính và sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt được càng nhỏ thì
chất lượng thông tin càng cao” (Eppler and Wittig, 2000). Tuy các định nghĩa và quan
điểm của các nhà nghiên cứu về chất lượng thông tin có sự khác nhau, nhưng chúng đều
có 1 số đặc điểm chung, đó là: Chất lượng thông tin hay chất lượng dữ liệu tùy thuộc cảm
nhận của người sử dụng thông tin. Nó có nhiều đặc tính (hay tính chất) khác nhau tùy
thuộc vào quan điểm triết lý của người sử dụng hay nghiên cứu và nó cần được xem xét
trong bối cảnh (hay ngữ cảnh) cụ thể của người sử dụng thông tin (Knight and Burn,
2005). Điều này có thể được lý giải rõ ràng rằng cùng một thông tin như nhau nhưng với
người này cho rằng thế là tốt nhưng với người khác lại không phù hợp. Hoặc cùng một
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Minh Hà Nhóm thực hiện: nhóm 4B 4

thông tin như nhau, nếu được lấy từ nguồn là giấy tờ, báo chí thì người sử dụng có thể
cảm thấy tin tưởng hơn là lấy từ trên mạng vì khó kiểm chứng nguồn gốc dữ liệu. Kết quả
tổng hợp và phân tích từ những nghiên cứu chất lượng thông tin cho thấy các tiêu chuẩn
chất lượng thông tin thường bao gồm:
- Kịp thời hoặc hiện hành. Một số nghiên cứu mô tả kịp thời là khái niệm thông tin
được cập nhật kịp thời, mô tả được tính hiện hành của thông tin. Một số khác định nghĩa
kịp thời là việc giao kết quả xử lý nhanh, kịp thời tới người sử dụng.
- Có thể truy cập hoặc có thể đạt được.
- Khách quan.
- Phù hợp
- Chính xác.
- Nhất quán
- Đầy đủ.
- Dễ dàng sử dụng;

Theo quan điểm của FASB, chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính được chia
làm 2 nhóm đặc điểm bao gồm: (1) Đặc điểm cơ bản gồm thích hợp và đáng tin cậy; và
(2) nhóm các đặc điểm thứ yếu là nhất quán và có thể so sánh được. FASB cũng đưa ra
các hạn chế của chất lượng thông tin là vấn đề: cân nhắc chi phí – hiệu quả; trọng yếu và
thận trọng.
- Thích hợp. Thông tin kế toán thích hợp là thông tin giúp người ra quyết định
(người sử dụng) có thể thay đổi quyết định của mình. Nó phải bao gồm:
o Có giá trị dự đoán hay đánh giá. Thông qua việc dự đoán hay đánh giá lại các dự
đoán trong quá khứ, người ra quyết định có thể thay đổi các tiên đoán trước đó và do đó
có thể thay đổi quyết định của mình.
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Minh Hà Nhóm thực hiện: nhóm 4B 6

o Kịp thời: là một đặc tính hỗ trợ cho tính thích hợp của thông tin. Kịp thời được
hiểu là thông tin phải sẵn sàng cho người quyết định trước khi thông tin này bị mất khả
năng ảnh hưởng tới việc ra quyết định.
- Đáng tin cậy. Thông tin kế toán đáng tin cậy là thông tin trình bày trung thực,
không có sai sót hoặc thiên lệch và trong phạm vi có khả năng kiểm chứng.
o Trình bày trung thực. Việc đánh giá để tạo thông tin và việc diễn đạt thông tin kế
toán phải phù hợp với nghiệp vụ hoặc sự kiện muốn trình bày.
o Có thể kiểm chứng. Có thể kiểm chứng là khả năng đồng thuận giữa những người
đánh giá có đủ năng lực và độc lập để đảm bảo thông tin tài chính phù hợp với với nghiệp
vụ hoặc sự kiện muốn trình bày hoặc phương pháp đánh giá tạo thông tin không có sai sót
hoặc thiên lệch.
o Trung lập hay khách quan. Yêu cầu thông tin phải khách quan, không được thiên
lệch để tạo ra một kết quả đã định trước hay chịu ảnh hưởng của một tác động cá biệt nào
đó nhằm tô vẽ hình ảnh thông tin để tác động lên quyết định theo một hướng đặc biệt nào
đó.

chính. Tuy nhiên thông tin về một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định
thì không được loại trừ ra khỏi báo cáo tài chính dù nó khó hiểu đối với một số đối tượng
sử dụng báo cáo tài chính.
- Thích hợp. Thông tin được coi là thích hợp khi nó giúp người đọc đánh giá quá
khứ, hiện tại (tính xác nhận), tương lai (tính dự đoán) hoặc xác nhận hay điều chỉnh các
đánh giá trước đây. Tính thích hợp chịu ảnh hưởng của nội dung và tính trọng yếu thông
tin.
- Đáng tin cậy. Đáng tin cậy là đặc điểm chất lượng yêu cầu:
o Phản ánh trung thực các sự kiện hay nghiệp vụ cần trình bày.
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Minh Hà Nhóm thực hiện: nhóm 4B 8

o Thông tin cần xem trọng nội dung hơn là hình thức, nghĩa là phải trình bày phù
hợp với bản chất kinh tế chứ không chỉ căn cứ và hình thức pháp lý.
o Thông tin phải trung lập, khách quan.
o Thận trọng. Khi thực hiện một sự xét đoán hay ước tính trong điều kiện chưa rõ
ràng phải đảm bảo sao cho tài sản và thu nhập không bị thổi phồng, nợ phải trả không bị
giấu bớt.
o Thông tin phải đầy đủ trong phạm vi của trọng yếu và chi phí. Một sự bỏ sót
có thể làm thông tin bị hiểu lầm hay sai lệch và do đó sẽ ảnh hưởng đến tính đáng tin cậy.
- Có thể so sánh được. Muốn thông tin so sánh được cần sử dụng nhất quán phương
pháp và thủ tục kế toán qua các kỳ. Việc thuyết minh là cần thiết trong trường hợp doanh
nghiệp thay đổi chính sách kế toán hoặc theo yêu cầu của chuẩn mực.
IASB cũng đưa ra các hạn chế liên quan tới các đặc tính chất lượng thông tin. Nó bao
gồm:
- Sự kịp thời. Thông tin được báo cáo chậm trễ sẽ mất đi tính thích hợp nhưng
ngược lại việc cung cấp thông tin đáng tin cậy phải có thời gian. Vì vậy cần phải cân đối
giữa yêu cầu kịp thời và tính đáng tin cậy của thông tin.

o Tính kịp thời. Thông tin có được cho người ra quyết định trước khi nó mất khả
năng ảnh hưởng với quyết định
o Có thể hiểu được. Liên quan tới việc, phân loại, diễn giải và trình bày một cách rõ
ràng và súc tích.
- Các hạn chế hay giới hạn của chất lượng thông tin
o Trọng yếu. Thông tin nếu có sai sót hoặc trình bày sai nếu ảnh hưởng tới quyết
định của người ra quyết định thì sẽ được coi là thông tin trọng yếu. Trọng yếu được xem
là giới hạn vì nó ảnh hưởng tới tất cả các đặc điểm chất lượng thông tin.
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Minh Hà Nhóm thực hiện: nhóm 4B 10

o Chi phí. Lợi ích của báo cáo tài chính phải biện minh được cho các chi phí của
việc lập báo cáo tài chính trên cả hai phương diện định lượng và định tính.
5.2.4 Quan điểm của chuẩn mực kế toán Việt Nam
Theo chuẩn mực kế toán Việt nam, chất lượng thông tin được trình bày ở nội dung
“các yêu cầu cơ bản đối với kế toán”, bao gồm: (Bộ tài chính, 2002)
- Trung thực. Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên
cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội
dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
- Khách quan. Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng
với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo.
- Đầy đủ. Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan tới kỳ kế toán phải
được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót.
- Kịp thời. Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời,
đúng hoặc trước thời hạn qui định, không được chậm trễ.
- Dễ hiểu. Các thông tin và số liệu kết toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ
ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng. Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo
tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh.

5.3.1 Nghiên cứu của S. H. Badloe (2011)
Theo Luận án của S. H. Badloe (2011) trong việc nghiên cứu “Chất lượng thông tin
kế toán – Một tình huống tại Hà Lan” (trường đại học Erasmus Rotterdam): nghiên cứu
về chất lượng thông tin kế toán tại Hà Lan theo hướng tiếp cận hệ thống chính trị và pháp
lý của nước này, các nhân tố ảnh hưởng tới việc lập báo cáo tài chính, hệ thống chuẩn
mực được áp dụng trước và sau 2005. Tác giả xem xét ba yếu tố là: (1) Hệ thống pháp
luật và chính trị; (2) Phương pháp lập báo cáo tài chính; (3) Chuẩn mực kế toán.
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Minh Hà Nhóm thực hiện: nhóm 4B 12

5.3.2 Nghiên cứu của Ahmad Al-Hiyari và ctg (2013)
Ahmad Al-Hiyari và ctg (2013) nghiên cứu “những nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống
thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế toán: khảo sát tại trường đại học Utara
Malaysia”. Mục đích của nghiên cứu này là để xác định các yếu tố có ảnh hưởng hệ thống
thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế toán từ cách nhìn của sinh viên trường đại
học Utara Malaysia. Tác giả xem xét các tác động của các nhân tố: nguồn nhân lực, chất
lượng dữ liệu và cam kết quản lý đối với hệ thống thống thông tin kế toán và chất lượng
thông tin kế toán. Ngoài ra, nghiên cứu còn xem xét mối liên hệ giữa hệ thống thông tin
kế toán và chất lượng thông tin kế toán. Một cuộc khảo sát của 119 người trả lời được
chọn để thu thập thông tin là để kiểm tra các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả chỉ ra nhân tố
chất lượng dữ liệu, môi trương doanh nghiệp không có ảnh hưởng đáng kể.
5.3.3 Nghiên cứu của Rapina (2014)
Theo một nghiên cứu của Rapina (2014) “Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ
thống thông tin kế toán và chất lượng của nó đến chất lượng thông tin kế toán”. Mục
đích của nghiên cứu này là xác định ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức (cam kết quản lý,
văn hóa tổ chức và cơ cấu tổ chức) đến chất lượng của hệ thống thông tin kế toán và
những tác động của nó đến chất lượng của thông tin kế toán. Các đơn vị phân tích trong
nghiên cứu này là các nhân viên kế toán của 33 doanh nghiệp ở Bandung, Indonesia. Từ

- Bước 2. Sử dụng thống kê mô tả đánh giá trung bình các thành phần nhân tố (hay
nhóm nhân tố ban đầu) nhằm tổng quát ảnh hưởng của các thành phần nhân tố và từng
thành phần chi tiết (từng biến quan sát) tới hệ thống thông tin kế toán của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Phần trả lời về các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu liên quan đến mức độ
quan tâm của đối tượng nghiên cứu. Vì vậy, thang đo thích hợp trong trường hợp này là
thang đo Likert 5 khoảng: từ 1 điểm đến 5 điểm.
Phương pháp chọn đối tượng nghiên cứu vào mẫu là phương pháp phi xác suất.
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Minh Hà Nhóm thực hiện: nhóm 4B 14

6.2 Mô hình nghiên cứu
6.2.1 Mô hình đề xuất:
Như đã phân tích ở trên mô hình đề xuất gồm ba yếu tố ảnh hưởng như sau:

Giải thích các nhân tố trong mô hình.
Nhân tố môi trường pháp lý : (Luật, chuẩn mực, ) và sự quản lý, giám sát việc
tuân thủ các quy định về kế toán của Nhà nước.

Theo khóa luận của Soderstrom và Sun (2007), hệ thống pháp lý của một quốc gia tác
động đến chất lượng thông tin kế toán theo nhiều cách khác nhau. Đầu tiên, hệ thống pháp
lý tác động thông qua hệ thống chuẩn mực kế toán. Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)

pháp luật về kế toán do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, làm cơ sở điều chỉnh
toàn bộ hoạt động kế toán. Hệ thống pháp luật về kế toán VN đã được xây dựng và hoàn
thiện trên cơ sở tiếp cận với các tiêu chuẩn quốc tế, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế
thị trường: Luật Kế toán (2003) đã được ban hành, đến nay đã đi vào thực tế hoạt động
của nền kinh tế, tạo tiền đề cho các quy định pháp quy tiếp tục ra đời và có tác động tích
cực đến kinh tế xã hội. Sự ra đời của Chế độ kế toán doanh nghiệp theo quyết định
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006, là văn bản thể hiện tính đổi mới của hệ thống pháp
luật kế toán VN, được xem là tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán, đã góp
phần nâng cao tính thực tiễn của hệ thống văn bản pháp quy về kế toán, đảm bảo sự quản
lý thống nhất về kế toán trong doanh nghiệp, thời gian qua đã phát huy hiệu quả và góp
phần tích cực vào công cuộc quản lý và phát triển kinh tế đất nước trong quá trình đổi mới
theo cơ chế thị trường. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn
về mặt hạch toán, xử lý các trường hợp cụ thể, lập và trình bày báo cáo tài chính…. nhằm
cụ thể hóa các quy định đã được ban hành trong các nghị định, chuẩn mực và chế độ kế
toán qua đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ kế toán viên, các công ty kiểm toán
trong việc hạch toán, tăng thêm tính minh bạch cho thông tin kế toán.
Trong thành phần nhân tố 1 “môi trường pháp lý”, các biến quan sát là:
PL1: Mức độ tác động của luật kế toán đến chất lượng thông tin kế toán;
PL2: Mức độ tác động của Chuẩn mực kế toán đến chất lượng thông tin kế toán;
PL3: Mức độ tác động của các nghị định hướng dẫn, thông tư hướng dẫn kế toán đến
chất lượng thông tin kế toán.
Nhân tố Hệ thống thông tin kế toán
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Minh Hà Nhóm thực hiện: nhóm 4B 16

Hệ thống thông tin được xác định như một tập hợp các thành phần được tổ chức để
thu thập, xử lí, lưu trữ, phân phối và biểu diễn thông tin và thông tin trợ giúp việc ra quyết
định và kiểm soát trong một tổ chức. Hệ thống thông tin còn giúp các nhà quản lí phân

Một hệ thống thông tin kế toán hiệu quả sẽ cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, hỗ
trợ một cách tích cực các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định và quản lý doanh
nghiệp. Ngược lại, thông tin được cung cấp mà thiếu chính xác sẽ là nguyên nhân gây ra
một chuỗi các vấn đề phức tạp trong doanh nghiệp, trong đó bao gồm các vấn đề về gian
lận và sai sót dẫn đến việc cung cấp thông tin thiếu độ chính xác và không đáng tin cậy.
Trong một khóa luận được thực hiện tại Indiana University Southeast, Tipgos đã chỉ
ra rằng 60% các sai phạm trong kế toán là do lỗi của hệ thống sổ sách quá đơn giản hoặc
việc áp dụng sai các chuẩn mực kế toán (Tipgos, 2002). Các kỹ thuật mới trong phương
pháp kế toán đã làm thay đổi vai trò của HTTTKT, giúp hạn chế và ngăn ngừa tốt hơn các
gian lận và sai sót trong trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó tăng cường
hiệu quả quản lý của doanh nghiệp (Sriram, 1995). Thêm vào đó, khóa luận của Morey
chỉ ra việc thiết kế một hệ thống thông tin kế toán thiếu tính kiểm soát cũng là yếu tố phát
sinh gian lận và sai sót. Vấn đề có thể phát sinh khi một người kiêm nhiều công việc một
lúc hoặc không có các thủ tục kiểm tra chéo kết quả công việc (Morey, 2010). Việc phân
tích tổng hợp các thông tin kế toán có thể hỗ trợ trong việc phát hiện ra các sai phạm và
xử lý kịp thời ngay khi phát hiện ra các dấu hiệu này. Ở góc độ khác, sự phát triển của
công nghệ thông tin cũng đồng thời làm gia tăng các nguy cơ/rủi ro đối với HTTTKT.
Từ quan điểm chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào quá trình tạo ra sản phẩm đó và
những ưu và nhược điểm nêu trên của hệ thống thông tin kế toán, có thể thấy HTTTKT có
ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán được cung cấp. Thành phần nhân tố 2 “Hệ
thống thông tin kế toán của doanh nghiệp”bao gồm các biến quan sát sau:
- HT1: Ý kiến về nhận định HTTTKT doanh nghiệp đang sử dụng tạo ra
thông tin chính xác
- HT2: Ý kiến về nhân định có rất ít thông tin sai sót từ HTTTKT doanh
nghiệp đang sử dụng
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Minh Hà Nhóm thực hiện: nhóm 4B 18


7 Nội dung nghiên cứu
Trong đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về thông tin và chất lượng thông tin kế toán của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP Thủ Dầu Một.
- Nghiên cứu mô hình để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin
kế toán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP Thủ Dầu Một.
- Mô tả nguồn dữ liệu để phục vụ nghiên cứu.
- Kết quả thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP Thủ Dầu Một
- Gợi ý các giải pháp để nâng cao chất lượng thông tin kế toán của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ trên địa bàn TP Thủ Dầu Một
8 Ý nghĩa và hạn chế của đề tài nghiên cứu
8.1 Ý nghĩa của đề tài:
Đề tài khi được hoàn thành sẽ là một tài liệu rất hữu ích cung cấp những yếu tố ảnh
hưởng tới chất lượng thông tin kế toán để các doanh nghiệp có thể nắm bắt được những
điểm mạnh và điểm yếu của chất lượng kế toán tại công ty, cơ sở tiền để cho các nhà kế
toán, giám đốc doanh nghiệp tìm ra nguyên nhân và tìm được phương hướng khắc phục
những điểm yếu nâng cao, hoàn thiện chất lượng kế toán của doanh nghiệp. Mặt khác, các
doanh nghiệp có thể sử dụng kết quả nghiên cứu của đề tài để tham khảo trong quá trình
lập báo cáo.
8.2 Hạn chế của đề tài:
- Số lượng mẫu khảo sát chỉ đạt mức tối thiểu. Vì vậy, chưa thể hiện tính đại diện
một cách đầy đủ.
- Đề tài chưa đo lường được chất lượng thông tin kế toán của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ trên địa bàn TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Minh Hà Nhóm thực hiện: nhóm 4B 20


”, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại
học kinh tế Thành phố HCM.
Rapina. (2014). “Factors Influencing The Quality of Accounting Information System And
Its Implications on The Quality of Accounting Information”. Research Journal of
Finance and Accounting”. Research Journal of Finance and Accounting, Vol.5(2),
pp. 149 – 151.
S. H. Badloe (2011), p. 12 –
37.
Wang, R. Y., Lee, Y. W., Pipino, L. L. & Strong, D. M. (1998). “Manage your
Information as a Product”. Sloan Management Review, Vol 39, pp. 95-105.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status