BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ
Trên đây là bản đánh giá của nhóm 02 về từng thành viên của nhóm trong quá
trình hoàn thành bài thảo luận. Nhóm 02 xin cam kết những đánh giá trên là minh
bạch và chính xác!
STT Họ và tên Mã sinh viên Lớp HC Điểm nhóm
đánh giá
Ghi chú
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
I. Thời gian họp
- Thời gian : Thứ ngày tháng năm 2015
- Địa điểm : Sân nhà U gần thư viện ĐH Thương Mại
II. Thành phần họp nhóm
- Số thành viên có mặt :
III. Nội dung
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
thuế nhập khẩu thông thường) đánh vào sản phẩm nước ngoài được trợ cấp
vào nước nhập khẩu.
Đây là biện pháp chống trợ cấp (còn gọi là biện pháp đối kháng) nhằm vào
các nhà sản xuất xuất khẩu nước ngoài được trợ cấp (thông qua thủ tục điều
tra chống trợ cấp do nước nhập khẩu tiến hành) chứ không nhằm vào chính
phủ nước ngoài đã thực hiện việc trợ cấp (WTO quy định các cơ chế xử lý
khác mang tính đa phương cho trường hợp này).
b)Điều kiên áp dụng
Không phải cứ có hiện tượng hàng hoá nước ngoài được trợ cấp là nước
nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp đối kháng đối với hàng hoá đó.
Theo quy định của WTO thì việc áp dụng các biện pháp đối kháng chỉ có thể
thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, sau khi đã tiến
hành điều tra chống trợ cấp, ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của
cả 03 điều kiện sau:
(i) Hàng hoá nhập khẩu được trợ cấp (với biên độ trợ cấp không thấp hơn
1%);
(ii) Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại
đáng kể hoặc bị đe doạ thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình
thành của ngành sản xuất trong nước (gọi chung là yếu tố “thiệt hại”);
(iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu được trợ cấp và
thiệt hại nói trên;
Theo quy định của WTO, nước nhập khẩu không được tiến hành điều tra
(và không được áp thuế chống trợ cấp) nếu nước xuất khẩu là nước đang
phát triển và có lượng nhập khẩu sản phẩm liên quan ít hơn 4% tổng nhập
khẩu hàng hoá tương tự vào nước nhập khẩu. Là một nước đang phát triển.
c)Cách xác định mức trợ cấp
Để xác định hàng hoá nhập khẩu có được trợ cấp hay không, cơ quan điều
tra nước nhập khẩu sẽ tiến hành tính toán mức trợ cấp của hàng hoá đó.
Phương pháp tính toán chi tiết tuân thủ pháp luật của nước điều tra về vấn đề
này, nhưng về cơ bản theo các hướng dẫn sau:
hợp đặc biệt chỉ được kéo dài tới tối đa là 18 tháng kể từ khi chính thức bắt
đầu điều tra.
Nếu mức trợ cấp thấp hơn mức ngưỡng cho phép hoặc không đủ bằng chứng
thì cơ quan điều tra sẽ chấm dứt điều tra. Mức ngưỡng cho phép là 1% đối
với nước thành viên phát triển, là 2% với nước thành viên đang phát triển và
3% với nước thành viên kém phát triển nhất.
* Nguyên tắc áp dụng thuế chống trợ cấp
- Mức thuế chống trợ cấp không được cao hơn giá trị trợ cấp tính theo đơn vị
sản phẩm
nhập khẩu được trợ cấp;
- Thuế chống trợ cấp phải được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử.
- Nếu có nhà xuất khẩu do thuộc nước xuất khẩu bị áp dụng thuế chống trợ
cấp nhưng trên thực tế đã không được điều tra (vì lý do khác việc từ chối
hợp tác với cơ quan điều tra) thì sẽ được tiến hành điều tra nhanh để xác
định một mức thuế riêng hợp lý.
f) Thời hạn áp dụng và rà soát thuế chống trợ cấp
Thuế chống trợ cấp được áp dụng tối đa là 5 năm kể từ ngày bắt đầu áp dụng
và có thể kéo dài thêm 5 năm nếu thông qua việc rà soát cuối kỳ cho thấy
vẫn cần áp dụng thuế chống trợ cấp.
- Hàng nông nghiệp ít bị đánh thuế chống trợ cấp hơn hàng công nghiệp mặc
dù trợ cấp đối với hàng nông nghiệp lớn hơn nhiều so với hàng công nghiệp.
- Thuế chống trợ cấp thường tập trung trong một số ngành nhất định là các
ngành có côngnghệ thấp, thường các nước đang phát triển có lợi thế cạnh
tranh
Theo quy định của WTO, nước nhập khẩu không được tiến hành điều tra (và
không được áp thuế chống trợ cấp) nếu nước xuất khẩu là nước đang phát
triển và có lượng nhập khẩu sản phẩm liên quan ít hơn 4% tổng nhập khẩu
hàng hoá tương tự vào nước nhập khẩu. Là một nước đang phát triển, Việt
Nam được hưởng quy chế này.
Tuy nhiên, quy định này sẽ không được áp dụng nếu tổng lượng nhập khẩu
* Trình tự và thủ tục áp dụng
Tổng thời gian dành cho một cuộc điều tra trợ cấp không được vượt quá 12
tháng kể từ ngày bắt đầu điều tra cho đến khi đưa ra kết luận cuối cùng,
trong một số trường hợp có thể được xem xét và kéo dài thêm 6 tháng. Thủ
tục bao gồm:
- Hồ sơ đề nghị điều tra có đầy đủ bằng chứng chứng minh 3 yếu tố như quy
định của WTO. MOFCOM phải xem xét tính đại diện ngành của hồ sơ đề
nghị, nội dung và các bằng chứng trong hồ sơ trong vòng 60 ngày.
- MOFCOM sẽ gửi giấy mời tới chính phủ nước xuất khẩu sản phẩm đang bị
xem xét đến để thương lượng về trợ cấp. Một khi đã quyết định điều tra,
MOFCOM sẽ thông báo cho các bên liên quan. - Điều tra chính thức,
MOFCOM tiến hành gửi câu hỏi, chọn mẫu, tổ chức điều trần để các bên
liên quan trình bày ý kiến, điều tra tại cơ sở, v.v để tìm bằng chứng về trợ
cấp và thiệt hại do trợ cấp gây ra. MOFCOM cũng ban hành các Quy tắc
Tạm thời về điều trần trong quá trình điều tra để áp dụng thuế chống trợ cấp.
- Sau quá trình điều tra ban đầu, MOFCOM sẽ đưa ra các kết luận điều tra sơ
bộ riêng rẽ. Căn cứ vào kết luận đó, Uỷ ban Chính sách Thuế thuộc Hội
đồng Nhà nước có thể quyết định áp dụng thuế chống trợ cấp tạm thời.
- Kết luận chính thức sẽ được đưa ra trong vòng 12 tháng kể từ ngày khởi
xướng điều tra, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài thêm 6 tháng. Mức thuế
và thời gian áp dụng thuế theo quy định của WTO. Trong quá trình áp dụng
thuế chống trợ cấp, MOFCOM có thể rà soát lại sự cần thiết phải đánh thuế,
dựa trên những bằng chứng hợp lý mà các bên liên quan đưa ra cũng như
những lý do hợp lý mà MOFCOM tự nhận thấy.
* Một số vấn đề khác
- Cam kết tự nguyện.
Trong quá trình điều tra để đánh thuế chống trợ cấp, MOFCOM có thể xem
xét chấm dứt
hoặc ngừng điều tra nếu nước xuất khẩu sản phẩm trợ cấp đưa ra cam kết
loại bỏ hoặc hạn chế
ngành sản xuất trong nước.
6. Hàng hoá tương tự là hàng hoá có tất cả các đặc tính giống với hàng hóa
bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp hoặc trong trường hợp không có
hàng hóa nào như vậy thì là hàng hóa có nhiều đặc tính cơ bản giống với
hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp.
7. Mức trợ cấp không đáng kể là mức trợ cấp thấp hơn 1% trị giá sản phẩm.
8. Trợ cấp có tính riêng biệt là trợ cấp chỉ áp dụng riêng cho tổ chức, cá
nhân hoặc ngành sản xuất nhất định hoặc trợ cấp chỉ áp dụng cho tổ chức, cá
nhân hoặc ngành sản xuất trong khu vực địa lý nhất định của nước hoặc
vùng lãnh thổ bị điều tra áp dụng biện pháp chống trợ cấp.
b) Điều kiện áp dụng
Điều kiện áp dụng biện pháp chống trợ cấpnhập khẩu vào Việt Nam khi có
đủ các điều kiện sau đây:
Hàng hóa nhập khẩu được xác định có trợ cấp theo quy định tại Điều 3 của
Pháp lệnh này;
- Hàng hoá nhập khẩu quy định tại khoản 1 Điều này là nguyên nhân gây ra
hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước
c)Xác định trợ cấp
Việc xác định trợ cấp được thực hiện theo quy định sau đây:
- Xác định hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam, trợ cấp có tính
riêng biệt và mức độ trợ cấp mà hàng hóa đó được hưởng;
- Tổng giá trị trợ cấp. Cách tính tổng giá trị trợ cấp được quy định như sau:
*Trường hợp trợ cấp là một khoản cấp không hoàn lại thì giá trị trợ cấp
được tính trên cơ sở giá trị trợ cấp thực tế cấp cho tổ chức, cá nhân đó;
* Trường hợp trợ cấp được cấp dưới hình thức một khoản vay thì giá trị
trợ cấp được tính trên cơ sở chênh lệch giữa mức lãi suất phải trả cho khoản
vay đó theo điều kiện thương mại bình thường và mức lãi suất mà tổ chức,
cá nhân thực tế phải trả cho khoản vay đó;
* Trường hợp trợ cấp được cấp dưới hình thức bảo lãnh vay thì giá trị trợ
cấp được xác định trên cơ sở phần chênh lệch giữa mức lãi suất phải trả
* Tác động của hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp trong tương quan với sản
lượng của sản phẩm tương tự sản xuất trong nước. Trường hợp việc xác định
đó không thực hiện được thì tác động này được đánh giá thông qua việc xem
xét sản lượng của một nhóm sản phẩm nhất định hoặc một sản phẩm trong
phạm vi hẹp nhất của sản phẩm tương tự sản xuất trong nước;
- Khi hàng hóa nhập khẩu từ hai hay nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ cùng là
đối tượng điều tra để áp dụng biện pháp chống trợ cấp thì cơ quan điều tra
có thể đánh giá tác động của việc nhập khẩu từ các nước hoặc vùng lãnh thổ
đó khi đã xác định được:
* Tổng giá trị trợ cấp được áp dụng liên quan tới hàng hóa nhập khẩu từ
từng nước hoặc vùng lãnh thổ là đáng kể và khối lượng hàng hóa nhập khẩu
từ mỗi nước hoặc vùng lãnh thổ là đáng kể;
* Điều kiện cạnh tranh giữa hàng hóa nhập khẩu với nhau và điều kiện cạnh
tranh giữa hàng hóa nhập khẩu với hàng hóa do ngành sản xuất trong nước
sản xuất để làm cơ sở hợp lý cho việc đánh giá tác động.
e) Nguyên tắc áp dụng
- Biện pháp chống trợ cấp chỉ được áp dụng ở mức độ cần thiết, hợp lý nhằm
ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.
- Việc áp dụng biện pháp chống trợ cấp chỉ được thực hiện khi đã tiến hành
điều tra và phải dựa trên kết luận điều tra quy định tại Điều 19 và Điều 20
của Pháp lệnh này.
-Biện pháp chống trợ cấp chỉ được áp dụng trực tiếp đối với hàng hoá được
trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam theo quy định của Pháp lệnh này.
- Việc áp dụng các biện pháp chống trợ cấp không được gây thiệt hại đến lợi
ích kinh tế - xã hội trong nước.
f)Thủ tục và quá trình điều tra
Tham vấn
- Trước khi điều tra và trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra có thể tổ
chức tham vấn với các bên liên quan đến quá trình điều tra quy định tại Điều
11 của Pháp lệnh này để tạo điều kiện cho các bên trình bày ý kiến và cung
- Kết luận cuối cùng và các căn cứ chính để kết luận cuối cùng phải được
thông báo bằng phương thức thích hợp cho các bên liên quan đến quá trình
điều tra.
Chấm dứt điều tra
Bộ trưởng Bộ Thương mại quyết định chấm dứt điều tra trong các trường
hợp sau đây:
-Tổ chức, cá nhân có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp tự
nguyện rút hồ sơ;
-Kết luận sơ bộ quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này có một trong những
nội dung sau đây:
*Không có trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam;
*Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá được trợ cấp nhập khẩu vào
Việt Nam không đáng kể;
* Mức trợ cấp không đáng kể;
* Không có thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành
sản xuất trong nước.
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHỐNG TRỢ CẤP
Điều 22. Áp dụng thuế chống trợ cấp tạm thời
1. Sau sáu mươi ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra, căn cứ vào kết luận
sơ bộ, Bộ trưởng Bộ Thương mại có thể ra quyết định áp dụng thuế chống
trợ cấp tạm thời.
2. Thuế suất thuế chống trợ cấp tạm thời không được vượt quá mức trợ cấp
được xác định trong kết luận sơ bộ.
3. Thuế chống trợ cấp tạm thời có thể được bảo đảm thanh toán bằng tiền đặt
cọc hoặc được bảo đảm bằng các biện pháp khác theo quy định của pháp
luật.
4. Thời hạn áp dụng thuế chống trợ cấp tạm thời không được vượt quá một
trăm hai mươi ngày, kể từ ngày có quyết định áp dụng biện pháp này.
5. Bộ trưởng Bộ Thương mại có thể gia hạn áp dụng thuế chống trợ cấp tạm
thời nhưng không quá sáu mươi ngày.
áp dụng thuế chống trợ cấp.
2. Thuế suất thuế chống trợ cấp không được vượt quá mức trợ cấp được xác
định trong kết luận cuối cùng.
3. Thời hạn áp dụng thuế chống trợ cấp không quá năm năm, kể từ ngày có
quyết định áp dụng thuế chống trợ cấp.
4. Thời hạn áp dụng thuế chống trợ cấp có thể được gia hạn trong trường
hợp Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định rà soát việc áp dụng thuế
chống trợ cấp theo quy định tại Chương IV của Pháp lệnh này.
5. Cơ quan điều tra thông báo bằng phương thức thích hợp quyết định áp
dụng hay không áp dụng thuế chống trợ cấp cho các bên liên quan đến quá
trình điều tra.
Điều 25. Áp dụng thuế chống trợ cấp có hiệu lực trở về trước
1. Trường hợp kết luận cuối cùng xác định có thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa
gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước và thuế chống trợ cấp
tạm thời đã được áp dụng trước khi có kết luận cuối cùng thì thuế chống trợ
cấp được áp dụng có hiệu lực trở về trước.
2. Thuế chống trợ cấp được áp dụng có hiệu lực trở về trước đối với hàng
hóa nhập khẩu trong thời hạn chín mươi ngày trước khi áp dụng biện pháp
tạm thời nếu có hai điều kiện sau đây:
a) Hàng hóa nhập khẩu đó được Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ nước
ngoài trợ cấp;
b) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào
Việt Nam tăng nhanh đột biến gây ra thiệt hại khó có khả năng khắc phục
cho ngành sản xuất trong nước.
3. Không truy thu khoản chênh lệch về thuế khi áp dụng mức thuế chống trợ
cấp trong kết luận cuối cùng cao hơn mức thuế chống trợ cấp tạm thời quy
định tại Điều 22 của Pháp lệnh này.
4. Hoàn lại khoản chênh lệch về thuế khi áp dụng mức thuế chống trợ cấp
trong kết luận cuối cùng thấp hơn mức thuế chống trợ cấp tạm thời quy định
tại Điều 22 của Pháp lệnh này.
Mỹ (như đang áp dụng đối với thuế chống bán phá giá).Chính phủ Mỹ sẽ
điều tra tại sao giá tôm Việt Nam khi vào thị trường Mỹ lại thấp hơn
giascuar doanh nghiệp nội đia, chẳng hạn như doanh nhiệp Việt có nhận
được khoản vốn của Nhà nước về lãi suất ưu đãi hay không?
Bộ thương mại Mỹ sẽ gửi bảng câu hỏi về số lượng và gí trị xuất
khẩu cho tất cả các nhà xuất khẩu tôm của Việt Nam mà phía Mỹ có thông
tin. Công ty Việt Nam sẽ được yêu cầu trả lời một cách chính xác và đầy đủ
bảng câu hỏi đó, nộp lại Bộ Thương mại Mỹ theo cách thức phù hợp (trường
hợp không tham gia trả lời bảng câu hỏi, công ty Việt Nam sẽ bị áp đặt mức
thuế chống trợ giá rất cao, có khả năng khiến họ không thể nào xuất khẩu
sang Mỹ).Sau khi các câu trả lời cho bảng câu hỏi số lượng và giá trị xuất
khẩu đã được nộp, Bộ Thương mại Mỹ sẽ chọn 2, 3 hoặc 4 nhà xuất khẩu
Việt Nam lớn nhất làm “bị đơn bắt buộc”. Các bị đơn bắt buộc này sẽ nhận
được bảng câu hỏi chi tiết liên quan đến thuế chống trợ giá từ Bộ Thương
mại Mỹ và phải trả lời bảng câu hỏi đó (cùng với bảng câu hỏi bổ sung, nếu
có), ngoài ra các viên chức của Bộ Thương mại Mỹ sẽ kiểm tra cơ sở của
các bị đơn bắt buộc.
Có 2 cơ quan thụ lý hồ sơ là Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ có nhiệm
vụ điều tra tôm Việt gây thiệt hại vật chất cho ngành công nghiệp nội địa Mỹ
nhiều hay ít và Bộ Thương mại Mỹ sẽ tính toán mức thiệt hại mà tôm Việt
gây ra cho các doanh nghiệp Mỹ ở mức bao nhiêu. Từ đó, chính phủ Mỹ sẽ
áp đặt một khoản thuế chống trợ giá.
- Quyết định sơ bộ về thiệt hại của ITC
Ngày 07 tháng 2 năm 2013, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ
(USITC) đã ra kết luận sơ bộ khẳng định có thiệt hại đối với ngành sản xuất
nội địa Hoa Kỳ do tôm nhập khẩu từ Việt Nam được trợ cấp.
- Quyết định sơ bộ về trợ cấp của DOC
Ngày 29/05/2013, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ra quyết định
sơ bộ khẳng định có trợ cấp đối với tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu từ
Việt Nam, ẤnĐộ, Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc; không có trợ cấp với
cross-owed affiliates (collectively,
the Guolian Companies)
5.76%
Các Doanh nghiệp Trung Quốc
khác
5.76%
Với việc áp thuế suất chống trợ giá lần này của Bộ Thương mại
Mỹ(DOC) tôm Việt Nam phải oằn mình cõng 2 loại thuế khi xuất khẩu sang
thị trường Mỹ
Phản ứng trước mức thuế của Bộ thương mại (DOC) sau khi điều tra
sơ bộ, VASEP khẳng định:” Kết quả sơ bộ này là một sự áp đặt bất công với
các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu tôm Việt Nam trong lúc các doanh
nghiệp đang hoạt động theo cơ chế thị trường, không nhận trợ cấp của Nhà
nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng không nhận được bất kỳ
trợ cấp riêng biệt nào cho ngành tôm trong nhiều năm qua". VASEP yêu cầu
DOC xem xét lại quyết định sơ bộ này và công tâm khi thẩm tra tại chỗ
trong thời gian tới để công nhận ngành Tôm Việt Nam không có trợ cấp khi
quyết định kết quả cuối cùng của vụ kiện chống trợ cấp tôm của Việt Nam.
6- Quyết định cuối cùng về thiệt hại của ITC
Sáng 21/9/2013, theo giờ Việt Nam, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa
Kỳ đã ra quyết định cuối cùng khẳng định tôm nước ấm nhập khẩu từ Việt
Nam và 4 quốc gia khác, cho dù có được chính phủ các nước này trợ cấp hay
không, đều không gây thiệt hại về vật chất hoặc đe dọa gây thiệt hại về vật
chất đối với ngành công nghiệp tôm, do đó không áp thuế chống trợ cấp với
tôm Việt Nam.Vụ kiện chấm dứt mà không áp thuế.
Tuy nhiên, chúng ta cũng không cẩn thận khi thời gian qua công bố về
việc hỗ trợ hóa chất chlorine cho người dân xử ly mầm bệnh, môi trường
nuôi tôm, rồi đề xuất hỗ trợ 20 triệu đồng /1ha tôm chết; kể cả chủ trương ưu
đãi lãi suất 10%/năm cho ngành thủy sản. Về vấn đề này, các doanh nghiệp
53.2% và thuế chống trợ cấp tạm thời là 19%.Dự kiến, CSBA sẽ đưa ra kết
luận cuối cùng về phá giá, trợ cấp vào ngày 03/03/2015 và Tòa án Thương
mại Quốc tế Canada (CITT) sẽ công bố kết luận cuối cùng về thiệt hại vào
ngày 02/04/2015.
- Đinh thép (Steel Nails)
Ngày 19/06/2014, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã ra quyết định khởi
xướng điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối
với sản phẩm đinh thép (Steel Nails) nhập khẩu từ Ấn Độ, Hàn Quốc, Oman,
Malaysia, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.Căn cứ trên đơn kiện do
Công ty Mid Continent Steel & Wire, Inc., một nhà sản xuất sản phẩm đinh
thép của Hoa Kỳ (nguyên đơn) đã đệ trình ngày 29/05/2014 lên Bộ Thương
mại Hoa Kỳ (DOC) yêu cầu cơ quan này khởi xướng điều tra áp dụng biện
pháp chống bán phá giá (AD) và chống trợ cấp(CVD) đối với sản phẩm đinh
thép (steel nails) nhập khẩu từ 07 quốc gia: Ấn Độ, Hàn Quốc, Ô-man,
Malaysia, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.
Sản phẩm bị điều tra: là đinh thép có chiều dài trục không quá 12
inch, các loại đinh thép này bao gồm, nhưng không giới hạn bởi, các loại
đinh được làm từ dây thép (round wire) và đinh được cắt từ tấm (plate), có
mã HS là: 7317.00.55, 7317.00.65 và 7317.00.75.
Giai đoạn điều tra: 01/01/2013-30/12/2013
Ngày 28/10/2014, DOC đã công bố kết luận sơ bộ của vụ kiện.Theo
đó, USDOC xác định Hàn Quốc, Malaysia, Oman và Đài Loan đều có biên
độ trợ cấp dưới mức tối thiểu (de minimis - 2%), riêng Việt Nam chịu mức
biên độ trợ cấp là 8.35% (trừ công ty United Nail ở mức 0.17%).DOC dự
kiến sẽ đưa ra kết luận cuối cùng vào tháng 3 năm 2015.
- Sợi Polyester
Ngày 19 tháng 12 năm 2013, Ủy ban Châu Âu (EC) đã đăng công báo
chính thức khởi xướng điều tra chống trợ cấp đối với sản phẩm sợi Polyester
nhập khẩu từ Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam. Dưới đây là một số thông
tin liên quan đến vụ việc:
- Ống thép hàn cacbon (circular welded carbon-quality steel pipe)
Ngày 26/10/2011, 4 công ty sản xuất ống thép cacbon Hoa Kỳ đã đệ
đơn lên Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) yêu cầu cơ quan này khởi xướng
điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với các sản phẩm ống thép
nhập khẩu từ Việt Nam, Ấn Độ, Oman và Các Tiểu Vương Quốc Ả
Rập.Ngày 15/11/2011, DOC đã ra quyết định khởi xướng điều tra chống bán
phá giá, chống trợ cấp đối với các sản
phẩm ống thép nhập khẩu từ Việt Nam, Ấn Độ, Oman và Các Tiểu Vương
Quốc Ả Rập. Một số thông tin liên quan đến vụ việc:
1. Bên khởi kiện: Công ty Allied Tube and Conduit (IL), JMC Steel
Group (IL), Wheatland Tube (PA), và Công ty thép Hoa Kỳ (PA)
2. Sản phẩm bị điều tra:
Sản phẩm thuộc đối tượng của cuộc điều tra này bao gồm ống và ống
dẫn thép hàn bằng cacbon (“circular welded carbon-quality steel pipe”), có
mã HS như sau:
7306.19.1010, 7306.19.1050, 7306.19.5110, 7306.19.5150,
7306.30.1000, 7306.30.5025, 7306.30.5032, 7306.30.5040, 7306.30.5055,
7306.30.5085, 7306.30.5090, 7306.50.1000, 7306.50.5050, và
7306.50.5070.
3. Kết luận về điều tra phá giá và trợ cấp của DOC:
- Điều tra về trợ cấp:
Ngày 26/03/2012, DOC đã đưa ra kết luận sơ bộ khẳng định có trợ
cấp đối với sản phẩm ống thép Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Ngày
16/10/2012, DOC ra kết luận cuối cùng phủ định có trợ cấp đối với sản
phẩm này nhập khẩu từ Việt Nam. Cụ thể:
Tên Doanh nghiệp
Biên độ trợ cấp
sơ bộ
Biên độ trợ
lệnh áp thuế chống trợ cấp đối với túi nhựa PE Việt Nam trong 5 năm.
3.1 Nguyên nhân các doanh nghiệp Việt Nam bị dính líu vào các vụ kiện
chống trợ cấp.
- Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, tính đến năm 2012, có
28 quốc gia công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường. Tuy
nhiên, trong đó không có Mỹ và nhiều nước châu Âu. Theo các quy định
hiện hành về thuế chống trợ cấp trong pháp luật Mỹ, quốc gia có nền kinh tế
phi thị trường là ở đó các cơ quan quản lý nhà nước không hoạt động dựa
trên các nguyên tắc thị trường về chi phí và cấu trúc giá, vì vậy hoạt động
mua bán hàng hóa ở các quốc gia này không phản ánh giá trị thực của hàng
hóa.
- Các văn bản quy phạm pháp luật áp dụng thuế chống trợ cấp mới chỉ dừng
lại ở quy định “khung”,nguồn tài chính hạn hẹp cho công tác điều tra và
quản lý thuế chống trợ cấp,nguồn nhân lưc trong nước còn thấp và không
được đào tạo bài bản,nhận thức của cơ quan quản lý và doah nghiệp còn chủ
quan và chưa coi trọng biện pháp trợ cấp.
- Công việc tuyên truyền về pháp luật trong thương mại quốc tế được thực
hiện chưa tốt nên dẫn tới tình trạng doanh nghiệp không có những hiểu biết
nhất định về quyền và nghĩa vụ của họ đối với việc tiến hành điều tra áp
dụng thuế chống trợ cấp và nghĩa vụ tham gia thực hiện của họ trong quá
trình xuất khẩu hàng hóa.
- Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa đảm bảo được chế độ ghi chép kế toán
rõ rằng,chưa tuân thủ các tiêu chuẩn kế toán quốc tế,sổ sách kế toán không
minh bạch,số liệu không chính xác dẫn đến việc sai xót trong tính toán biên
độ trợ cấp.
- Về vụ việc Mỹ kiện doanh nghiệp Việt Nam về chống trợ cấp mặt hàng
tôm xuất khẩu :Theo ông Huỳnh Văn Gành, Gíam đốc Sở Công thương tỉnh
Kiên Giang cho biết "chúng tôi chưa rõ DOC (Bộ thương mại Hoa Kỳ) cáo
buộc về trợ cấp những vấn đề nào đối với ngành tôm.Tuy nhiên, chúng ta
kiện thường kéo dài, với những đòi hỏi cao về bằng, lập luận.
- Khi vụ kiện xảy ra cần chủ động yêu cầu được tham gia ( tự giới thiệu
mình trước cơ quan điều tra ), tích cực hợp tác với cơ quan điều tra và
chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng trong quá trình điều
tra để được tính biên độ trợ cấp riêng phản anh đúng hơn thực tế hoạt
động của các doanh nghiệp Việt Nam.
- Không gian lận trong và sau cuộc điều tra trợ cấp để tránh bị trừng
phạt bởi những mức thuế chống trợ cấp rất cao.
- Cần đưa ra các pháp lệnh cũng như hướng dẫn chi tiết thi hành một số
điều lệnh trợ cấp hàng hóa nhập khẩu cũng như xuất khẩu ở Việt
Nam.
- Thành lập các hội đồng xử lí vụ việc chống bán phá giá, trợ cấp và tự
vệ để có thể giải quyết các nhiệm vụ, vụ việc liên quan tới trợ cấp
hàng xuất khẩu
KẾT LUẬN
Trong hơn 20 năm mở cửa thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài,
tham gia vào WTO, xuất khẩu hàng hóa trực tiếp sang các thị trường khác
thì khi dính vào các vụ kiện tụng nói riêng và các vụ kiện liên quan tới trợ
cấp hàng xuất khẩu nói chung thì thị trường nhà nước Việt Nam, cũng như
các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng cần rút ra bài học cho riêng mình. Cần
nhận thức rằng: Kiện tụng,áp thuế suất cao hoặc sử dụng hàng rào kỹ thuật
trong thư ơng mại quốc tế là điều bình thường và các đối thủ cạnh tranh vẫn
thường sử dụng. Hieenjnay nó cũng được dùng như một phương thức bảo hộ
của chính phủ đối với các doanh nghiệp trong nước trước sư lấn át từ các
doanh nghiệp nước ngoài và gành tôm Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Do
đó, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, để tránh dính líu vào các vụ
kiện tụng thương mại, các doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao hiểu biết về
luật thương mại quốc tế có như vậy mới nâng cao vị thế của Việt Nam trên
thị trường thế giới.